Hôm nay,  

Á Châu Điều Chỉnh

29/07/201000:00:00(Xem: 7686)

Á Châu Điều Chỉnh

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Thời kỳ được Hoa Kỳ giúp đỡ để xuất cảng dễ dàng nay đang chấm dứt...

Sau đợt Tổng suy trầm trong các năm 2008-2009 vừa qua, các nền kinh tế hậu công nghiệp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu có thể lại bị đụng đáy lần nữa như Diễn đàn Kinh tế đã trình bày vào cuối tháng trước. Dù nguy cơ ấy còn xa, các nền kinh tế Đông Nam Á vẫn có nhu cầu điều chỉnh chiến lược phát triển để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất khẩu Âu-Mỹ-Nhật nay vẫn chưa ra khỏi tình trạng ảm đạm đầy bất trắc. Chương trình chuyên đề kỳ này sẽ căn cứ vào những lời tuyên bố lạc quan mới đây để đặt lại vấn đề suy trầm lần nữa hay không, rồi tìm hiểu trên một giả thuyết bi quan về việc điều chỉnh ấy để tái lập quân bình về tiêu thụ và tiết kiệm, đầu tư và xuất khẩu. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ trao đổi cùng Việt Long về đề tài này.
Việt Long: Trong chương trình phát thanh hôm 29 tháng trước, ông có nói đến nguy cơ đụng đáy hai lần của các nền kinh tế đã công nghiệp hóa. Nhưng hôm Chủ Nhật vừa qua Bộ trưởng Tài chính Mỹ xác định là hiện tinh kinh tế Mỹ cho thấy sẽ không có chuyện đụng đáy lần thứ hai, nên phải hỏi lại ông, là liệu hiện tượng đụng đáy hai lần có xảy ra vào cuối năm nay hay đầu năm tới, như ông đã trình bày trước đây" Và nếu thật vậy thì kinh tế thế giới có thể lại bị suy trầm nữa không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: -Thưa ông, chẳng ai mong muốn điều ấy, nhất là trong một năm có bầu cử và chính quyền Mỹ đang gây thất vọng về khả năng phục hoạt kinh tế và tạo ra việc làm như đã hứa hẹn. Nhưng nguy cơ đụng đáy hai lần đã ngày càng rõ nét hơn tại Hoa Kỳ và Âu Châu. Thứ Tư vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ ra điều trần trước Quốc hội cũng nói rằng tình hình kinh tế Mỹ, tôi xin trích nguyên văn: "bất trắc một cách bất thường". Ngay trong giả thuyết lạc quan là nạn đụng đáy không xảy ra, giới nghiên cứu kinh tế quốc tế vẫn dự báo là đà tăng trưởng sản xuất của Hoa Kỳ, Âu Châu và cả Trung Quốc sẽ giảm mạnh không chỉ từ cuối năm nay mà trong vòng từ ba năm đến năm năm tới.
- Một cách cụ thể thì sau khi đạt mức tăng trưởng bình quân là 5% trong quý một của năm nay, sản lượng kinh tế toàn cầu sẽ chỉ tăng mỗi năm từ 3,25% đến 3,5% là nhiều. Con số 3,5% ấy là trung bình giữa mức tăng trưởng khá cao của các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Đông Nam Á, san xẻ với mức tăng trưởng cực thấp của khối kinh tế Âu-Mỹ Nhật. Mà tỷ lệ 3,5% này cũng là ngưỡng tâm lý đáng ngại vì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vẫn cho rằng dưới mức này là thế giới bị suy trầm. Nói cách khác, thưa ông, trong năm ba năm tới đây, kinh tế thế giới vẫn chưa ra khỏi suy trầm - "recession".
Việt Long: Trong kịch bản bi quan ấy, ta lại càng phải nói đến cách ứng phó của các nền kinh tế Đông Nam Á và Việt Nam. Chúng ta sẽ tìm hiểu về hoàn cảnh của các nước Đông Nam Á trước đây khi vừa phải điều chỉnh chiến lược phát triển để bớt lệ thuộc vào các thị trường xuất khẩu nay đang co cụm dần, vừa tái lập quân bình vĩ mô sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ vào các thị trường ấy. Vậy bối cảnh chung của việc ứng phó ấy là như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam mới chỉ hội nhập vào kinh tế toàn cầu và trực tiếp bị hiệu ứng quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 nên chưa có kinh nghiệm tự điều chỉnh. Nhưng các nước Đông Nam Á kia thì gặp trận khủng hoảng năm 1997-1998 sau cả chục năm hồ hởi lạc quan nên đã phải tái lập lại quân bình kinh tế và vì vậy họ có nhiều kinh nghiệm hơn. Nhìn một cách nào đó thì lần điều chỉnh này lại y hệt như lần trước, nhưng trong vị trí trái ngược, chính vì vậy mà ta nên nhắc lại để tiếp thu bài học của họ.
Việt Long: Xin ông giải thích điều ấy cho rõ ràng hơn được không" Thế nào là điều chỉnh y như lần trước nhưng lại trong vị trí trái ngược"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chuyện này rất ly kỳ vá đáng chú ý.
- Chẳng là sau khủng hoảng ngoại hối tại Thái Lan đầu Tháng Bảy năm 1997, các nền kinh tế Đông Nam Á đều suy trầm vào năm 1998. Cơn chấn động khiến họ có chính sách cải tổ để tránh những thất quân bình đã gây ra khủng hoảng. Thất quân bình đó là cán cân vãng lai bị hụt, dự trữ ngoại tệ quá mỏng và doanh nghiệp vay mượn để đầu tư quá nhiều. Lý do bị thất quân bình là sự hồ hởi của họ khi dễ dàng tiếp nhận tư bản nước ngoài mà lại không điều tiết được chế độ ngoại hối, cho nên thanh khoản dồi dào của ngân hàng đã thổi lên bong bóng cho đến ngày sụp đổ. Bên kia Thái bình dương, kinh tế Mỹ cũng hồ hởi tiêu thụ mạnh, nhập khẩu nhiều và xài tiền rẻ nhờ nguồn tiền xuất khẩu từ Đông Á chảy qua.
- Hai khối kinh tế ấy nuôi dưỡng nhau trong sự lạc quan của doanh nghiệp và bất cẩn của ngân hàng khiến dòng tiền không chảy đúng chỗ. Khi khủng hoảng bùng nổ, đôi bên đều phải điều chỉnh. Việc điều chỉnh ấy cũng tương tự như hiện nay, cái khác là lần này Hoa Kỳ bị thiếu hụt vãng lai, ngân hàng bất cẩn và bong bóng bị bể như Đông Nam Á 10 năm về trước! Vì vậy tôi mới nói là giống nhau nhưng trong vị trí trái ngược!
Việt Long: Một cách cụ thể thì các nước Đông Nam Á đã làm những gì vào thời đó mà Việt Nam nên học hỏi để có thể áp dụng vào thời này"


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một cách cụ thể thì họ tiết giảm tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp, họ triệt để thanh toán nợ nần bằng ngoại tệ của tư nhân, tức là của doanh nghiệp, họ ra sức tích lũy một dự trữ ngoại tệ dồi dào hơn và kiện toàn hệ thống chi tiêu ngân sách để không bị bội chi dù khủng hoảng không xảy ra vì lý do ngân sách. Về chính sách thì họ cũng tránh không để các đại gia tự do vay mượn và đầu tư mà bất kể rủi ro vì cứ tưởng rằng nếu có gì thì nhà nước sẽ tung tiền chuộc nợ. Một số quốc gia còn đi xa hơn về chiến lược, như Thái Lan từ năm 2003, là phát triển thị trường nội địa để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất khẩu.
- Nhìn lại như vậy thì Việt Nam ngày nay có thể phải áp dụng một số biện pháp chấn chỉnh mà các nước kia đã thi hành 10 năm về trước. Cụ thể là không cho các tổng công ty quốc doanh bừa phứa vay tiền để thực hiện các dự án ảo mà ta nên gọi cho chính xác là "hiệu ứng Vinashin" trong khi dự trữ ngoại tệ của quốc gia lại quá mỏng và kinh tế quá lệ thuộc vào xuất khẩu. Cũng nên nói thêm rằng các nước kia có thể cải cách kinh tế vì có dân chủ. Chính phủ phạm sai lầm và cấu kết với các đại gia thì bị thay thế để chính quyền mới rộng tay thi hành việc cải tổ.
Việt Long: Ông vừa nêu một chi tiết đáng suy ngẫm. Nếu Việt Nam có dân chủ thì một hiện tượng như Vinashin khó xảy ra. Và nếu kinh tế có khủng hoảng thì dân chúng vẫn có thể bầu lên một nội các mới để thẳng tay cải sửa chứ không bao che cho những người đã góp phần gây ra khủng hoảng. Trở lại việc hôm nay, hay nay mai, với viễn ảnh suy trầm toàn cầu thì các nước Đông Nam Á tự điều chỉnh như thế nào và Việt Nam có thể học hỏi gì từ kinh nghiệm của họ"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa mỗi quốc gia lại có một đặc tính và những hoàn cảnh riêng nên việc điều chỉnh của họ cũng đa dạng chứ không là một bài bản thống nhất.
- Hoàn cảnh chung cho cả khối Đông Á là các nền kinh tế tiên tiến đã vay mượn quá nhiều, nay đang phải trả nợ, sẽ tiêu thụ ít đi và tiết kiệm nhiều hơn. Trước viễn ảnh đó, Trung Quốc sẽ phải điều chỉnh vĩ mô theo hướng giảm bớt tiết kiệm, kể cả xả bớt thặng dư vãng lại, gia tăng tiêu thụ và mở rộng thị trường nội địa để lấy tiêu thụ nội địa làm lực đẩy. Bắc Kinh khó thi hành việc điều chỉnh vĩ mô ấy vì dị biệt quá lớn giữa các khu vực địa dư, vì sự cản trở của nhiều đảng bộ địa phương. Và do không điều chỉnh kịp, họ đang gặp khó khăn vì công nhân đình công tự phát để đòi tăng lương. Các xứ Đông Nam Á không bị như vậy. 
Việt Long: Nói cụ thể thì các nước Đông Nam Á ứng phó như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Singapore là một xứ có mức lợi tức xếp vào loại cao của thế giới nhưng có lãnh thổ và dân số cực nhỏ của một trung tâm dịch vụ và chế biến để xuất khẩu. Cho nên họ vẫn không thể từ bỏ chiến lược xuất khẩu mà chỉ điều chỉnh theo hướng xuất khẩu hàng tinh chế hơn và vào các thị trường mới thay vì cứ nhắm vào khối Âu-Mỹ-Nhật.
- Bên kia eo biển Malacca, Indonesia là xứ đông dân nhất Đông Nam Á và có mức lợi tức thuộc loại trung bình thấp thì đã sớm cải tổ và ngày nay có cơ chế kinh tế vĩ mô cân bằng hơn, ít lệ thuộc hơn vào xuất khẩu nên họ đang dồn sức gia tăng mức đầu tư.
- Ở giữa hai thái cực ấy là hoàn cảnh của các nước đông dân gần bằng Việt Nam. Họ có thể nâng mức tiêu thụ nội địa nếu có lợi tức đủ cao và tiết kiệm đủ nhiều, như trường hợp Malaysia, là một nước thuộc loại có lợi tức trung bình cao. Các nước kia là loại có lợi tức trung bình nhưng còn thấp, và kể cả Việt Nam dù chưa lọt vào loại đó, thì chưa thể nghĩ đến nâng mức tiêu thụ mà cần gia tăng đầu tư.
Việt Long: Ông vừa nêu ra một sự chọn lựa để gỡ bí là hoặc nâng mức tiêu thụ nội địa hoặc gia tăng đầu tư. Vì sao lại như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, người dân các nước Đông Á đều có sức tiết kiệm cao hơn các nước giàu có Tây phương. Nhưng trong những năm thịnh đạt trước tổng suy trầm 2008-2009, họ có xu hướng rất bất lợi là thay vì dồn tiết kiệm vào đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ nội địa cho dân chúng được hưởng thành quả của phát triển thì họ lại xuất khẩu tư bản ra ngoài, là đem tiền đầu tư vào các nước công nghiệp hoá, hoặc đưa cho vay để kiếm lời cho an toàn. Bây giờ các nước công nghiệp hoá ấy đang xả bớt nợ nần và không dám vay thêm thì các nền kinh tế Đông Nam Á làm gì với khối tiết kiệm đó của họ" Hoặc là nâng mức tiêu thụ hoặc là gia tăng đầu tư.
Việt Long: Đó có phải là bài toán mà Việt Nam đang phải chọn lựa" Ông nghĩ rằng Việt Nam nên làm những gì khi mà kinh tế thế giới chưa thể tăng trưởng mạnh trong dăm ba năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng Việt Nam nên học kinh nghiệm Đông Nam Á thời 1998 bằng cách quân bình lại cơ cấu vĩ mô và tránh bội chi ngân sách hoặc vay nợ quá nhiều. Thứ hai, nên đầu tư mạnh hơn nhưng có phẩm chất hơn. Đầu tư không chỉ có hạ tầng cơ sở vật chất như cầu đường, vốn cũng rất cần thiết và quá lạc hậu. Hạ tầng cơ sở còn có loại vô hình như giáo dục và đào tạo và luật pháp về kinh doanh. Trước mắt thì việc đầu tư như vậy cũng nâng cao khả năng lưu thông hàng hóa và tiêu thụ nội địa và lâu dài thì sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh. Thời kỳ được Hoa Kỳ giúp đỡ để xuất cảng dễ dàng nay đang chấm dứt và từ nay Việt Nam sẽ còn gặp chuyện ngược là sẽ nhập khẩu nhiều hơn từ Hoa Kỳ vì đã được viện trợ để làm chuyện đó!
- Và trong mọi trường hợp, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên chấm dứt nạn tẩu tán tài sản, là đem tiền ra khỏi nước để kiếm lời cho an toàn hơn! Ngẫm lại mà xem, trong khi cả nước cần người Việt hải ngoại gửi tiền về giúp thì đảng viên cán bộ lại chuyển tiền ra ngoài để kiếm lời, mặc cho hạ tầng cơ sở bên trong bị ruỗng nát, thì chẳng suy trầm suy thoái cũng sẽ bị khủng hoảng!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.