Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Á Châu Điều Chỉnh

29/07/201000:00:00(Xem: 6277)

Á Châu Điều Chỉnh

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Thời kỳ được Hoa Kỳ giúp đỡ để xuất cảng dễ dàng nay đang chấm dứt...

Sau đợt Tổng suy trầm trong các năm 2008-2009 vừa qua, các nền kinh tế hậu công nghiệp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu có thể lại bị đụng đáy lần nữa như Diễn đàn Kinh tế đã trình bày vào cuối tháng trước. Dù nguy cơ ấy còn xa, các nền kinh tế Đông Nam Á vẫn có nhu cầu điều chỉnh chiến lược phát triển để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất khẩu Âu-Mỹ-Nhật nay vẫn chưa ra khỏi tình trạng ảm đạm đầy bất trắc. Chương trình chuyên đề kỳ này sẽ căn cứ vào những lời tuyên bố lạc quan mới đây để đặt lại vấn đề suy trầm lần nữa hay không, rồi tìm hiểu trên một giả thuyết bi quan về việc điều chỉnh ấy để tái lập quân bình về tiêu thụ và tiết kiệm, đầu tư và xuất khẩu. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ trao đổi cùng Việt Long về đề tài này.
Việt Long: Trong chương trình phát thanh hôm 29 tháng trước, ông có nói đến nguy cơ đụng đáy hai lần của các nền kinh tế đã công nghiệp hóa. Nhưng hôm Chủ Nhật vừa qua Bộ trưởng Tài chính Mỹ xác định là hiện tinh kinh tế Mỹ cho thấy sẽ không có chuyện đụng đáy lần thứ hai, nên phải hỏi lại ông, là liệu hiện tượng đụng đáy hai lần có xảy ra vào cuối năm nay hay đầu năm tới, như ông đã trình bày trước đây" Và nếu thật vậy thì kinh tế thế giới có thể lại bị suy trầm nữa không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: -Thưa ông, chẳng ai mong muốn điều ấy, nhất là trong một năm có bầu cử và chính quyền Mỹ đang gây thất vọng về khả năng phục hoạt kinh tế và tạo ra việc làm như đã hứa hẹn. Nhưng nguy cơ đụng đáy hai lần đã ngày càng rõ nét hơn tại Hoa Kỳ và Âu Châu. Thứ Tư vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ ra điều trần trước Quốc hội cũng nói rằng tình hình kinh tế Mỹ, tôi xin trích nguyên văn: "bất trắc một cách bất thường". Ngay trong giả thuyết lạc quan là nạn đụng đáy không xảy ra, giới nghiên cứu kinh tế quốc tế vẫn dự báo là đà tăng trưởng sản xuất của Hoa Kỳ, Âu Châu và cả Trung Quốc sẽ giảm mạnh không chỉ từ cuối năm nay mà trong vòng từ ba năm đến năm năm tới.
- Một cách cụ thể thì sau khi đạt mức tăng trưởng bình quân là 5% trong quý một của năm nay, sản lượng kinh tế toàn cầu sẽ chỉ tăng mỗi năm từ 3,25% đến 3,5% là nhiều. Con số 3,5% ấy là trung bình giữa mức tăng trưởng khá cao của các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Đông Nam Á, san xẻ với mức tăng trưởng cực thấp của khối kinh tế Âu-Mỹ Nhật. Mà tỷ lệ 3,5% này cũng là ngưỡng tâm lý đáng ngại vì Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF vẫn cho rằng dưới mức này là thế giới bị suy trầm. Nói cách khác, thưa ông, trong năm ba năm tới đây, kinh tế thế giới vẫn chưa ra khỏi suy trầm - "recession".
Việt Long: Trong kịch bản bi quan ấy, ta lại càng phải nói đến cách ứng phó của các nền kinh tế Đông Nam Á và Việt Nam. Chúng ta sẽ tìm hiểu về hoàn cảnh của các nước Đông Nam Á trước đây khi vừa phải điều chỉnh chiến lược phát triển để bớt lệ thuộc vào các thị trường xuất khẩu nay đang co cụm dần, vừa tái lập quân bình vĩ mô sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ vào các thị trường ấy. Vậy bối cảnh chung của việc ứng phó ấy là như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam mới chỉ hội nhập vào kinh tế toàn cầu và trực tiếp bị hiệu ứng quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 nên chưa có kinh nghiệm tự điều chỉnh. Nhưng các nước Đông Nam Á kia thì gặp trận khủng hoảng năm 1997-1998 sau cả chục năm hồ hởi lạc quan nên đã phải tái lập lại quân bình kinh tế và vì vậy họ có nhiều kinh nghiệm hơn. Nhìn một cách nào đó thì lần điều chỉnh này lại y hệt như lần trước, nhưng trong vị trí trái ngược, chính vì vậy mà ta nên nhắc lại để tiếp thu bài học của họ.
Việt Long: Xin ông giải thích điều ấy cho rõ ràng hơn được không" Thế nào là điều chỉnh y như lần trước nhưng lại trong vị trí trái ngược"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chuyện này rất ly kỳ vá đáng chú ý.
- Chẳng là sau khủng hoảng ngoại hối tại Thái Lan đầu Tháng Bảy năm 1997, các nền kinh tế Đông Nam Á đều suy trầm vào năm 1998. Cơn chấn động khiến họ có chính sách cải tổ để tránh những thất quân bình đã gây ra khủng hoảng. Thất quân bình đó là cán cân vãng lai bị hụt, dự trữ ngoại tệ quá mỏng và doanh nghiệp vay mượn để đầu tư quá nhiều. Lý do bị thất quân bình là sự hồ hởi của họ khi dễ dàng tiếp nhận tư bản nước ngoài mà lại không điều tiết được chế độ ngoại hối, cho nên thanh khoản dồi dào của ngân hàng đã thổi lên bong bóng cho đến ngày sụp đổ. Bên kia Thái bình dương, kinh tế Mỹ cũng hồ hởi tiêu thụ mạnh, nhập khẩu nhiều và xài tiền rẻ nhờ nguồn tiền xuất khẩu từ Đông Á chảy qua.
- Hai khối kinh tế ấy nuôi dưỡng nhau trong sự lạc quan của doanh nghiệp và bất cẩn của ngân hàng khiến dòng tiền không chảy đúng chỗ. Khi khủng hoảng bùng nổ, đôi bên đều phải điều chỉnh. Việc điều chỉnh ấy cũng tương tự như hiện nay, cái khác là lần này Hoa Kỳ bị thiếu hụt vãng lai, ngân hàng bất cẩn và bong bóng bị bể như Đông Nam Á 10 năm về trước! Vì vậy tôi mới nói là giống nhau nhưng trong vị trí trái ngược!
Việt Long: Một cách cụ thể thì các nước Đông Nam Á đã làm những gì vào thời đó mà Việt Nam nên học hỏi để có thể áp dụng vào thời này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một cách cụ thể thì họ tiết giảm tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp, họ triệt để thanh toán nợ nần bằng ngoại tệ của tư nhân, tức là của doanh nghiệp, họ ra sức tích lũy một dự trữ ngoại tệ dồi dào hơn và kiện toàn hệ thống chi tiêu ngân sách để không bị bội chi dù khủng hoảng không xảy ra vì lý do ngân sách. Về chính sách thì họ cũng tránh không để các đại gia tự do vay mượn và đầu tư mà bất kể rủi ro vì cứ tưởng rằng nếu có gì thì nhà nước sẽ tung tiền chuộc nợ. Một số quốc gia còn đi xa hơn về chiến lược, như Thái Lan từ năm 2003, là phát triển thị trường nội địa để ít lệ thuộc hơn vào thị trường xuất khẩu.
- Nhìn lại như vậy thì Việt Nam ngày nay có thể phải áp dụng một số biện pháp chấn chỉnh mà các nước kia đã thi hành 10 năm về trước. Cụ thể là không cho các tổng công ty quốc doanh bừa phứa vay tiền để thực hiện các dự án ảo mà ta nên gọi cho chính xác là "hiệu ứng Vinashin" trong khi dự trữ ngoại tệ của quốc gia lại quá mỏng và kinh tế quá lệ thuộc vào xuất khẩu. Cũng nên nói thêm rằng các nước kia có thể cải cách kinh tế vì có dân chủ. Chính phủ phạm sai lầm và cấu kết với các đại gia thì bị thay thế để chính quyền mới rộng tay thi hành việc cải tổ.
Việt Long: Ông vừa nêu một chi tiết đáng suy ngẫm. Nếu Việt Nam có dân chủ thì một hiện tượng như Vinashin khó xảy ra. Và nếu kinh tế có khủng hoảng thì dân chúng vẫn có thể bầu lên một nội các mới để thẳng tay cải sửa chứ không bao che cho những người đã góp phần gây ra khủng hoảng. Trở lại việc hôm nay, hay nay mai, với viễn ảnh suy trầm toàn cầu thì các nước Đông Nam Á tự điều chỉnh như thế nào và Việt Nam có thể học hỏi gì từ kinh nghiệm của họ"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa mỗi quốc gia lại có một đặc tính và những hoàn cảnh riêng nên việc điều chỉnh của họ cũng đa dạng chứ không là một bài bản thống nhất.
- Hoàn cảnh chung cho cả khối Đông Á là các nền kinh tế tiên tiến đã vay mượn quá nhiều, nay đang phải trả nợ, sẽ tiêu thụ ít đi và tiết kiệm nhiều hơn. Trước viễn ảnh đó, Trung Quốc sẽ phải điều chỉnh vĩ mô theo hướng giảm bớt tiết kiệm, kể cả xả bớt thặng dư vãng lại, gia tăng tiêu thụ và mở rộng thị trường nội địa để lấy tiêu thụ nội địa làm lực đẩy. Bắc Kinh khó thi hành việc điều chỉnh vĩ mô ấy vì dị biệt quá lớn giữa các khu vực địa dư, vì sự cản trở của nhiều đảng bộ địa phương. Và do không điều chỉnh kịp, họ đang gặp khó khăn vì công nhân đình công tự phát để đòi tăng lương. Các xứ Đông Nam Á không bị như vậy. 
Việt Long: Nói cụ thể thì các nước Đông Nam Á ứng phó như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Singapore là một xứ có mức lợi tức xếp vào loại cao của thế giới nhưng có lãnh thổ và dân số cực nhỏ của một trung tâm dịch vụ và chế biến để xuất khẩu. Cho nên họ vẫn không thể từ bỏ chiến lược xuất khẩu mà chỉ điều chỉnh theo hướng xuất khẩu hàng tinh chế hơn và vào các thị trường mới thay vì cứ nhắm vào khối Âu-Mỹ-Nhật.
- Bên kia eo biển Malacca, Indonesia là xứ đông dân nhất Đông Nam Á và có mức lợi tức thuộc loại trung bình thấp thì đã sớm cải tổ và ngày nay có cơ chế kinh tế vĩ mô cân bằng hơn, ít lệ thuộc hơn vào xuất khẩu nên họ đang dồn sức gia tăng mức đầu tư.
- Ở giữa hai thái cực ấy là hoàn cảnh của các nước đông dân gần bằng Việt Nam. Họ có thể nâng mức tiêu thụ nội địa nếu có lợi tức đủ cao và tiết kiệm đủ nhiều, như trường hợp Malaysia, là một nước thuộc loại có lợi tức trung bình cao. Các nước kia là loại có lợi tức trung bình nhưng còn thấp, và kể cả Việt Nam dù chưa lọt vào loại đó, thì chưa thể nghĩ đến nâng mức tiêu thụ mà cần gia tăng đầu tư.
Việt Long: Ông vừa nêu ra một sự chọn lựa để gỡ bí là hoặc nâng mức tiêu thụ nội địa hoặc gia tăng đầu tư. Vì sao lại như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, người dân các nước Đông Á đều có sức tiết kiệm cao hơn các nước giàu có Tây phương. Nhưng trong những năm thịnh đạt trước tổng suy trầm 2008-2009, họ có xu hướng rất bất lợi là thay vì dồn tiết kiệm vào đầu tư sản xuất hoặc tiêu thụ nội địa cho dân chúng được hưởng thành quả của phát triển thì họ lại xuất khẩu tư bản ra ngoài, là đem tiền đầu tư vào các nước công nghiệp hoá, hoặc đưa cho vay để kiếm lời cho an toàn. Bây giờ các nước công nghiệp hoá ấy đang xả bớt nợ nần và không dám vay thêm thì các nền kinh tế Đông Nam Á làm gì với khối tiết kiệm đó của họ" Hoặc là nâng mức tiêu thụ hoặc là gia tăng đầu tư.
Việt Long: Đó có phải là bài toán mà Việt Nam đang phải chọn lựa" Ông nghĩ rằng Việt Nam nên làm những gì khi mà kinh tế thế giới chưa thể tăng trưởng mạnh trong dăm ba năm tới"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng Việt Nam nên học kinh nghiệm Đông Nam Á thời 1998 bằng cách quân bình lại cơ cấu vĩ mô và tránh bội chi ngân sách hoặc vay nợ quá nhiều. Thứ hai, nên đầu tư mạnh hơn nhưng có phẩm chất hơn. Đầu tư không chỉ có hạ tầng cơ sở vật chất như cầu đường, vốn cũng rất cần thiết và quá lạc hậu. Hạ tầng cơ sở còn có loại vô hình như giáo dục và đào tạo và luật pháp về kinh doanh. Trước mắt thì việc đầu tư như vậy cũng nâng cao khả năng lưu thông hàng hóa và tiêu thụ nội địa và lâu dài thì sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh. Thời kỳ được Hoa Kỳ giúp đỡ để xuất cảng dễ dàng nay đang chấm dứt và từ nay Việt Nam sẽ còn gặp chuyện ngược là sẽ nhập khẩu nhiều hơn từ Hoa Kỳ vì đã được viện trợ để làm chuyện đó!
- Và trong mọi trường hợp, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên chấm dứt nạn tẩu tán tài sản, là đem tiền ra khỏi nước để kiếm lời cho an toàn hơn! Ngẫm lại mà xem, trong khi cả nước cần người Việt hải ngoại gửi tiền về giúp thì đảng viên cán bộ lại chuyển tiền ra ngoài để kiếm lời, mặc cho hạ tầng cơ sở bên trong bị ruỗng nát, thì chẳng suy trầm suy thoái cũng sẽ bị khủng hoảng!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Quốc gia nào cũng có nhà nước nên vai trò của chính quyền không thể tránh. Nhưng quả lắc khi nghiêng về nhà nước quá xa thì bóp nghẹt thị trường tự do còn khi chuyển sang tư nhân quá mức lại tạo ra bất ổn (khủng hoảng kinh tế) và hố sâu giàu nghèo. Một nghịch lý khác là khi xã hội xáo trộn, kinh tế suy trầm thì một bên là Mác Xít trỗi dậy, bên kia là Phát Xít nổi lên như xảy ra vào các thập niên 1930 hay 2010.
Trong cú sốc ban đầu do COVID-19 gây ra, các chính phủ và ngân hàng trung ương ứng phó bằng những đợt bơm tiền mặt khổng lồ là chuyện có thể dễ hiểu. Nhưng hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần lùi một bước và xem lại các hình thức kích hoạt nào thật sự cần thiết và nguy cơ nào gây nhiều hại hơn lợi. Các chính phủ trên khắp thế giới đang phản ứng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng COVID-19 bằng cách ứng phó kết hợp về tài chính và tiền tệ, nó đã đạt tới 10% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, theo Cơ quan Kinh tế và Xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc đánh giá tổng quát mới nhất, các biện pháp vực dậy này có thể không thúc đẩy cho tiêu dùng và đầu tư nhiều như các nhà hoạch định chính sách hy vọng.
Bạch Thái Bưởi, theo Wikipedia: “Là một doanh nhân người Việt đầu thế kỷ 20. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi)… Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên của mình. Ông trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học… Năm 1921, Bạch Thái Bưởi cho ra đời tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: ‘Một là giúp đồng bào ta tự khai hoá, dạy bảo lẫn nhau... mở mang con đường thực nghiệp. Hai là giãi bày cùng Chính phủ bảo hộ những yêu cầu thiết thực, chính đáng của quốc dân. Ba là diễn giải những ý kiến, những lợi ích, tác hại của các công việc Chính phủ đang làm...’
Sự căng thẳng thẳng giữa nước Mỹ và Trung cộng mỗi ngày mỗi gia tăng. Thật vậy, kể từ ngày 25-9-2018, tổng thống Donald Trump đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kêu gọi các nước trên Thế giới: “Chống lại xã hội chủ nghĩa và những đau khổ do nó đã gây ra cho nhân loại.” Mời xem link: https://youtu.be/q6XXNWC5Koc?t=95. Từ đấy, khiến cho Trung cộng lo âu phập phồng vì cả Thế giới phê phán chủ nghĩa cộng sản gay gắt.
Kết quả bầu cử Thị xã vòng nhì hôm 28/6 vừa qua khoát cho nước Pháp bộ áo mới màu xanh. Bộ áo Pháp lần đầu tiên được mặc. Các Thị xã xưa nay do Thị trưởng xã hội, phe Hữu hay thuộc xu hướng khác nay phần lớn lọt vào tay đảng Xanh. Cả những Thị xã cho tới nay vẫn nằm trong tay cộng sản cũng bị đảng Xanh cướp mất. Giới chánh trị đều ngẩn ngơ trước thực tế hoàn toàn bất ngờ này. Nhiều nhà chánh trị học, nhà báo chánh trị bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tại sao bổng nhiên xuất hiện làn sóng xanh chiếm gần hết các thành phố lớn nhỏ của Pháp? Tại sao chỉ có 4/10 người đi bầu? Vậy người được bầu thắng cử hay làn sóng cử tri vắng mặt mới thật sự thắng cử?
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
“Ngày 11/07/1995: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.” Với quyết định lịch sử này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản đã ghi dấu “gác lại qúa khứ, hướng tới tương lai” được 25 năm vào ngày 11/07/2020. Nhưng thời gian ¼ Thế kỷ bang giao Mỹ-Việt đã đem lại những bài học nào cho hai nước cựu thù, hay Mỹ và Việt Nam Cộng sản vẫn còn những cách biệt không hàn gắn được ?
Trước 1975, ở bùng binh ngã Sáu (kế góc đường Gia Long và Lê Văn Duyệt) có cái biển nhỏ xíu xiu: Sài Gòn – Nam Vang 280 KM. Mỗi lần đi ngang qua đây, tôi đều nhớ đến cái câu ca dao mà mình được nghe từ thưở ấu thơ: Nam Vang đi dễ khó về… Bây giờ thì đi hay về từ Cambodia đều dễ ợt nhưng gần như không còn ma nào muốn hẻo lánh tới cái Xứ Chùa Tháp nghèo nàn này nữa. Cũng nhếch nhác ngột ngạt thấy bà luôn, ai mà tới đó làm chi… cho má nó khi. Thời buổi này phải đi Sing mới đã, dù qua đây rất khó và về thì cũng vậy – cũng chả dễ dàng gì.
Càng gần ngày tranh cử, càng nhiều người biểu lộ yêu mến Tổng thống Donald Trump và ngược lại cũng lắm người bày tỏ chán ghét ông Trump. Có những người ghét ông chỉ vì họ yêu chủ nghĩa xã hội, yêu chủ nghĩa vô chính phủ, lợi dụng cơ hội ông George Floyd bị cảnh sát đè cổ chết đã chiếm khu Capitol Hill, nội đô Seattle, tiểu bang Washington, trong suốt ba tuần trước khi bị giải tán. Nhân 244 năm người Mỹ giành được độc lập từ Anh Quốc, và sau biến cố George Floyd, thử xem nền dân chủ và chính trị Hoa Kỳ sẽ chuyển đổi ra sao?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.