Hôm nay,  

Ngoại Thương Bị Nội Thương

13/10/200700:00:00(Xem: 9602)

Hoa Kỳ tháo chạy khỏi thị trường ngoại thương quốc tế...

Khi nguyên Phó Tổng thống Al Gore được Giải Nobel Hoà Bình, một số nhà bình luận Hoa Kỳ lập tức kết luận, rằng ông Gore đã thắng trận phục thù và Tổng thống Bush là người bị thua đậm. Thật ra, Hoa Kỳ còn thua đậm hơn vì bị mất uy tín trong phương cách đối phó với nạn nhiệt hoá địa cầu, trong khi tương lai của Nghị định thư Kyoto nhằm giải quyết vấn đề ấy vẫn còn mờ mịt.

Tuy nhiên, chuyện khí hậu địa cầu có thay đổi và ông Gore có lý hay không là vấn đề còn gây tranh luận và vẫn chưa có giải pháp dứt khoát được mọi quốc gia cùng áp dụng. Một chuyện cận kề hơn và trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi Hoa Kỳ mới là đề tài đáng quan tâm, đó là sự thoái trào của nguyên tắc tự do ngoại thương.

Hoặc là sự thắng thế của trào lưu bảo hộ mậu dịch.

Trong nhiệm kỳ duy nhất của mình, Tổng thống George H. Bush (Bush 41) không vận động nổi Quốc hội chấp thuận Thỏa ước Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ (NAFTA) để thiết lập chế độ tự do ngoại thương giữa ba nước Bắc Mỹ là Canada, Mỹ và Mexico. Qua triều đại Clinton, thỏa ước này mới thành hình, với sự ủng hộ rất mạnh của phe Cộng hòa để vượt qua được đa số Dân chủ trong Quốc hội. Đấy là một thành tích đáng nhớ của ông Clinton.

Ngày nay, một người đang đặt lại vấn đề về thỏa ước trên là bà Clinton, ứng cử viên sáng giá nhất bên đảng Dân chủ trong cuộc đua vào tòa Bạch Cung.

Khi đảo ngược lập trường của đức phu quân, Nghị sĩ Hillary Rodham Clinton chỉ ngả theo sức ép rất mạnh của các nghiệp đoàn và tổ chức môi sinh, thành phần cử tri có ảnh hưởng bên đảng Dân chủ. Mà bà không là ứng viên duy nhất bên đảng Dân chủ đang đi ngược trào lưu tự do mậu dịch do Tổng thống Clinton từng theo đuổi. Chẳng những vậy, ngay trong đảng Cộng hoà, các ứng viên Tổng thống cũng dè dặt khi phải nêu quan điểm bảo vệ tự do mậu dịch, nhất là các ứng viên hạng hai, không thuộc danh sách dẫn đầu như Giuliani, Romney, McCain hay Thompson.

Có một lý do rất đáng chú ý trong hiện tượng đó bên đảng Cộng hoà, xưa nay nổi tiếng là ủng hộ kinh tế thị trường và tự do mậu dịch. Một cuộc khảo sát ý kiến gần đây của Nhật báo Wall Street Journal tiến hành cùng hệ thống truyền hình NBC cho thấy là sáu trong 10 cử tri Cộng hoà tin rằng tự do mậu dịch là có hại cho kinh tế Hoa Kỳ. Đa số thành phần này là những người trong phe bảo thủ về đạo đức và tôn giáo, là giới công nhân áo xanh đang thấy quyền lợi của mình bị tự do mậu dịch đe dọa.

Cách đây sáu tháng, cũng trên cột báo này, người viết đã phân tách các xu hướng bảo thủ trong đảng Cộng hoà với dự đoán là đảng này sẽ mất đa số còn nặng hơn trong cuộc bầu cử Quốc hội năm tới ("Đảng Cộng Hoà Gãy Cánh Hữu" - Ngày 13 tháng Tư 2007). Với lập trường chống tự do mậu dịch của phe thủ cựu về tôn giáo, đảng này sẽ còn hoạn nan hơn nữa. Nhưng thắng lợi của đảng Dân chủ chưa chắc đã là thắng lợi của Hoa Kỳ.

Tổng thống Bush có ý thức được nguy cơ ấy nên đã trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal hôm Thứ Sáu 12 và sẽ đi Florida tiếp tục vận động dư luận.

Đầu đuôi câu chuyện ra sao"

Ngay trước mắt, Hoa Kỳ đã ký hiệp định tự do thương mại FTA với Nam Hàn và ba nước Nam Mỹ là Panama, Peru và Colombia. Các hiệp định này đang bị Quốc hội do đa số Dân chủ kiểm soát nêu thành vấn đề và có thể chặn đứng. Song song, từ tiền lệ là Thỏa ước Bắc Mỹ NAFTA, Hoa Kỳ cũng vận động một thỏa ước tự do mậu dịch Trung Mỹ (CAFTA) để lôi kéo các nước Trung Nam Mỹ đi theo trào lưu kinh tế tự do, và kết hợp gắn bó với Hoa Kỳ vì quyền lợi kinh tế. Hiệp định CAFTA này cũng sẽ bị Quốc hội Mỹ chặn đứng, thậm chí khai tử. Nghị sĩ Hillary Clinton là người đã bỏ phiếu chống CAFTA tại Thượng viện và còn đòi cứ năm năm một lần là xét lại mọi thỏa ước tự do mậu dịch Hoa Kỳ đã ký kết với các nước!

Một xứ Trung Mỹ là Costa Rica đã thận trọng đưa thỏa ước CAFTA này ra trưng cầu dân ý vào ngày mùng bảy tuần qua, và được đa số 51% dân chúng ủng hộ (48% chống). Đây là biến cố đáng kể vì trong khi Hoa Kỳ bị mất uy tín vì vụ Iraq và trào lưu thiên tả hay chống Mỹ đang nổi dậy từ Venezuela tới Cuba hay cả Brazil, Chile, Mexico... thì người ta nhận thấy một hiện tượng khác: người dân Trung Nam Mỹ thất vọng với khuynh hướng thiên tả bao cấp và chuyển về lập trường trung dung, ủng hộ kinh tế thị trường và tự do mậu dịch, nôm na là thân Mỹ hơn.

Cho nên, sau NAFTA, CAFTA có thể là cái neo để giữ các nước Trung Nam Mỹ trong quỹ đạo hợp tác với Hoa Kỳ. Một vấn đề có ảnh hưởng chiến lược và vượt ra khỏi những tính toán thuần túy về ngoại thương hay kinh tế.

Đúng vào thời điểm sinh tử ấy, chính Quốc hội và dư luận Mỹ lại chống tự do mậu dịch, hoài nghi thành quả toàn cầu hoá và muốn lui về chủ trương tự cô lập hay kiểm soát ngoại thương. Chính quyền Bush thì muốn giàng các quốc gia trong khu vực - hay cả Nam Hàn tại vùng Đông Bắc Á - vào cái thế đối tác chiến lược, với ảnh hưởng tốt đẹp hơn cho quyền lợi của Mỹ trong trường kỳ. Đối lập Dân chủ và thậm chí một thành phần đáng kể bên đảng Cộng hoà lại cản trở nỗ lực đó vì sự hơn thua lời lỗ trong buôn bán.

Trên doanh trường quốc tế hay trong trao đổi kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường lý luận rằng về dài thì đôi bên đều có lợi. Nhưng về dài là chuyện chưa thấy, ngay trước mắt thì luật chơi thay đổi khiến cho có người được kẻ mất.

Một thí dụ gần gũi là trước khi Hoa Kỳ ký kết hiệp định thương mại với Việt Nam, nhiều cơ sở người Việt tại Hoa Kỳ có thể bước vào lãnh vực may mặc gia công, với nhân viên là người Việt. Sau khi có hiệp định thương mại song phương với Hà Nội, nhiều nhà đầu tư đã đóng cửa "shop may" tại Mỹ mà trở về lập cơ sở trong nước để tuyển dụng người Việt với lương bổng rẻ hơn và may mặc gia công cho các nhà phân phối Hoa Kỳ. Hiệp định ấy khiến có người Việt tìm ra việc làm trong nước và nhiều người Việt mất việc tại Mỹ. Cũng vậy, thỏa ước NAFTA có thể làm nhiều người Mỹ mất việc khi cơ sở dọn xuống miền Nam, vào đất Mexico để sản xuất ngược về Mỹ với giá rẻ hơn...

Trong hoàn cảnh mà có kẻ được người mất, các nghiệp đoàn tại Hoa Kỳ đã lên lưới bảo vệ quyền lợi của đoàn viên và dồn tiền dồn phiếu cho đảng Dân chủ. Ngoài các nghiệp đoàn, nhiều tổ chức bảo vệ môi sinh cũng ráo riết vận động chống toàn cầu hoá hay tự do mậu dịch với lý do là luật lệ quá lỏng lẻo của các nước nghèo - nơi tiếp nhận đầu tư Mỹ - khiến môi sinh các xứ này bị hủy hoại. Song song, nhiều tổ chức bảo vệ quyền lợi lao động hay thiếu nhi cũng nhập cuộc để đòi hỏi các thỏa ước tự do mậu dịch phải có những tiêu chuẩn chặt chẽ hơn hầu không xảy ra nạn lạm dụng sức lao động tại các nước nghèo.

Nhìn từ quan điểm của họ, ở các nước giàu có như Hoa Kỳ, trẻ em mà đi làm để kiếm tiền phụ giúp gia đình là điều khó chấp nhận được: chúng phải được đi học! Nhưng, làm sao đi học khi gia đình không có lợi tức hay địa phương thiếu trường ốc, là loại vấn đề ai đó phải giải quyết.

Ngay sau khi khai mạc, Quốc hội khoá 110 của Hoa Kỳ (được bầu lên từ tháng 11 năm ngoái) đã minh định lập trường của đa số Dân chủ: phải nâng cao tiêu chuẩn bảo vệ lao động và môi sinh tại các nước nghèo và phải duyệt xét lại nội dung các thỏa thuận Hoa Kỳ (Chính quyền Bush) đã ký kết với các nước. Hai ứng viên Dân chủ đang thúc đẩy việc này một cách ráo riết nhất là Hillary Clinton và John Edwards.

Luật sư John Edwards là người thiên tả và phản chiến nặng nhất, còn hơn Nghị sĩ Barack Obama. Bà Clinton thì đang tràn trề hy vọng trở thành Tổng tư lệnh quân đội nên không cần chiều theo áp lực phản chiến rất mạnh ở cơ sở. Nhưng cũng chính vì vậy mà phải mua chuộc lá phiếu nghiệp đoàn và môi sinh nên đã đảo ngược lập trường cố hữu của Tổng thống Clinton.

Vì ngần ấy lý do, người ta đang chứng kiến một hiện tượng bất thường, đó là sự thắng thế của chủ nghĩa "đại chúng", populist, nôm na là mị dân, chiều theo quan điểm ăn khách của quần chúng trong nhất thời, mặc dù thâm tâm đều biết rằng quan điểm ấy không có lợi cho Hoa Kỳ trong trường kỳ, về cả ngoại thương lẫn quyền lợi chiến lược.

Cho nên người ta có thể kết luận rằng quan niệm về tự do ngoại thương của Hoa Kỳ đang bị nội thương, ngay trong xã hội và chính trường Mỹ. Là một quốc gia xưa nay vẫn đề cao tự do mậu dịch và kinh tế thị trường, nước Mỹ đang lui về chế độ bảo hộ mậu dịch và kiểm soát kinh tế thị trường.

Hậu quả của tình trạng ấy là gì" Chẳng những vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO sẽ bị khựng sau khi được đề xướng từ tháng 10 năm 2001, mà còn có thể bị chìm xuồng. Vòng Doha bế tắc chủ yếu là vì chế độ bảo hộ nông phẩm của các nước giàu (Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu) bị nhiều nước đang phát triển kịch liệt đả kích. Với sự thắng thế của đảng Dân chủ và tình trạng suy yếu của Chính quyền Bush, quyền lợi nông gia Mỹ - một thiểu số rất nhỏ - sẽ tiếp tục được bảo vệ bất chấp lời phản đối của các nước đang phát triển như Ấn Độ hay Brazil.

Mà chuyện Doha vẫn chưa đáng lo ngại nhất. Trong vòng bốn năm năm tới, Hoa Kỳ sẽ mất dần ảnh hưởng và đồng minh tại lục địa Nam-Bắc Mỹ (hay "Tây bán cầu" nếu nhìn từ Âu châu). Đây lại là nơi mà Trung Quốc đang tung tiền mua cuộc đồng minh và đối tác kinh tế. Và trào lưu bảo hộ mậu dịch trong Quốc hội Mỹ lại không đủ mạnh để gây sức ép với Bắc Kinh khiến Trung Quốc phải cải sửa luật lệ kinh tế hay kinh doanh của họ, nhưng thừa sức gây khó cho... các nhà xuất cảng Việt Nam! Việc Việt Nam đạt được một thỏa ước tự do ngoại thương (FTA) để trở thành đối tác chiến lược với Mỹ tương tự như Nam Hàn sẽ bị trì hoãn - và những mánh khoé kinh doanh của Hà Nội có thể gặp nhiều trở ngại hơn.

Trong suốt giai đoạn khó khăn ấy, mọi hiệp định thương mại do Hoa Kỳ ký kết với các nước khác đều có thể bị xét lại và tu chính với những điều khoản chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của công nhân thợ thuyền Hoa Kỳ (tăng lương tối thiểu, dự phòng quỹ an sinh xã hội, mở rộng quyền đình công hay thương thảo), v.v.... Nghĩa là sức cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp Hoa Kỳ bị suy yếu trong khi cơ chế luật lệ kinh doanh sẽ thêm rườm rà, công chi ngân sách sẽ gia tăng. Gánh nặng thuế khoá cũng vậy.

Chúng ta nên chờ đợi tình trạng này sẽ kéo dài nhiều năm, ít ra cho tới cuộc bầu cử 2012.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.