Hôm nay,  

Bỏ Của Chạy Lấy Người

06/06/200800:00:00(Xem: 35724)
Khi đồng đôminô Việt Nam bắt đầu lật...

Tháng Ba năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam bốc lên cõi ảo, với chỉ số VNIndex tại Sàigòn chờn vờn đỉnh cao 1.170 điểm. Vì sống trong bong bóng, nhiều người không thấy rằng trái bóng đầu tư đó sẽ bể - và mình sẽ rớt xuống đất.

Ngày mùng bốn tháng Sáu vừa qua, chỉ số VNIndex tuột dưới 400 điểm - sụt trong 21 phiên giao dịch liên tiếp. Con số chẵn 400 vừa bị tuột là mức nâng tâm lý có ý nghĩa lịch sử.

Từ đỉnh cao 1.170 điểm tới 395 thì coi như mất gần 66%; tính từ đầu năm 2008 thì trong năm tháng đã mất 57%. Nghĩa là sau khi đã sụt từ cuối năm ngoái, qua năm nay còn sụt mạnh hơn, dù chính quyền Việt Nam thu hẹp biên độ giao dịch, không được cao hay thấp hơn giá hôm trước 1%. Biến cố ấy khiến nhiều người tự hỏi rằng mình đã rớt xuống đến đất hay chưa.

Tức là cố định nghĩa lại thế nào là đất, thế nào là đáy, và thị trường chứng khoán sẽ còn tuột giá tới đâu mới ngừng. Một câu hỏi phù phiếm!
Sống trong cõi ảo của một trái bóng đầu tư, người ta đã  không hề tự hỏi rằng vì sao hơn 150 công ty được yết giá trên thị trường chứng khoán Sàigòn lại có "kết giá tài sản" cao hơn 40% tổng sản lượng của cả nước ("kết giá tài sản" là giá cổ phiếu trên thị trường nhân với số cổ phiếu lưu hành). Với sản lượng toàn quốc chưa tới 70 tỷ Mỹ kim một năm, làm sao các công ty ấy có thể đáng giá 28 tỷ - và tạo ra doanh lợi một năm trung bình chừng bốn tỷ, theo tiêu chuẩn thông thường của thế giới"

Người ta cũng không hề tự hỏi vì sao thị trường địa ốc tại Việt Nam còn đắt hơn các thị trường Đông Nam Á khác" Một mét vuông phòng ốc tại Sàigòn hay Hà Nội làm sao đem lại lợi nhuận cao gấp ba gấp bốn cùng một diện tích đó tại Hong Kong, Bangkok hay Kualar Lumpur"
Vì vậy, các trái bóng chứng khoán và địa ốc tất nhiên sẽ bể, là chuyện đang xảy ra.

*

Thật ra, đây chỉ là vấn đề cho các nhà đầu tư - Việt Nam và ngoại quốc - và cho một thiểu số vài trăm ngàn người Việt Nam có tiền hay có quyền để chơi stock và lao vào thị trường bất động sản trong tinh thần đầu cơ hơn là đầu tư. Đấy là vấn đề của những người khá giả nhất ở trên ngọn, ở mặt nổi bên ngoài. Nhưng, cũng là biểu hiện của sự suy sụp bên dưới và sẽ ảnh hưởng đến đại đa số người dân ở dưới, thành phần chỉ có đủ lợi tức vặt mũi bỏ mồm.

Cái bên dưới đó mới là sự kinh hoàng.

*

Đầu tháng Năm, công ty lượng giá kinh doanh Standard & Poor's đã lần đầu tiên đánh sụt giá quốc trái (trái phiếu do một chính quyền phát hành để vay tiền thiên hạ) của Việt Nam từ loại "ổn định" xuống  loại "tiêu cực": không đáng là khí cụ đầu tư. Chuyện ấy, dân Việt Nam không biết vì báo chí không được phép loan tải.

Đến cuối tháng Năm, đến lượt công ty Fitch cũng hạ thấp giá trị trái phiếu của Việt Nam - tức là niềm tin của giới đầu tư quốc tế. Và chưa đầy một tuần, Fitch còn điều chỉnh lại theo hướng tiêu cực hơn nữa. Giữa hai lần định giá của Fitch là hàng loạt báo cáo của các tổ hợp đầu tư quốc tế cho khách hàng của họ như Morgan Stanley, Goldman Sachs, Deustche Bank, Macquarie, rằng kinh tế Việt Nam có vấn đề.

Văn phòng Hong Kong của Macquarie - tổ hợp đầu tư số một của úc Đại Lợi - còn nêu ý kiến như trời giáng, rằng Việt Nam có thể là đồng đômino đầu tiên sẽ đổ trong một chuỗi khủng hoảng tương tự như cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997. Nối tiếp có thể là Philippines, Nam Hàn và Ấn Độ.

*

Năm 1997, giữa không khí lạc quan của giới đầu tư và các định chế tài chánh quốc tế về phép lạ kinh tế Đông Á, khủng hoảng hối đoái bỗng bùng nổ tại Thái Lan vào mùng hai tháng Bảy, một ngày sau khi Hong Kong "hồi quy cố quốc" để trở thành lãnh thổ của Trung Quốc. Khủng hoảng hối đoái bùng nổ khi tiền Thái mất giá, chính quyền Thái phải tung ra 30 tỷ Mỹ kim mua lại đồng Bath của mình hầu vực giá đồng bạc mà không nổi. Số tiền cấp cứu bị tan trong sóng dữ và khủng hoảng hối đoái lan qua tài chánh, lan qua kinh tế, tràn qua các nước lân bang như Malaysia, Indonesia, Philippines và cả Nam Hàn, trở thành khủng hoảng kinh tế Đông Á.

Khủng hoảng kinh tế Đông Á tiếp tục lây lan qua Hong Kong, Nhật Bản, dội mạnh vào Liên bang Nga - khiến nước Nga của Boris Yelstin vỡ nợ - rồi thổi qua Brazil và quay về Hoa Kỳ đánh sập một quỹ đầu tứ đối xung thuộc hàng "đại gia" của Mỹ! Đó là chuyện của 1997-1998.
Bây giờ, bỗng dưng mấy nhà đầu tư lại báo động một chuyện tương tự, khởi đi từ Việt Nam!

*

Lịch sử không khi nào tái diễn y hệt như xưa. Nói cho văn vẻ, ta không khi nào uống cùng một hụm nước trên một dòng sông. Mỗi cuộc khủng hoảng lại thể hiện một cách trong cả ngàn cách khác nhau.

Thái Lan của mười năm trước đã khác Việt Nam ngày nay tới cả trăm năm ánh sáng. Nhục lắm mà vẫn phải nói ra!

Xứ Thái thời ấy có nền móng kỹ nghệ đã vượt xa Việt Nam, trong một thể chế dù bất toàn cũng còn dân chủ hơn gấp bội. Hệ thống ngân hàng Thái Lan của 10 năm trước đã vượt qua hệ thống ngân hàng non yếu của  Việt Nam. Năm đó, dự trữ ngoại tệ của Thái đã cao gấp rưỡi số dự trữ ngoại tệ ngày nay của Việt Nam, và tính theo thời giá 2008 thì tất nhiên còn lớn hơn con số gần  24 tỷ của Hà Nội.

Vậy mà Thái Lan đã đổ, cho nên Việt Nam có đổ thì cũng không là chuyện bất thường, dù có đổ kiểu khác... Đổ  theo định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng hạn.

Năm 2007, thế giới bắt đầu nói đến nạn suy trầm của đầu máy kinh tế số một của địa cầu là Hoa Kỳ. Sau sáu năm tăng trưởng liên tục, kinh tế Mỹ có bị đình đọng trong một chu kỳ kinh doanh thì cũng là chuyện bình thường. Huống hồ thị trường gia cư Mỹ bị sụt, khủng hoảng tín dụng loại thứ cấp sub-prime đã bùng nổ và dẫn tới nạn khan hiếm tín dụng vào mùa Thu .

Đã thế, 2008 lại là năm tranh cử tại Mỹ và các chính trị gia đều phải báo động về nguy cơ suy thoái hay khủng hoảng để dọa nạt cử tri và tự khoe khả năng kinh bang tế thế của mình. Chuyện Tăng Sâm giết người và sự hốt hoảng của bà mẹ Tăng Sâm là chuyện có thật trong kinh tế Mỹ! Cho nên, nếu Mỹ có bị suy trầm thì chẳng ai ngạc nhiên. Và các nước bán hàng cho Mỹ vì vậy sẽ bị điêu đứng.

Từ đấy, ai ai cũng có thể nói rằng kinh tế xứ mình sẽ bị lao đao vì kinh tế Mỹ, một lý luận tiện dụng và đã được Hà Nội sử dụng vào tháng Ba vừa qua theo kiểu "tháo dạ đổ vạ cho trâu". Nhưng ngược với luận cứ a dua theo kiểu bày đàn của người Hà Nội, chuyện ấy chưa xảy ra.

Chuyện đã  xảy ra là giá thương phẩm - nguyên nhiên vật liệu, khoáng sản và lương thực - đã tăng vọt. Nổi cộm nhất là giá dầu thô và mễ cốc. Xảy ra chủ yếu mà không duy nhất là vì số cầu gia tăng quá cao so với khả năng cung ứng. Trong hoàn cảnh chung của thế giới - và nhất là của thế giới Á châu với các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ cùng khát dầu và đói ăn tới mức trầm trọng - thì lạm phát vì phí tổn là mối nguy có thật.

Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam lại góp phần đáng kể cho việc thổi bùng lạm phát như một đứa trẻ dại khờ châm lửa đốt nhà.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam bơm thêm tín dụng như người say khiến dư nợ tín dụng tăng 50% một năm, so với chừng 35% của các năm trước 2007. Và bơm vào những nơi sẽ thành các khoản nợ thối, khó đòi, không sinh lời và sẽ mất. Lý do là vì lãi suất ngân hàng quá thấp, là số thực âm (thấp hơn tỷ lệ lạm phát). Tiền rẻ nên ai ai cũng học thói phóng tay áo sô để đốt nhà táng giấy và đẩy lên trái bóng đầu cơ chứng khoán và địa ốc. Trong khi ấy, lãnh đạo kinh tế Việt Nam còn bơm thêm tiền vào nền kinh tế để mua Mỹ kim về làm kho dự trữ: trong tháng Năm năm ngoái họ đòi hút về bảy tỷ Mỹ kim cho kho dự trữ và thổi lên nạn lạm phát tiền tệ.

Qua năm 2008, khi lạm phát đã thành vấn đề khó chối cãi, các giới chức hữu trách về kinh tế tài chánh của Hà Nội cãi nhau: nên ngăn ngừa lạm phát hay nên cứu vớt thị trường chứng khoán đang bể, nên giữ vững hệ thống ngân hàng bị lung lay, hay bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước và các dự án công chi trong danh mục ăn hại đái nát mà là đặc quyền đặc lợi của một số đảng viên" Họ quyết định theo định hướng xã hội chủ - là cùng nhắm vào ngần ấy mục tiêu đầy mâu thuẫn.

Như một đứa trẻ thiếu trưởng thành cái gì cũng muốn mà không chịu trả giá, tất nhiên họ không đạt mục tiêu nào!

Lạm phát gia tăng vùn vụt, mỗi tháng một nặng hơn. Quy ra toàn năm thì tháng Năm vừa qua  đã vượt 25%. Tính nhẩm cho dễ: mỗi tháng, vật giá tại Việt Nam tăng chừng 3%, trong số đó nặng nhất là giá lương thực, nhu yếu phẩm của đại đa số dân chúng. Đã thế, hàng loạt chương trình chống lạm phát đều được ban hành quá trễ, và chấp hành tùy tiện.

Trong khi ấy, vì chiến lược rập khuôn theo kiểu Đông Á - với màu sắc đậm mùi Trung Quốc là nạn tham nhũng - Việt Nam đòi làm gia công cho thiên hạ bằng cách nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và máy móc kỹ thuật để chế biến cho rẻ hầu bán ra ngoài. Xuất khẩu là trên hết! Và lương bổng thấp là ưu thế cạnh tranh tuyệt vời!

Trong hoàn cảnh Mỹ kim đắt và thương phẩm rẻ, chiến lược đó còn có kết quả, nhờ hối suất thấp của đồng bạc và lợi tức thấp của công nhân. Nhưng tình hình đã thay đổi từ 2005 mà Hà Nội không biết. Mỹ kim tuột giá, thương phẩm lên giá và hối suất quá rẻ của đồng bạc vẫn không đảo ngược nổi tình hình: Việt Nam bị nhập siêu nặng, mỗi tháng bị thất thâu hơn một tỷ Mỹ kim. Khiếm hụt ngoại thương của Việt Nam nay đã gấp ba năm ngoái, và cùng với nạn lạn phát, đời sống cơ cực của người dân khiến công nhân biểu tình và đình công hàng loạt!

Để chặn đà lạm phát, các biện pháp hành chánh cửa quyền cũng đã được ban hành, kể cả kiểm soát hoặc trợ cấp giá cả. Ngân sách quốc gia bị bội chi và sẽ còn bội chi nặng.

Tổng kết lại, tệ hại hơn Thái Lan 10 năm trước, Việt Nam bị lạm phát, nhập siêu, khiếm hụt chi phó và bị bội chi ngân sách. Trong khi ấy, nông dân đói ăn và công nhân bất mãn.

Đó là bối cảnh chung khiến các nhà đầu tư hết tin tưởng vào trị trường Việt Nam và bắt đầu gióng chuông báo động.

Khi thị trường sụt giá, ta hiểu là các nhà đầu tư phải rút tiền bỏ chạy, và nếu bỏ từ chỗ này qua chổ khác mà đều thấy lỗ thì đành.. vượt biên. Thuật ngữ kinh tế gọi đó là tẩu tán tư bản, capital flight. Sau thành phần con ông cháu cha có quan hệ tốt đến chính quyền, các nhà đầu tư nước ngoài cũng bắt đầu ngó ra ngoài. Quy luật bỏ của chạy lấy người là như vậy.

Nhưng, trong khi chờ đợi xem đồng đôminô Việt Nam sẽ sụp đổ ra sao, ta còn có thể hiểu quy luật trên trong nghĩa đen: sau các đợt di tản, tỵ nạn hay đoàn tụ gia đình, chưa khi nào người Việt lại muốn ở lại Mỹ đông đảo như ngày nay. Đấy là thành phần khá giả từ các gia đình có quyền hay có tiền được qua Mỹ du học. Tốt nghiệp rồi, họ không muốn con em hồi hương xây dựng xã hội chủ nghĩa nữa! Hãy ở lại Mỹ làm đầu cầu tiếp nhận tài sản và xây dựng cuộc sống mới.

Cùng với nạn tẩu tán tư bản, ta đang thấy nạn thất thoát chất xám!

Kinh tế Việt Nam có bị khủng hoảng hay không" Chưa ai có thể biết chắc.

Nhưng một hy vọng sinh tử cho Việt Nam là dầu thô đừng tiếp tục lên giá và người Việt hải ngoại tiếp tục gửi tiền về trong nước. Năm ngoái, con số thực tế của loại "kiều hối" ấy được Hà Nội ước lượng là 10 tỷ Mỹ kim, bằng 70% số nhập siêu của Việt Nam và gần phân nửa dự trữ ngoại tệ của Hà Nội. Đâm ra, khúc ruột xa ngàn dậm đang cứu nguy cho đảng! Và một phần máu huyết ấy đang được đảng viên cán bộ tuồn ra ngoài trong đà tháo chạy.

Khi bỏ của chạy lấy người như vậy, đảng viên cán bộ của Hà Nội có thể dốt chứ không ngu. Và những người ở bên ngoài đang muốn rót tiền về trong nước thuộc trường hợp trái ngược (080603).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.