Hôm nay,  

Giải Hòa Bình Nobel Quá ‘đát’

10/12/200900:00:00(View: 6880)

Giải Hòa Bình Nobel Quá ‘Đát’

Trần Bình Nam
Hôm Thứ Sáu 9 tháng 10 vừa qua (09/10/2009) Ủy Ban Nobel tại Oslo tuyên bố trao giải Hòa bình Nobel năm 2009 cho tổng thống Barack Obama của Hoa Kỳ . 
Ông Chủ tịch Ủy Ban Nobel tuyên bố: “Chúng tôi chọn tổng thống Obama vì ông đã mang đến một không khí mới mẻ cho nền chính trị thế giới, và là người cầm ngọc đuốc của những người chủ trương giải hòa bình Nobel trong suốt 108 năm qua. Tổng thống Obama đã mang đến cho nhân loại viễn kiến và hy vọng vào tương lai ngay từ khi ông bắt đầu nhiệm kỳ của ông.”
Giải Nobel do kỹ sư Alfred B. Nobel người Thụy Điển thiết lập năm 1895 do một Ủy ban gọi là Nobel Foundation quản lý và hằng năm phát thưởng bằng tiền cho những ai làm, khám phá hay phát minh được những gì hữu ích cho nhân loại trong năm lĩnh vực Vật lý học, Hóa học, Văn chương, Y khoa và Hòa bình thế giới.  Năm 1969 Ủy Ban Nobel lập thêm giải thưởng kinh tế do sự quan trọng của sinh hoạt kinh tế thế giới liên quan đến hòa bình và phát triển.
Giải Nobel là một giải được trân trọng trên thế giới, nhất là những giải được trao trước năm 1973, trong đó có hai vị tổng thống Hoa Kỳ là tổng thống Theodore Roosevelt và tổng thống Woodrow Wilson. Tổng thống Jimmy Carter được giải sau năm 1973 nhưng cũng là một giải xứng đáng được thế giới tán đồng và ca tụng.
Tổng thống Theodore Roosevelt (hai nhiệm kỳ 1901 – 1909) được giải năm 1906 trong nhiệm kỳ 2, vì đã đóng một vai trò quan trọng đưa đến ổn định cho Tây Bán Cầu, và đã dùng chức vụ tổng thống Hoa Kỳ hòa giải Nga và Nhật Bản chấm dứt trận chiến Nga-Nhật năm 1905.
Trong khi đó tổng thống Woodrow Wilson (hai nhiệm kỳ 1913-1921) cũng được chọn lãnh giải trong nhiệm kỳ 2 (1919) sau khi ông đã làm hết sức mình trong nhiệm kỳ thứ nhất để tạo một thế giới tự do, hòa bình và tôn trọng công lý. Ông là người khai sinh ra Hội Vạn quốc tiền thân của Liên hiệp quốc.
Tổng thống Carter (một nhiệm kỳ 1977-1981) được giải năm 2002 vì trong thời gian làm tổng thống ông đã đóng góp vào giải pháp hòa bình giữa Do thái và Ai Cập và sau khi rời chức vụ tổng thống ông đã đóng góp nhiều vào việc thực hiện và duy trì hòa bình tại nhiều nơi trên thế giới.


Năm 1973 Ủy ban Hòa bình Nobel chính trị hóa giải hòa bình bằng quyết định trao giải cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, hai nhà thương thuyết đưa  đến Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Thế giới bắt đầu nghi ngờ giá trị của giải. Mọi người đều biết ông Kissinger thương thuyết Hiệp Định ngưng bắn vì Hoa Kỳ đổi sách lược chứ chẳng phải vì hòa bình. Còn Lê Đức Thọ thương thuyết Hiệp Định ngưng bắn với ý đồ sẽ chiếm miền Nam bằng vũ lực sau khi Hoa Kỳ rút quân.
Trao giải cho Kissinger và Lê Dức Thọ Ủy ban Nobel hy vọng vì hào nhoáng của giải hòa bình Hà nội sẽ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Định Paris. Một ảo tưởng.
Đến năm 1994, Ủy ban Nobel chính trị hóa giải hòa bình một lần nữa khi trao giải cho ông Yasir Arafat, lãnh tụ Palestine, một tay khủng bố có thành tích, và hai chính khách Do Thái là Yitzhak Robin và Shimon Perez, những người làm hòa bình với định tâm chôn sống Palestine trong hòa bình. Ủy ban hy vọng giải hòa bình trao cho ba nhân vật trên sẽ thúc đẩy họ hòa giải và đem đến hòa bình cho Trung đông. Lại một ảo tưởng nữa.
Năm nay Ủy ban Nobel trao giải cho tổng thống Obama. Hơn ai hết dân chúng Hoa Kỳ ngạc nhiên trước nhất kể cả những người vốn ủng hộ ông Obama. Là một Thượng nghị sĩ trước khi ra ứng cử tổng thống Hoa Kỳ ông Obama chống việc khởi quân đánh Iraq. Nhưng đó chưa phải là thành tích. Và ở chức vụ tổng thống chưa đầy một năm ông Obama cũng chưa làm gì cụ thể để đóng góp và kiến tạo một nền hòa bình lâu dài cho thế giới .
Việc trao giải của Ủy ban Nobel một lần nữa là một quyết định chính trị. Phải chăng Ủy ban Nobel muốn dùng giải hòa bình đế thuyết phục tổng thống Obama rút quân ra khỏi Afghanistan.
Việc rút quân hay đổ thêm quân vào Afghanistan lúc này là một quyết định sinh tử của Hoa Kỳ, và không thể vì cái hào nhoáng của giải Nobel 2009 mà Obama quyết đoán một cách vội vã được.
Cách tốt nhất của tổng thống Obama là từ chối nhận lãnh giải hòa bình Nobel do Ủy ban Nobel trao tặng để có tự do hành động theo quyền lợi của Hoa Kỳ.
Nhưng rất tiếc ông Obama đã tuyên bố nhận giải. Ông khiêm nhượng nói rằng Ủy ban trao giải cho ông chẳng phải vì thành tích cá nhân mà chỉ là một dấu hiệu  thế giới chấp nhận sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Hình như những người Na Uy trong Ủy ban Nobel đang say mê giấc mộng hòa bình và không thấy được cái thực tế chính trị của Hoa Kỳ.
Và một lần nữa dùng cái giải quốc tế quá “đát” của mình một cách vụng về.
Trần Bình Nam
October 10, 2009
[email protected]
www.tranbinhnam.com

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.