Hôm nay,  

Rớt Mồng Tơi

02/10/200800:00:00(Xem: 15286)
Nói về “Nghèo,” tiếng Việt có nhiều chữ cực đoan để diễn tả: Nghèo rớt mồng tơi, nghèo tận mạng, bần chí tử, nghèo sặc gạch, nghèo sát đất…, nghèo khạc ra tro, nghèo ho ra máu… Riêng thành ngữ tượng hình “nghèo rớt mồng tơi” được dùng khá rộng rãi.  Tự điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam (của nhà xuất bản Văn Hóa) giải nghĩa “nghèo rớt mồng tơi” là “nghèo đến cùng cực.”  Thành ngữ này được dùng nhiều nhất ở miền Bắc Việt Nam vì ở nông thôn miền Bắc, các cửa ngõ, hàng rào thường hay trồng rất nhiều giây mồng tơi.  Đây là một lọai rau dễ mọc, dùng cho nhà nghèo.  Dân nghèo đi làm ruộng về, không có tiền mua thịt cá, chỉ cần bắt vài con cua, con cáy ở đồng; khi về nhà, ra ngõ vơ một nắm mồng tơi là có được một nồi canh cho bữa cơm thường ngày của nhà nông.  Rau mồng tơi có nhiều nhớt (người Bắc còn gọi là “rớt”) vì vậy “rớt mồng tơi” được dùng để chỉ sự nghèo khổ của ngưới Việt (nhất là ở miền Bắc).  Thi sĩ Nguyển Bính đã có lần thi vị hóa cái sự “mồng tơi xanh rờn”  trong bài “Cô Hàng Xóm” để tả sự đơn giản, môc mạc của tình cảm dân nông thôn Bắc việt. 

Đến đây kể cũng bàn lọan tạm đủ về chuyện mồng tơi.  Để khỏi lạc đề, mục đích của bài này là bàn về “sự nghèo” chứ không phải thực phẩm rau canh mồng tơi!

Cuộc sống có rất nhiều chuyện để quan tâm.  Nhưng trên phương diện thực tiễn, đa số mọi người đều thấp thỏm về hai vấn đề giầu và nghèo.  Thật lòng, ai cũng muốn giầu chứ có ai muốn nghèo"  Giầu thường đi đôi với sang trọng (giầu sang!) xung túc.  Giầu được kính nể, được mọi người chú ý săn đón…  trong khi nghèo thì đi với khổ (nghèo khổ!) thiếu thốn, bị mất đi hay thiếu những vật chất cần thiết tối thiểu để cho cuộc sống có ý nghĩa như cơm áo, nước uống, chỗ ở... chưa kể các cơ hội được đi học, tình trạng tâm trí căng thẳng rụt rè lo âu.  Nghèo đến rớt mồng tơi đâm ra hèn mọn, bị khi dễ, chí đỏan, bị đời bỏ rơi khinh miệt…  Giầu ở hang hốc cũng có người tìm đến; nghèo đứng giữa chợ đông người cũng chẳng có ai để ý ngó ngàng… 

Như đã thấy, nghèo không chỉ có đơn gỉan một định nghĩa mà là sự tập hợp của cả trăm cách khác nhau.  Thí dụ: 

Nghèo vì không có thực phẩm để ăn

Nghèo vì không có nước để uống

Nghèo vì không có nhà ở

Nghèo vì không có phương tiện y tế

Nghèo vì không có tiền

Nghèo vì bị bỏ rơi, quên lãng,

Nghèo vì thiếu học, thiêu giáo dục

Nghèo vì đông con

Nghèo vì không có công việc làm hay không có đất để cày cấy trồng trọt

Thôi! Tạm thời “Nghèo” được định nghĩa là: “sự thiếu thốn các vật chất cần thiết của đời sống.”  Còn “người Nghèo” là: “người không có hay không đủ khả năng để tự tìm ra các phương tiện vật chất cho đời sống.  Nếu họ vẫn sống hoặc vẫn tồn tại thì họ cần phải trông cậy vào sự giúp đỡ hay nhờ vào tài nguyên, lòng từ thiện của người khác.”

Nghèo đã thiếu ăn thiếu mặc là một chuyện mà lại bất lực, không có tiếng nói (có muốn nói cũng chẳng ai nghe), bị lệ thuộc, bị đối xử nhục nhã.

Biết sự nghèo là khổ như vậy, nhưng không phải cứ muốn giầu là được! Không có ai muốn nghèo.  Cái nghèo không được mời, nhưng nó cứ đến với mọi người một cách “vô tư…” ngòai ý muốn, chạy nhanh cách mấy cũng không thóat!

Các tờ bao kinh tế tài chánh, thí dụ như Forbes…, thỉnh thỏang vẫn hay liệt kê danh sách những người giầu nhất kèm với trị giá tài sản mà họ đang  có.  Không thấy ai, báo chí nào lập ra danh sách tương tự như vậy cho người nghèo; bởi vì, cũng dễ hiểu, lập danh sách người nghèo cho đến khi nào mới xong"  Người nghèo có cái gì cụ thể để mà đo và đếm" 

Phân tách vấn đề giầu nghèo của đời người cũng không phải là chuyện dễ dàng.  Nhiều lúc giầu và nghèo luân chuyển với nhau như bánh xe luân hồi: Giầu có thì hoang phí.  Hoang phí hết tiền của sinh ra nghèo. Nghèo sống cần kiệm chăm chỉ.  Cần kiệm chăm chỉ trở thành giầu có…

Trong khuôn khổ bài nhận định này, một cách chủ quan, tôi sẽ tìm cách phân tách nguyên do và hòan cảnh của sự nghèo khó của người mình và để cố gắng nêu ra (cũng lại chủ quan) một vài giải pháp khả dĩ.  Nếu có gì sơ xuất thì xin quí vị quan tâm bổ túc thêm.

Nguyên nhân nghèo

Tại sao nghèo"  Có nên trách người dân nghèo vì chính họ làm cho họ nghèo"  Hay là trách cái chính phủ ngu dốt đã theo đuồi các chính sách hại dân hại nước; chính sách đắp mô trên sự nghiệp thăng tiến của dân tộc"  hay vì lý do nào khác nữa"

(Oái ăm là nếu các cơ sở nhân đạo trên tòan thế giới lấy tất cả số tiền mà họ tài trợ cho các công cuộc nghiên cứu về nguyên do “nghèo đói” đem giúp đỡ thẳng cho người nghèo; thì nửa số người nghèo đã bớt nghèo rồi!!!) 

Về nguyên do, sự nghèo có thể được tạm phân lọai thành 2 nhóm như sau:

- Nghèo vì tự chính bản thân mình: Người lười biếng, thích chơi và ngủ hơn làm việc; nghèo vì ham cờ bạc, nghiện ngập, thích tiêu xài hoang phí…

- Nghèo vì hòan cảnh bên ngòai: Chính quyền ngu muội, dã man, tham nhũng sách nhiễu, lạm dụng bóc lột, làm sưu cao thuế nặng, kinh tế lạm phát, thất nghiệp, thời tiết, thiên tai, bệnh tật...

Ngân hàng thế giới lại phân người nghèo ra thành 2 thể lọai căn cứ vào đồng đô la:

- Nghèo rớt mồng tơi (extreme poverty) là lọai người sống với dưới 1 đô la mỗi ngày (US$ per person)

- Nghèo vừa vừa (moderate poverty) là lọai người sống với dưới 2 đô la mỗi ngày.

Nhìn vào nước Việt Nam qua lợi tức bình quân trên đầu người (“income per capita”), sau 63 năm đảng Cộng sản nắm chính quyền (1945) 33 năm sau khi “thống nhất đất nước” (1975), là $725.00 thì Việt Nam vẫn là nước rất nghèo.  Điểm đáng chú ý là 51% dân Việt vẫn còn nghèo trong tình trạng rớt mồng tơi (tức là dưới US$ 1.00 một ngày).

Qua lịch sử, câu nói sau đây của Lenin đã hòan tòan lỗi thời và sai bét:

“Nguyên do chính gây ra nạn nghèo trên thế giới là là chính sách thực dân của tây phương.”

Các quốc gia nghèo nhất trên thế giới chưa hề có bước chân của thực dân như: A Phú Hãn, Ethiopia, Tây Tạng và Liberia.  Đồng thời có một số quốc gia giầu bậc nhất trên thế giới cũng chưa hề có sự kiểm sóat nào của thực dân như: Thụy sỉ, Na Uy, Đan Mạch, Phần lan.  Trong khi cũng có các quốc gia giầu có lại là thuộc địa cũ như Hồng kông, Hoa Kỳ, Gia nã đại, Tân tây Lan…

Trở ngại chính của sự phát triển quốc gia là chính trị chứ không phải kinh tế, văn hóa hay tôn gíao (mặc dầu kinh tế, văn hóa hay tôn gíao cũng có ít hay nhiều đóng một vai trò phụ trong sự giầu nghèo của dân tộc!)

Hòan cảnh Việt Nam

Trong “Mười điều răn” của Thiên chúa giáo. Đã có đến 2 hai điều (20%) nhắn nhủ về vấn đề tôn trọng tài sản (tư hữu) của con người.

Điều 8 nói: “Không được trộm cắp.”

Điều 10 nói: “Không đươc tham của người.”

Hèn gì CS không thích Thiên Chúa gíao (và ngược lại!)

Có ý tham tài sản của người (điều 10) đã là một tội rồi; lấy trộm (điều 8) tức là “lấy” mà không có sự đồng ý của sở hữu chủ còn mang tội nặng hơn. 

Chính CS (và XNCH) đã hợp thức hóa vấn đề “lấy” của cải của người dân.  Họ không chỉ “lấy” mà ngang nhiên “cướp (!)”  đi tất cả những gì người dân tạo dựng ra từ mồ hôi nước mắt; và rồi rao giảng là làm như vậy để tạo một “xã hội công bằng tốt đẹp hơn.”  Sau 60 -70 năm (từ sau “cách mạng tháng 10” ở Nga và “cách mạng tháng 8” ở Việt Nam), sự công bằng vẫn chỉ là bánh vẽ.  Chỉ thấy “hướng dẫn sản xuất” dẫn đến kinh tế trì trệ, “giới hạn lợi bổng và chế độ bao cấp” dẫn đến năng xuất kém và tiêu diệt sáng kiến.  Chính phủ càng tăng gia sự kiểm sóat thì tự do của công dân càng bị thu hẹp…  CS một mặt không xây dựng được gì đã đành; lại còn phá hủy cái động cơ căn bản thúc đẩy sự sản xuất: “tư hữu.”   Người dân dưới chế độ CS càng ngày càng nghèo thêm; ngọai trừ một thiểu số cán bộ, nhân viên chính quyền giầu có nhờ tham nhũng, lường gạt dân chứ không phải vì họ lao động giỏi…

Ngay cả lý tưởng “công bằng xã hội” theo kiểu cộng sản (“cách mạng vô sản”) nghe cũng không ổn!  Gỉa dụ việc lấy hết của nhà giầu để chia cho nhà nghèo được thi hành một cách “nghiêm chỉnh” thì chính sách “nghiêm chỉnh” này tự nó đã “thiếu tinh thần sản xuất” rồi.  Theo John Tucci:

“Lấy của cải của người giầu -  bất kể giầu vì lý do gì (giầu vì làm việc siêng năng, may mắn hay thụ hưởng gia tài của cha ông, lường gạt, tham nhũng…) đem chia cho người nghèo sẽ không giúp ích gì cho người nghèo cả.  Bời vì giầu nghèo không phải là vấn đề có nhiều tiền của (hay ít tiền ít của) hơn người khác; chẳng khác gì người bị béo phì không phải vì Mc Donald bán hamberger và khoai chiên có nhiều dầu mỡ.  Ăn hamburger và khoai chiên có nhiều dầu mỡ là sự lựa chọn của mỗi người.”

Đúng như vậy" Ngòai ra, sự bố thí chẳng giúp ích gì cho người nghèo nếu nhìn theo chính sách về lâu về dài.  Nếu cho (free of charge!) người nghèo đói một con cá.  Họ ăn hết con cá đó thì ngày mai họ lại đói lại như thường.  Chính sách tốt là chính sách biết cách dậy (“gíao dục”) người nghèo làm sao biết cách “câu cá” thì mới mong họ tự túc kiếm ăn không bị đói.

Nhìn chung các nước nghèo (trong đó hiển nhiên có cả nước Việt Nam anh hùng) đều có vài điểm giống nhau. Ngòai chuyện thiếu ăn, thiếu mặc còn thấy ngay là nước đó có chế độc tài hoặc Cộng sản - hoặc có cả hai của quí “độc tài và CS” một lúc (Tôi đề nghị CS nên đổi lại khẩu hiệu mà họ thường trên in trên những hàng đầu các văn bản của nhà nước là: “Không có gì quí bằng độc tài và Cộng sản”) -  Không phải vì đất nước thiếu tài nguyên mà vì lãnh đạo độc tài CS phần lớn thất học, tham lam mông muội.  Họ chỉ lo vơ vét cho nhiều cho nhanh để vinh thân phì gia (hoặc bỏ vào nhà băng ở ngọai quốc); họ không hề để ý gì đến vấn đề giáo dục, y tế và an sinh của dân; không xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết tối thiểu như trường học, bệnh viện, đường xá… để giúp dân có cơ hội thóat ra cảnh nghèo đói triền miên của họ.

Chính quyền CS cứ ra rả hô hào “xóa đói, gỉam nghèo” mà chẳng thấy làm được cái gì cụ thể cả.  Họ không biết là dân chúng Việt Nam đang muốn thi hành điều cần thiết số 1 (“number ONE”) là “diệt bỏ chủ nghĩa cộng sản.”  Nếu trong một đêm, cứ mỗi một gia đình Việt Nam chia nhau xiết cổ 1 tên đảng viên CS là hôm sau nước Việt mới có thể có cơ hội “xóa đói giảm nghèo” được ngay!  Việt Nam có thể cùng sánh bước tiến hóa với dân tộc của tòan cầu được.

Chế độ CS và HCM sau khi ám sát, cắt đầu, mổ bụng, phá cầu, đắp mô, pháo kích vào khu đông dân cư, nướng bao nhiêu sinh mạng thanh niên Việt qua hết kháng chiến này đến chiến tranh nọ…  thành quả duy nhất mà họ đem đến cho nước Việt là làm cho đất nước tụt hậu từ 50 dến 90 năm.  Vinh quang ở chỗ nào"  Xin cho biết với!  Đời sống người dân  dưới chế độ CS  cứ dần dần chìm sâu hơn trong tuyệt vọng, không thấy lối thóat.  Con đường “hy vọng” ngắn nhất đi từ sự nghèo khó đến hy vọng sinh tồn có lẽ là phải làm những chuyện bất hợp pháp như trộm cắp, lường gạt, buôn bán ma túy và…  mãi dâm để sống qua ngày qua tháng.   Ngay cả những người lương thiện, ngay thẳng, trọng nhân phẩm cũng phải nghĩ đến việc phải phạm pháp, việc phải đáng xấu hổ chỉ vì họ có cha mẹ, có anh em, có con cái đang đang sống vất vưởng và trông cậy vào họ.  Thật là thương tâm khi phải nghĩ đến sự lựa chọn, sự hy sinh to tát của họ. 

Xứ sở nghèo (như Việt Nam) đều thiếu các cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông, nguồn nước sạch để uống, Ai cũng biết, sự giáo dục, học hành và sức khỏe sẽ mang lại một hy vọng cho người nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh bị đất của mình, những vùng nghèo lại thiếu trường học, thiếu cơ sở y tế tối thiểu.  Không thấy chính quyền CS thi hành các nỗ lực (xây dựng) nào để giúp người nghèo. Nếu có tạo được một vài cơ sở hạ tầng như trường học, trạm y tế, thì người dân nghèo (“bần cố nông nòng cốt của cách mạng!” “chủ của đất nước!”) lại bị hạ nhuc, bị đối xử tàn nhẫn khi họ có nhu cầu cần tiếp xúc với các nhân viên, cán bộ nhà nước (“đấy tớ của nhân dân!”) ở chính ngay các cơ sở hạ tầng nầy (hối lộ, các chế tài khắt khe, ngăn cấm…) 

Nhiều chủ gia đình nghèo Việt Nam thấy sự thất bại của mình trong việc xây dựng tương lai cho gia đình và con cái, thường quay ra nghiện rượu, đánh vợ đánh con, làm cho cơ cấu gia đình bị đổ vỡ, rồi xã hội đổ vỡ.  Chuyện tội phạm, vô luật lệ là chuyện bình thường của xứ nghèo. Đã xoá đói giảm nghèo không được, mà lại không có đủ phương tiện để chống phạm tội…   Cái vòng lẩn quẩn dường như khó mà xoay ngược lại được mà lại cứ thế lún xuống xâu hơn mỗi ngày.

Tiến trình của lịch sử thế giới cho thấy chủ nghĩa cộng sản chẳng sớm thì muộn rồi cũng sẽ bị tận diệt.  Thật oan trái! Cái nguyên nhân chính sẽ tiêu diệt CS lại là cái mà CS vẫn hô hào cổ võ: “vô sản” (sau khi đã thi hành “Trí, phú, địa, hào / Đào tận gốc, trốc tận rề!").   Vô sản làm lụt đi cái động năng tự nhiên thúc đẩy con người làm việc chăm chỉ hơn (để thêm lợi nhuận tư sản).  CS có khả năng làm đại đa số dân chúng nghèo bằng nhau những khó mà đem lại sự xung túc cho dân. CS biến văn minh dân tộc trở thành văn minh của các bộ lạc bán khai nơi đó tất các tài sản chung của bộ lạc (quốc gia) và tài sản của riêng của người dân mọi (dân chúng) đặt dưới sự “quản lý” của bộ lạc (nhà nước!)

Thể chế dân chủ hay độc tài chưa thể quyết định được sự thịnh vượng hay nghèo khổ của quốc gia. Phải nhìn vào hệ thống kinh tế của quốc gia đó mới thấy rõ được sự thành công hay thất bại. Ngày hôm nay nền kinh tế tư bản mặc dù không hoàn hảo (khủng hoảng kinh tế, sự cách biệt lớn lao giữa giầu và nghèo…) nhưng nó đưa ra nhiều kết quả tốt hơn là từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (nhà nước / giới cai trị kiểm soát mọi động tác trên sân chơi kinh tế).  Bởi vì “công bằng xã hội” và “động lực phát triển kinh tế” không nằm chung giường với nhau được.

CS có khả năng lật đổ, “cướp” chính quyền nhưng hoàn toàn không có khả năng đưa ra một phương cách cải tiến đời sống và tiện nghi của dân tộc. Đại đa số quần chúng đã nghèo từ trước vẫn nghèo như muôn thuở; Chẳng những thế, số người nghèo lại còn gia tăng thêm gấp bội hơn lúc trước.  Sự thể này đã thấy rõ rệt ở các quốc gia trước đây theo chế độ CS như Liên xô, CS Đông âu… Hầu hết các các quốc gia có nền kinh tế tư bản đều là nước dân chủ – có nghĩa là chính quyền được dân bầu lên một cách dân chủ chứ không phải được chỉ định bởi 1 thiểu số hay 1 đảng phái.  Dân nghèo, bị ép vế dưới chế độ tư bản sẽ áp lực các đại biểu của họ thi hành các biện pháp (hay thông qua các dự luật) để thay đổi hoàn cảnh của họ. Nhưng ngược lại, người nghèo, yếu thế dưới chế đó CS hoàn toàn bất lực, đó là chưa kể chính quyền CS lấy đâu ra tiền (capital) và mậu dịch (trade) – 2 món mà họ luôn luôn đã phá - để cải tiến mức sống của dân nghèo"  Các nước tư bản tiến bộ vì dị biệt về quan điểm ý thức hệ với CS, không tha thiết gì về việc giúp đỡ các lân bang CS.  Thành ra, cách tốt nhất, các chính quyền CS phải lấy / cướp của nhà giàu, trên nguyên tắc là, chia bớt cho người nghèo (") (đánh tư sản mại bản cho đến tận gốc rễ, cái cách ruộng đất một cách phi lý, đẫm máu).

Ở cuối con đường, các tài sản bị cướp từ các giới tư sản và địa chủ không vào tay dân nghèo mà lại vào tay của các cán bộ, đảng viên của giai cấp lãnh đạo (cò gọi “giai cấp mới”). Xã hội mất hẳn ý chí sản xuất (vì sản xuất ra lại sợ bị tịch thu…) như vậy lấy đâu ra vốn và kỹ thuật để làm gia tăng sản xuất, gia tăng mức sống…  Nghèo sẽ là chuyện đương nhiên – hãy nhìn lại thêm một lần nữa Liên xô, Đông âu, Cuba, Bắc Hàn,  Kampuchia, Việt Nam…) - 

Cơ hội giàu có sung túc của một dân tộc rõ ràng không chỉ căn cứ trên địa lý, văn hoá mà cả chính sách kinh tế và thể chế chính trị của dân tộc…  75 năm lịch sử cận đại đã chứng minh rõ rệt điều này. 

Tự nhiên, trong hai cái xấu, tốt nhất là mình nên chọn cái nào xấu it hơn.  Bài học sai lầm (lựa chọn cái xấu!) của dân tộc đã dài 60 - 70 năm rồi.  Mình đâu có sống lâu để đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Hãy khôn ngoan học cái sai lầm của các dân tộc khác.

Việt Nam đứng lên.

Trần Văn Giang

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 là một ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại, cũng là dịp để chúng ta cùng nhau hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những gì mà dân tộc đã sống trong 50 năm qua. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc chiến tranh và đáng lẽ phải mở ra một vận hội mới huy hoàng cho đất nước: hoà bình, thống nhất và tái thiết hậu chiến với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Nhưng thực tế đã đánh tan bao ước vọng chân thành của những người dân muốn có một chỗ đứng trong lòng dân tộc.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Sau ngày nhậm chức, Tổng thống Donald Trump đã ban hành hàng loạt sắc lệnh hành pháp và bị một số tòa án tiểu bang chống đối và hiện nay có hơn 120 vụ tranh tụng đang được xúc tiến. Trump cũng đã phản ứng bằng những lời lẽ thoá mạ giới thẩm phán và không thực thi một số phán quyết của tòa án. Nghiêm trọng hơn, Trump ngày càng muốn mở rộng quyền kiểm soát hoạt động của các công ty luật và công tố viên nghiêm nhặt hơn. Trong khi các sáng kiến lập pháp của Quốc hội hầu như hoàn toàn bị tê liệt vì Trump khống chế toàn diện, thì các cuộc tranh quyền của Hành pháp với Tư pháp đã khởi đầu. Nhưng Trump còn liên tục mở rộng quyền lực đến mức độ nào và liệu cơ quan Tư pháp có thể đưa Trump trở lại vị trí hiến định không, nếu không, thì nền dân chủ Mỹ sẽ lâm nguy, đó là vấn đề.
Khi Bạch Ốc công bố công thức tính thuế lên các quốc gia với các thang thuế khác nhau, người ta nhận ra đó chỉ là một một phép tính toán học căn bản, chẳng liên quan đến kinh tế học hay mậu dịch lẫn các dữ liệu thực tế nào cả. Chúng chỉ là những số liệu vô nghĩa và phi lý. Việt Nam không đánh thuế hàng Mỹ đến 90% và đảo hoang của những chú chim cánh cụt có liên quan gì đến giao thương. Điều này thể hiện một đối sách vội vã, tự phụ và đầy cảm tính, cá nhân của Donald Trump nhằm tạo áp lực lên thế giới, buộc các nước tái cân bằng mậu dịch với Mỹ hơn là dựa trên nền tảng giao thương truyền thống qua các hiệp ước và định chế quốc tế. Hoặc nhỏ nhặt hơn, để trả thù những gì đã xảy ra trong quá khứ: Trump ra lệnh áp thuế cả những vật phẩm tâm linh từ Vatican đưa sang Mỹ như một thái độ với những gì đức Giáo Hoàng Francis từng bày tỏ.
Tổng thống Donald Trump vào hôm qua đã đột ngột đảo ngược kế hoạch áp thuế quan toàn diện bằng cách tạm dừng trong 90 ngày. Chỉ một ngày trước đó đại diện thương mại của Trump đã đến Quốc Hội ca ngợi những lợi ích của thuế quan. Tuần trước chính Trump đã khẳng định "CHÍNH SÁCH CỦA TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI". Nhưng Trump đã chịu nhiều áp lực từ những nhân vật Cộng Hòa khác, các giám đốc điều hành doanh nghiệp và thậm chí cả những người bạn thân thiết, đã phải tạm ngừng kế hoạch thuế quan, chỉ duy trì thuế căn bản (baseline tariff) 10% đối với tất cả những đối tác thương mại.
Trật tự thế giới là một vấn đề về mức độ: nó thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào các yếu tố công nghệ, chính trị, xã hội và ý thức hệ mà nó có thể ảnh hưởng đến sự phân phối quyền lực trong toàn cầu và ảnh hưởng đến các chuẩn mực. Nó có thể bị thay đổi một cách triệt để bởi các xu hướng lịch sử rộng lớn hơn và những sai lầm của một cường quốc. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, và gần một năm trước khi Liên Xô sụp đổ vào cuối năm 1991, Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã tuyên bố về một "trật tự thế giới mới". Hiện nay, chỉ hai tháng sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, Kaja Kallas, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh châu Âu, đã tuyên bố rằng "trật tự quốc tế đang trải qua những thay đổi ở mức độ chưa từng thấy kể từ năm 1945". Nhưng "trật tự thế giới" là gì và nó được duy trì hoặc phá vỡ như thế nào?
Hãy bắt đầu niềm tin này với câu nói của John Kelly, tướng thủy quân lục chiến hồi hưu, cựu Bộ trưởng Nội an, cựu chánh văn phòng của Donald Trump (2018): “Người phát điên vì quyền lực là mối đe dọa chết người đối với nền dân chủ.” Ông phát biểu câu này tại một hội nghị chuyên đề về nền Dân chủ ở Mount Vernon vào tháng 11/2024, ngay tại ngôi nhà của George Washington, vị tổng thống đầu tiên, người mở ra con đường cho nền dân chủ và tự do của Hoa Kỳ. Không đùa đâu! Tướng Kelly muốn nói, những người phát điên vì quyền lực ấy có thể giữ các chức danh khác nhau, thậm chí là Tổng Thống, nhưng trong thâm tâm họ là bạo chúa, và tất cả các bạo chúa đều có cùng một đặc điểm: Họ không bao giờ tự nguyện nhượng quyền lực.
Gần đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố áp dụng chính sách áp thuế 25% đối với ô tô nhập khẩu vào Mỹ, trước đó Trump cũng đã áp đặt biện pháp trừng phạt chung đối với Liên Âu, Canada, Mexico và Trung Quốc, nhưng lại tạm hoãn trong 30 ngày để cho Canada và Mexico thương thuyết. Các biện pháp bất nhất này gây nhiều hoang mang cho chính giới và doanh nghiệp các nước đối tác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.