Hôm nay,  

Mùa Xuân Đầu Tiên

06/02/201000:00:00(Xem: 5888)

Mùa Xuân Đầu Tiên

Hải Âu
Đức Cơ, ngày… tháng… năm 19…
Hà thân quý,
Sau mấy ngày ăn Tết sớm với gia đình, Chiến trở lại đơn vị vào trưa 30 tháng chạp. Chưa kịp nghỉ ngơi thì xế chiều lại được lệnh ba lô lên đường gấp vào Đức Cơ. Hà thấy không, lính chiến là thế đấy, đánh nhiều hơn nghỉ.
Cũng may mấy ngày ở tuyến án ngữ này vẫn bình yên vô sự. Có lẽ địch đã rêm mình ê càng sau khi bị chiến đoàn Mãnh Sư mình dập cho một trận te tua tan tác vào ba ngày đưa Ông Táo về trời.
À… Vì mãi đọc lệnh hành quân, suýt nữa Chiến quên mất chuyện này nếu không nhờ chú lính "bếp" nhắc, "Còn túm này nữa… Thẩm quyền" - "À há… Cám ơn em… Xách theo giùm qua đi". "Túm này" là cái giỏ lác có hai đòn bánh tét, một hũ dưa chua củ kiệu của má Chiến và bịch bánh mứt Hà làm với cái thiệp xuân mà Hà tặng cho. Lại thêm mấy chục cái thiệp xuân của các bạn cùng lớp tự làm lấy nhờ Hà chuyển đến các anh chiến sĩ trong đơn vị Chiến. Những tấm thiệp ấy tuy đơn sơ tuy "học trò" nhưng chứa chan tấm lòng hậu phương nồng ấm. Cám ơn Hà và các bạn nhiều lắm.
Hà này,
Một tuần phép của Chiến qua cái vèo, lẹ quá. Nhưng vậy cũng đủ rồi, cũng diễm phúc hơn những người lính chiến khác rồi. Trong lúc mình ăn Tết với gia đình với người thân thì những người lính chiến ấy phải trực diện với kẻ thù, với bất trắc hiểm nguy trên chiến trường để cho hậu phương này được yên bình.
Ngày Chiến đột ngột về phép, cả nhà ngạc nhiên lắm. Ba Chiến vui trong ánh mắt nhưng nụ cười thì không trọn vẹn vì ba biết rằng Chiến lại cũng sẽ phải ra đi; rồi môi ba mấp máy "Con về… nhà vui lắm… ấm cúng hẵn lên". Má ôm chầm lấy Chiến reo mừng trong nước mắt "Trời… Chiến… Con về đó hả" Phép được mấy ngày" Ở chơi qua Tết không"". Chiến nghẹn lời "Một tuần thôi má à!". Thằng em kế thiệt tình… xúi "Dù thêm mấy ngày sau Tết đi anh Hai" - "Đâu được mạy". Con Út Nhè, nay đã lớn bộn, tía lia cái miệng "Chị Hà nhắc anh hoài… Qua bển thăm chỉ chút" - "Ờ… Tau sẽ qua".
Khỏi nói Hà cũng biết, mấy ngày này nhà Chiến vui lắm rộn ràng lắm. Ngày Chiến về, tuy ba má chẳng dư dủ gì mấy nhưng cũng sắm sửa "cầu dừa đủ xài", cũng có bánh chưng xanh nhưng không có cây nêu tràng pháo.
Lâu lắm rồi, cũng bốn năm rồi, từ ngày ra đơn vị đến nay, đây là lần đầu Chiến được về phép Tết, được thắp nhang vọng nhớ gia tiên, được chúc Tết mừng tuổi ba má và hai đứa em dại. Chắp tay trước bàn thờ gia tiên, Chiến thành tâm cầu nguyện cho đất nước mình sớm chấm dứt chiến tranh để người người được sống yên lành trong thanh bình. Lại nữa, mấy ngày phép ngắn ngủi ấy được trò chuyện với Hà, Chiến vui lắm, cảm thấy mình được an ủi được chia sẻ thật nhiều. Cám ơn Hà nhiều lắm.
Nhớ chiều hôm đó, trên bãi cỏ xanh mát sau nhà Hà, ngồi cắn hột dưa nhâm nhi bánh mứt trò chuyện với nhau đó, Hà và Chiến đã kể cho nhau nghe thật nhiều về chuyện vui buồn thời đi học, chuyện buồn vui đời lính. Những mẫu chuyện không đầu không đuôi ấy sao mà vui quá, gợi lại bao kỷ niệm láng giềng của nhau, thật là thích thú, dễ gì quên, Hà há! Và, với ngón đờn vụng về, Chiến khua điệu rumba đệm bài Hoa Soan Bên Thềm Cũ của Tuấn Khanh qua cái giọng ồ ề của mình.
Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi
xa vắng miền quê bao năm rồi
về gặp em ngây thơ duyên dáng
hôm xưa tiễn anh nơi cuối làng

"Hay quá… Hay quá… Chiến!" - "Nhạc hay chớ Chiến hát không hay đâu!" - "Không… Chiến hát cũng hay nữa mà! Gì thì gì, với Hà… Chiến vẫn hát hay nhứt… Thiệt đó… Bis… Bis… đi Chiến!". Chiến lại hát, và thiệt hồn nhiên, Hà vói tay vỗ nhịp lên thùng đờn hát theo



Em nhé mình thương nhau muôn đời
anh giữ gìn biên cương xa vời
Đừng buồn khi xa nhau em nhé
thăm em đôi ngày rồi anh đi.
Chẳng hiểu sao, cái đoạn cuối này mình hát đi hát lại vài lần. Mà Hà biết không, cũng chẳng hiểu sao hôm đó tiếng hát tiếng đờn chẳng ăn nhập gì với nhau hết. Nhớ lại, Chiến thấy mình… quê quá.
Hôm sau mình đi coi Hội Chợ Tết ở chi khu - cái hội chợ trong tiếng đại bác ầm ầm từ xa vọng về -- tuy không vui không nhộn nhịp gì mấy nhưng cũng đủ nhắc mình nhớ lại những cái Tết truyền thống thanh bình của mười mấy năm về trước. Trong nắng Xuân tươi mát, cùng Hà đi vòng vòng khu chợ Tết, Chiến nghe lòng mình lâng lâng giữa các sạp bánh mứt trái cây, giữa các hàng hoa tươi mà người ta đã chuẩn bị chăm sóc từ mấy tháng trước. Chỉ thiếu pháo điển pháo tống cho thêm phần rộn rã vui nhộn trong ba ngày Tết. Lệnh nghiêm cấm đốt pháo được ban hành từ sau cái Tết Mậu Thân chết chóc do giặc Cộng hiếu chiến gây ra trên toàn cõi miền Nam đó, đã làm mất đi ý nghiã "tống cựu nghênh tân" xưa nay của dân tộc mình.
Trước ngày trở lại đơn vị, Chiến đến chào má Hà. Chiến sung sướng đến cảm động khi má Hà xem mình như người thân trong nhà. Bà cụ hiền lành phúc hậu quá. Ba Hà thì bị giặc bắt trên đường về tỉnh lỵ họp Hội Đồng Tỉnh, vẫn chưa biết tin tức gì thêm. Bên tách trà thơm nóng và dĩa bánh mứt khéo làm, má Hà hỏi "Chừng nào cháu lấy vợ"". Chiến thiệt tình thưa "Dạ… Cháu là lính tác chiến, biết sấp ngửa lúc nào, nên chưa dám nghĩ đến chuyện vợ con". Bà cụ chép miệng "Thiệt khổ cho tuổi trẻ các cháu… Chiến tranh hoài… ". Còn ba Hà thì không biết bây giờ ra sao, biết đâu… Chiến không khỏi xúc động khi má Hà đưa tay ôm lấy ngực mình, đôi mắt nhòe đi.
Khi chào má Hà ra về, bà ấn vào tay Chiến cái poncholine còn trong bao nylon mới tinh, "Cháu đem theo đắp cho ấm, trong rừng trong núi lạnh lắm". Chiến cám ơn bà và từ chối hoài không được. Bà kiễng chân hôn lên trán Chiến, giọng xa xôi "Tội nghiệp… Thằng Hoàng con cô nếu còn sống thì cũng bằng tuổi cháu. Nó bỏ cô chú ra đi lúc một tuổi vì cô thiếu sữa cho nó bú hồi tản cư, trước ngày Quốc Gia tiếp thu".
Nhớ Hà hỏi, lính chiến đón Xuân ăn Tết ra sao. Như thế này… Hà, ngộ lắm... Rút kinh nghiệm Tết Mậu Thân, vào những ngày cuối năm, lính thường đón… đánh "cái bọn cắn trộm" hơn là đón Xuân. Còn ăn Tết thì tụi này ăn… ngay bên chiến hào. Năm nay, cùng với những món quà Tết do hậu phương gởi ra tiền tuyến hằng năm, còn có chút ít bánh mứt dưa chua Chiến mang theo nữa, anh em trong đại đội mình chia sớt nhau mỗi người một chút; một chút thôi nhưng cũng đủ cho họ nhớ nhà lắm, ấm lòng lắm; và cũng biết được tấm lòng nồng hậu của hậu phương vẫn luôn hướng về mình, đó là một an ủi lớn lao dành cho lính chiến.
Hà biết không, chú lính "bếp" của mình coi vậy mà có tài, văn nghệ một cây. Nó hát không hay nhưng lại hay hát, đại đội vui thêm là cũng nhờ nó. "Nhớ nhà không… Hát bài gì đi mạy"" - "Bài Mùa Xuân Đầu Tiên của Tuấn Khanh… nghen… Thẩm quyền" - "Ờ… Hát đi!". Ngay bên chiến hào, nó nhẹ tay vỗ nhịp lên báng súng, cất tiếng hát
Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy
anh trở về bên em
Bao lần ngồi thâu đêm
nghe mùa xuân vừa đến
…*
Xin yêu thương đến vơi hận thù
để tiếng hát hôm nay
người chiến sĩ mơ say
bên đàn trẻ bé thơ ngây.
Bốn câu cuối này là ước mơ chân thành của người lính và cũng là ước mơ muôn đời của hằng triệu người dân Việt hiền lành mình, phải không Hà"
Thôi nha… Thân quý chúc Hà mọi sự an lành.
Mến thư,
Chiến "láng giềng"
Hải âu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.