Hôm nay,  

Nghị Sĩ Obama Và Thế Giới

27/05/200800:00:00(Xem: 10160)

...Obama có vẻ say sóng, nghĩ rằng ông chỉ cần gặp các đồ tể ở Bắc Hàn, Iran, Syria, Cuba...

Năm 2000, đảng Cộng Hoà đề cử Thống đốc George W. Bush của Texas ra đối đầu với Phó tổng thống Al Gore bên đảng Dân Chủ để tranh cử tổng thống. Ông Bush đưa ra chương trình tranh cử gồm ba điểm chính, có tính cách thuần túy nội bộ: cắt thuế, cải tổ giáo dục, và cải tổ quỹ an sinh xã hội. Ông hoàn toàn lơ là các vấn đề bang giao và an ninh thế giới. Và khẳng định rằng nước Mỹ không thể đóng vai trò cảnh sát hay dựng nước cho thế giới.

Lập trường của ông Bush không là điều bất ngờ. Ông nổi tiếng là người không thèm nhìn xa hơn biên giới nước Cờ Hoa. Quốc gia duy nhất mà ông đã viếng thăm trong suốt cuộc đời cho đến ngày đắc cử tổng thống là Mễ Tây Cơ, vì ở sát nách tiểu bang Texas của ông.

 Tuy tổng thống Bush chú tâm vào các vấn đề nội bộ, thực tế là sau gần tám năm cầm quyền, người ta thấy những chương trình cải cách nội bộ của ông chẳng đi đến đâu. Ngược lại, ông đi vào lịch sử qua những khủng hoảng đối ngoại như vụ tấn công 9/11 của Al Qaeda, và các cuộc chiến Afghanistan và Iraq.

Đúng ra, điều ấy không có gì đáng lạ.

Với nước Mỹ trong tư thế đại cường quốc -dĩ nhiên có người gọi là đại đế quốc- chi phối hay ít ra cũng có ảnh hưởng lớn trên mọi chuyện trên thế giới, tổng thống Mỹ thường là người can dự, có vai trò quyết định trong các vấn đề an ninh thế giới, và để lại ấn tượng lâu dài trong lịch sử.

TT Roosevelt với đệ nhị thế chiến, TT Truman với chiến tranh Triều Tiên, TT Eisenhower với cuộc chiến tranh lạnh chống khối Cộng Sản, TT Kennedy với các cuộc khủng hoảng Cuba và Bá Linh, TT Johnson với cuộc chiến tại Việt Nam, TT Nixon với cái bắt tay với Mao và Kosygin để chấm dứt chiến tranh Việt Nam và vẽ lại bản đồ Tam Quốc Mỹ-Nga-Hoa, TT Ford với cuộc tháo chạy tại Việt Nam, TT Carter với các cuộc bỏ rơi đồng minh tại Phi Luật Tân, Nicaragua, và nhất là tại Iran, mở màn cho phong trào Hồi Giáo quá khích bành trướng trên khắp thế giới, TT Reagan với sự xụp đổ của bức màn sắt, TT Bush (cha) với cuộc chiến giải phóng Kuwait, và TT Clinton với cuộc chiến tại Nam Tư và sự phát huy thế lực của Osama Bin Laden.

Đó là chưa nói đến những ảnh hưởng kinh tế, tài chánh, xã hội, văn hoá…

Nhìn vào tình huống trên, không ai có thể phủ nhận được vai trò cực kỳ quan trọng của tổng thống Mỹ trên bình diện thế giới. Và như vậy thì đương nhiên khả năng và kinh nghiệm về bang giao quốc tế của một ứng viên tổng thống Mỹ là điều quan yếu số một.

Cuộc chạy đua vào Tòa Nhà Trắng năm nay đã gần như ngã ngũ. Bên Cộng Hòa là Thượng nghị sĩ John McCain, bên Dân Chủ là Thượng nghị sĩ Barack Obama.

Nếu so sánh về khả năng hùng biện và hứa hẹn thì McCain chưa đáng làm học trò cho Obama, mặc dù già hơn một phần tư thế kỷ. Nếu so sánh về kinh nghiệm chính trị quân sự thì McCain là một cuốn tự điển trong khi Obama là trang giấy trắng tinh.

Hãy thử nhìn vào Thượng nghị sĩ Barack Obama.

Obama có bố là sinh viên da đen Kenya theo Hồi giáo du học tại Mỹ, mẹ là một bà Mỹ trắng. Ông được sanh ra tại Hạ Uy Di. Ông mới hai tuổi thì bố bỏ về Kenya, mẹ tái giá với một người Indonesia, cũng theo đạo Hồi. Và ông qua Indonesia sống ít năm. Sau đó về Hạ Uy Di sống với ông bà ngoại. Dựa trên tính đa dạng này, ông tự cho là người có hiểu biết nhiều nhất về tính đa dạng văn hóa của nhân loại, do đó có khả năng quản lý bang giao thế giới hữu hiệu nhất.

Nếu ta bỏ qua chuyện ông Obama sống tại Nam Dương từ năm lên sáu đến năm lên mười, hay chấp nhận ông là một thứ siêu thần đồng, thì nghe thì có vẻ hợp lý, nhưng thực tế thì có hơi khác.

Dưới đây là thí dụ điển hình về khái niệm bang giao quốc tế của ông Obama.

Trong một cuộc tranh luận giữa các ứng viên Dân Chủ, ông Obama được hỏi ông có nhận đi gặp vô điều kiện các lãnh tụ đối địch với Mỹ không, thì ông trả lời ngay là “có”. Cho đến nay, ông vẫn khẳng định lập trường là ngay trong năm đầu làm tổng thống sẵn sàng đi gặp vô điều kiện các kẻ thù chống Mỹ đến cùng, như Ahmadinejad của Iran, Chavez của Venezuela, Castro của Cuba, Kim Jong Il của Bắc Hàn, Assad của Syria, tuy chưa nghe ông nói gì về Osama Bin Laden. Ông tuyên bố “tôi hy vọng dân Mỹ sẽ không hiểu đó là một sự yếu thế, mà là sáng suốt, giống như Kennedy, hay Roosevelt, hay Truman đã làm”.

Đây là một câu tuyên bố mà vì đang bận tung hô ông nên hình như báo chí cấp tiến (thiên tả) đã quên không ghi nhận, nhưng làm nhiều người đã lo về Obama đâm ra… xanh mặt hơn nữa.

TT Roosevelt trong thời đệ nhị thế chiến chưa bao giờ đi nói chuyện với Hitler hay Mussolini hay Nhật Hoàng Hirohito. Trái lại ông tung toàn lực tài chánh và quân sự của Mỹ ra để đánh kẻ thù, còn nhấn mạnh là đòi hỏi mấy kẻ thù này phải đầu hàng, buông vũ khí vô điều kiện, không điều đình nói chuyện gì hết.

TT Truman là người quyết định ném hai trái bom nguyên tử xuống Nhật mà chẳng cần tham khảo ý kiến Nhật Hoàng. Ông cũng là TT gửi quân qua Nam Hàn, đánh trước rồi mới chịu cho Bắc Hàn điều đình để tình trạng trở lại như trước chiến tranh. Không có chuyện đi gặp Mao hay Kim Nhật Thành vô điều kiện.

Như vậy, dựa vào đâu mà Obama lại nhắc đến chuyện các TT Roosevelt và Truman đã đi gặp kẻ thù" Hay là ý ông Obama muốn nói đến các cuộc gặp gỡ giữa các vị này với Staline, lãnh đạo cộng sản Liên Xô" Nhưng nếu như vậy thì ông Obama đã… bé cái lầm to rồi.

Khi Roosevelt gặp Staline tại Yalta, hay Truman gặp Staline tại Postdam, cùng với thủ tướng Anh Churchill để phân chia thế giới, thì lúc đó Staline chưa phải là kẻ thù của Mỹ, mà vẫn còn là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ trong cuộc chiến chống trục Phát-xít Đức-Ý-Nhật. Sau khi quân đội Mỹ và Hồng Quân Liên Xô cùng nhau chiếm được thủ đô Bá Linh của Hitler, hai đạo quân chiến thắng ôm nhau mở tiệc liên hoan chung.

Vẫn chưa phải là kẻ thù.

Chỉ sau khi Liên Xô biến các nước Đông Âu được Hồng Quân giải phóng thành chư hầu, cộng sản hóa mấy xứ này, và phong tỏa Bá Linh thì Mỹ-Nga mới trở thành kẻ thù thôi. Khi đó thì TT Truman quyết định không nói chuyện với Staline, lập cầu không vận giải tỏa Bá Linh, tung hàng tỷ Mỹ Kim vào Tây Âu trong chương trình Marshall đề tái thiết khu vực này dựa trên chiến lược sau này trở thành nền tảng của “chủ thuyết Truman” (Truman doctrine): ngăn cản sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.

Thượng nghị sĩ Obama hình như không thuộc lịch sử thế giới gì mấy.

Còn TT Kennedy" Đúng, ông này có đi qua thủ đô Áo Vienna để gặp Khruschev sau vụ thảm bại tại Vịnh Con Heo ở Cuba. Người ta còn nhớ tại vịnh này, TT Kennedy cho tàu Mỹ đổ bộ quân giải phóng chống cộng Cuba để tính chuyện lật đổ Fidel Castro. Quân giải phóng vừa cặp vào bờ đã bị quân Castro đánh mạnh. Thay vì đổ quân vào tiếp sức, Kennedy hốt hoảng, ra lệnh hải quân Mỹ rút lui ngay, khiến tất cả quân giải phóng hoặc bị giết, hoặc bị bắt làm tù binh.

Cuộc gặp gỡ tại Vienna giữa Kennedy và Khruschev được ghi vào lịch sử như một cuộc “thăm dò” của Khruschev. Kết quả, Khruschev xác định vị tổng thống trẻ này đúng là tay mơ, không có chút kinh nghiệm về mấy canh bạc bịp cao cấp trên thế giới. Hai tháng sau cuộc họp mặt, Khruschev cho xây bức tường ô nhục Bá Linh, rồi vài tháng sau cho mang hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử vào Cuba.

Tiếp theo như chúng ta đều biết, thế giới tiến sát đến đệ tam thế chiến khi Kennedy bị bắt buộc phải có hành động, phong tỏa Cuba. Báo chí Mỹ cho đến nay vẫn tung hô thần tượng Kennedy đã chiến thắng vẻ vang trong trận thử lửa nguyên tử với Nga vì Khruschev ra lệnh rút hết hỏa tiễn nguyên tử ra khỏi Cuba.

Điều mà ít báo ghi nhận là thật ra đây là một chiến thắng chắc nịch của… Khruschev, chứ không phải của Kennedy.

Số là trước khi xẩy ra vụ khủng hoảng này, Mỹ đã có vài giàn hỏa tiễn nguyên tử ở Thổ Nhĩ Kỳ, chỉa thẳng vào các yếu huyệt của Nga từ thời tổng thống Eisenhower. Nga chẳng có cách nào bứng đi. Cho đến khi Khruschev quyết định tháu cáy Kennedy bằng cách mang hỏa tiễn vào Cuba. Hai bên điều đình, đưa đến một kết quả rùm beng là Nga rút hoả tiễn khỏi Cuba, và một kết quả kín đáo hơn là Mỹ rút hết hỏa tiễn khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, và cam kết là  không lật đổ chế độ Fidel Castro! Khruschev đã thực hiện được ý định.

Trở lại câu chuyện của ông Obama.

Nếu ông này dựa vào thành tích của các TT Roosevelt và Truman, thì ông hoàn toàn không thuộc sử ký cận đại. Còn nếu Obama dựa trên kinh nghiệm của TT Kennedy, thì chúng ta chỉ có nước đọc kinh cầu nguyện thôi.

Nếu tổng thống Obama quyết định đi gặp tổng thống Ahmadinejad của Iran vô điều kiện, thì chẳng hiểu sẽ giải quyết được chuyện gì, có lợi gì. Chắc chắn Iran sẽ không chấm dứt chương trình phát triển vũ khí nguyên tử, chắc chắn vẫn coi Do Thái như kẻ thù phải bị tiêu diệt, và chắc chắn vẫn lén lút yểm trợ các nhóm vũ trang Shiites gây rối bên Iraq. Vì tất cả đều là những chương trình “sinh tử” mà Iran không thể bỏ qua để chiều lòng Obama. Chẳng có lợi gì cho Mỹ mà chỉ tăng uy tín của Ahmadinejad vì tổng thống Mỹ đã phải xin gặp.

Cũng có thể ông Iran này lượng giá kinh nghiệm và ý chí của Obama, kết luận là Obama là tay mơ giống như Khruschev đã đánh giá Kennedy, chờ cho Obama rút hết quân Mỹ ra khỏi Iraq rồi xua quân Iran qua chiếm vài mỏ dầu phía đông bắc Iraq, sát ngay biên giới Iran. Quân Mỹ một khi đã rút ra rồi sẽ không thể trở lại được. Bài học này Iran đã học được tại miền Nam Việt Nam năm 74-75.

Hay tệ hơn nữa, Iran quyết định liên minh với Syria, dùng các tổ chức khủng bố Hezbollah và Hamas đánh Do Thái. Nước Mỹ và tổng thống Obama sẽ bắt buộc phải bảo vệ Do Thái. Đại chiến tại Trung Đông mở màn, với tất cả những hậu quả lớn lao khó lường được. Có thể dân Mỹ không cần biết chuyện Do Thái và Hồi giáo giết nhau, nhưng chắc sẽ ngủ không yên khi thấy giá xăng tăng lên đến mười đô một ga-lông, hay có khi không có xăng để mua nữa.

Một nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Iraq cũng đã lên tiếng, đặt vấn đề tại sao ông Obama sẵn sàng đi gặp TT Ahmadinejad, là người đang cung cấp súng đạn giết lính Mỹ tại Iraq" Trong khi ấy, họ  hỏi tiếp, Obama lại không đi Iraq một lần nào và cũng chưa hề gặp đại tướng Petraeus một lần nào đề tìm hiểu về cuộc chiến tại Iraq.

Bà Hillary và ông McCain, ngược lại, đã đi thăm chiến trường và nói chuyện với tướng Petraeus rất nhiều lần, trong khi xác định không muốn gặp Ahmadinejad.

Obama có tố cáo chính Bush cũng đã và đang nói chuyện với Bắc Hàn và Lybia. Đúng vậy, nhưng điểm quan trọng là đích danh TT Bush -hay ngay cả Ngoại trưởng Mỹ- chưa bao giờ gặp các lãnh tụ độc tài của mấy xứ đó, trong khi Obama sẵn sàng đích thân đi gặp họ với tư cách tổng thống Mỹ.

Phe Dân Chủ cũng nêu lên thí dụ là TT Nixon đã đi gặp kể thù Mao, nhưng lại quên rằng cuộc gặp gỡ Nixon-Mao chỉ có sau khi Kissinger và Châu Ân Lai đã đi đêm với nhau hơn hai năm trời, trao đổi không biết bao nhiêu điều kiện và thỏa thuận.

Nói chuyện với phe đối địch nhiều khi cần thiết để giải quyết xung đột. Vấn đề ở đây là vai trò của tổng thống Mỹ. Ông không thể là một người phải đi nói chuyện với bất cứ tên khủng bố hay nhà độc tài nào một cách khơi khơi, hấp tấp, vô điều kiện như Obama chủ trương. Chỉ làm cho những tay này thêm uy tín và thêm hung hăng thôi.

Cũng cần ghi nhận thêm là sau khi bị chỉ trích nặng nề, Obama đã “điều chỉnh” lập trường, rằng ông sẵn sàng đi gặp vô điều kiện, nhưng không có nghĩa là “không có chuẩn bị bằng các cuộc gặp gỡ cấp thấp hơn”. Như vậy thì có gì khác với Bush đâu" Thay đổi chỗ nào" Lưỡi nào thì cũng không xương, nhưng lưỡi của Obama thì quả là dẻo.

Hơn nữa, nếu không khéo thì sẽ chỉ bị địch thủ lợi dụng. Kinh nghiệm hòa đàm Ba-Lê giữa Mỹ và Việt Cộng thật rõ ràng. Việt Cộng chỉ ngồi vào bàn họp để có dịp mua thời gian và ru ngủ Mỹ trước những trận công kích những năm 1968, 1972 và 1975.

Trong lịch sử cận đại, đã có hai nhà lãnh đạo dân chủ đi gặp một nhà độc tài hiếu chiến đầy tham vọng, vô điều kiện, mang về được một lá thư cam kết hoà bình. Hai ông khoe rằng đã làm nên lịch sử, đã tránh được chiến tranh để bảo đảm hòa bình lâu dài cho thế giới. Mọi người có quyền ăn no ngủ kỹ, không phải đề phòng lo lắng gì nữa. Nhưng chỉ vài tháng sau, nhà độc tài này bất ngờ tung quân ra đánh chiếm Tiệp Khắc và Ba Lan, mở màn cho đại chiến lớn nhất lịch sử nhân loại, với hậu quả là cả mấy chục triệu người bị tử vong. Đó là câu chuyện thủ tướng Anh Chamberlain và thủ tướng Pháp Daladier đi gặp Hitler trước khi đệ nhị thế chiến xẩy ra.

Gần đây, trong một bài diễn văn đọc trước quốc hội Do Thái, TT Bush đã nhắc lại chuyện của Chamberlain và Daladier để cảnh giác những người muốn vuốt ve kẻ thù quá khích. TT Bush không nói đích danh ông ám chỉ ai, nên không ai biết ông ám chỉ vài lãnh tụ Âu Châu chủ trương nói chuyện với các nhóm Palestine quá khích, hay ám chỉ bà Chủ tịch Hạ Viện Nancy Pelosi gần đây đã đi Syria nói chuyện với nhà độc tài Assad, hay ám chỉ cựu TT Carter gần đây đã đi gặp các lãnh tụ Hamas, hay là ám chỉ Obama.

Chỉ biết ông Obama và phe Dân Chủ, có tật giật mình (vì các ông cấp tiến Dân Chủ từ chiến tranh Việt Nam đến nay vẫn nổi tiếng là yếu hơn võ sĩ hạng ruồi trong vấn đề an ninh quốc tế), nên nhẩy nhổm lên phản đối Bush là dùng đòn hạ sách đánh Obama, mặc dù những điều TT Bush cảnh giác chính là sự thật lịch sử không ai chối cãi được.

Trước sự tung hô của đám sinh viên và ký giả cấp tiến Mỹ, ông Obama có vẻ say sóng, nghĩ rằng ông chỉ cần gặp các đồ tể ở Bắc Hàn, Iran, Syria, Cuba và đọc một bài diễn văn hùng hồn nhưng rỗng tếch theo kiểu “Yes, We Can”, là họ sẽ đồng loạt bỏ đao xuống hết và tình nguyện gia nhập đạo Obama ngay (25-5-08).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.