Hôm nay,  

Tây Tạng Vùng Lên

01/04/200800:00:00(Xem: 9560)

Năm 1950, Trung Cộng bắt đầu xâm chiếm nước láng giềng Tây Tạng. Ngày 10 tháng 3 năm 1959 dân Tây Tạng đứng dậy đánh đuổi quân xâm lược Trung Cộng nhưng cuộc nổi dậy không thành công . Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cùng hơn 100 ngàn dân Tây Tạng phải đi bộ sang lưu vong ở Ấn Độ. Thế rồi 49 năm mòn mỏi trôi qua, đất nước Tây Tạng ngày càng tan hoang và dần dần bị đồng hóa bởi chính sách di dân người Hán của Trung Cộng.

Tây Tạng đứng bên lề vực thẳm của sự xóa sổ tên trên bản đồ thế giới. Nhưng rồi trong lần kỷ niệm cuộc nổi dậy lần thứ 49 này, dân Tây Tạng quyết đứng lên giành lại quyền sống và độc lập cho quốc gia mình. Tây Tạng là một quốc gia theo Phật giáo và có điều kỳ diệu nên ghi nhận ở đây là đúng năm thứ 49 mới có sự nổi dậy trở lại. Con số 49 phù hợp với chuyện Phật Thích ca thành đạo sau 49 ngày tham thiền nhập định dưới cội cây Bồ đề. Thế giới đã mở toang. Trung Cộng không thể đàn áp tự do như chúng đã làm từ trước nên cuộc nổi dậy kỳ này của nhân dân Tây Tạng hy vọng sẽ có nhiều thành tựu trong công cuộc đòi lại độc lập dân tộc và tự do dân chủ cho quê hương mình.

Trung Cộng dĩ nhiên dở trò đàn áp căn bản truyền thống của chúng là dùng súng đạn để dập tắt những cuộc biểu tình của người Tây Tạng. Nhưng lần này không phải dễ dàng như những lần khác trong quá khứ vì sự đàn áp dã man có thể đưa đến chuyện có nhiều nước trên thế giới sẽ tẩy chay Thế vận hội Bắc Kinh sẽ được tổ chức vào tháng 8 năm nay và như thế sẽ làm thiệt hại Trung Cộng về mặt tài chánh cũng như danh dự rất nhiều. Nhưng nếu không đàn áp mạnh thì Trung Cộng e rằng sẽ không chế ngự được sự vùng lên của nhân dân Tây Tạng và đưa đến tình trạng mất kiểm soát . Đó là tình trạng tiến thoái lưỡng nan hiện nay của Trung cộng.

 Vị lãnh đạo tinh thần và quyền lực hiện nay của Tây Tạng là Đức Đạt Lai Lạt Ma trước sau vẫn theo đuổi đường lối "bất bạo động" khi đương đầu với Trung Cộng. Ngài cho rằng cộng đồng thế giới phải có nhiệm vụ để dẫn dắt Trung Cộng đi vào đường chính. Cả thế giới phải vững vàng để có thể thụ lượm kết quả từ một nước Trung Hoa hòa bình và thống nhất- chứ không phải chỉ từ 6 triệu người Tây Tạng hay người Tàu ở Tây Tạng.  Sự hài hòa thật sự chỉ có thể đến từ trái tim, chứ không thể đến từ họng súng.

Từ nửa thế kỷ nay, ngài chỉ xin cho Tây Tạng được tự trị chứ không đòi độc lập nhưng Trung Cộng vẫn dửng dưng lạnh nhạt không muốn tiếp xúc thương thảo với ngài. Chúng luôn coi ngài là kẻ phá hoại, chúng dè bĩu gọi ngài là một thứ "chó sói đội lốt cừu ". Dù được cả thế giới ngưỡng mộ nhưng rõ ràng đường lối " bất bạo động" của ngài không giải quyết được chuyện dân chủ và tự do cho tổ quốc ngài.

  Thánh Gandhi ngày xưa áp dụng thuyết "bất bạo động" thành công trong khi đối đầu với thực dân Anh vì thực dân Anh dù có tàn ác cũng không đến nỗi dùng súng bắn vào những người biểu tình chống đối.

Mục sư Martin Luther King áp dụng đường lối "bất bạo động" thành công khi tranh đấu cho quyền sống của người dân da màu ở Mỹ vì chính quyền Mỹ hồi ấy dù có bắt bớ, tù đày những người biểu tình , cũng không đến nỗi dùng súng bắn vào đoàn người biễu tình và dần dần đưa đến chuyện nhượng bộ những yêu sách chính đáng của người biểu tình.

 Trong khi đó bà Augn San Sukyi cũng đi theo con đường đấu tranh "bất bạo động" nhưng chưa được thành công ở Miến điện vì ở Miến bọn quân phiệt cho phép quân đội thằng tay dùng súng để bắn giết những người biểu tình.

Rõ ràng đối với những nước sẵn sàng cho quân đội bắn thẳng vào người biểu tình như Trung Cộng và Miến Điện thì phương pháp đấu tranh "bất bạo động" khó mà thành công được. Ai cũng hiểu rằng Đạt Lai Lạt Ma là một nhà tu chân chính nên ngài khó kêu gọi chuyện đấu tranh bạo động đưa đến chuyện máu đổ thịt rơi được. Nhưng trong kỳ nổi dậy lần này , một số người trẻ Tây Tạng ở hải ngoại cho biết họ sẽ tiến hành cuộc đấu tranh bạo động đối đầu với Trung Cộng để mang lại độc lập tự do cho quê hương họ chứ không tán thành chủ trương đòi tự trị như Đức Đạt Lai Đạt Ma đã làm trong mấy mươi năm qua. Phải công nhận là những người trẻ Tây Tạng này có lý vì cũng khó mà nói chuyện tương thân tương ái với thứ quỷ dữ như Trung Cộng, chỉ biết cai trị với một chính sách tàn bạo dã man, không bao giờ tôn trọng dân chủ nhân quyền của dân chúng bị trị.. Trung Cộng cũng đã từng cho phép dùng súng bắn giét chính đồng bào Trung Hoa của mình trong biến cố Thiên an môn năm 1989 tại Bắc Kinh.

  Thật ra ở Việt Nam có một nhà tu quan niệm khác với Đạt Lai Lạt Ma là Đức thầy Huỳnh phú Sổ của Phật giáo Hòa Hảo. Khi Việt Nam bị Pháp xâm lăng và đô hộ, Đức thầy Huỳnh phú Sổ không ngại xông pha ra chiến trường đề tiêu diệt quân xâm lăng và chỉ có ước nguyện trở về chùa tu hành khi chấm dứt được nạn ngoại xâm. Đức thầy Huỳnh phú Sổ còn để lại những lời thơ thống thiết như sau :

Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha

Đền xong nợ nước thù nhà

Thiền môn trở gót phật đà nam mô

Quan niệm của Đức thầy  xem ra cũng hữu lý vì khi đất nước bị nạn ngoại xâm thì dù người tu hành có muốn vào chùa tu cũng không được vì bị bọn ngoại xâm ngăn chặn.. Trướng hợp Tây Tạng lại càng cụ thể hơn, hầu hết tu viện ỏ Tây Tạng bị phá hủy, sư sãi bị bắt phải hoàn tục, nhà tu phải vào nhà tù nếu muốn thực hành quyền tự do tôn giáo .

Cho nên đường lối đấu tranh " bất bạo động " không thành công khi đối đầu với bọn Tàu đỏ Trung Cộng và bọn quân phiệt Miến vì chúng bất chấp nhân quyền, nhân mạng của người chống đối và sẵn sàng sùng súng bắn hạ khi cần thiết. Đấu tranh "bất bạo động" cũng khó thành công khi ứng dụng ở Việt Nam vì nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam cũng sẵn sàng ra tay tiêu diệt những người phản kháng một cách dã man, bất chấp dư luận phản kháng của lương tâm thế giới. Người lãnh đạo đấu tranh phải ứng biến sử dụng phương pháp đấu tranh : khi thì bất bạo động , khi thì bạo động mới mong đối phó hữu hiệu với bọn cầm quyền mặt người dạ thú, sẳn sáng áp dụng bất cứ phương tiện tàn bạo nào để duy trì ngai vàng thống trị của chúng lên quần chúng nhân dân.

   Sau nửa thế kỷ bị đô hộ, người Tây tạng đã đổ máu đứng lên tranh đấu chống lại quân xâm lược Trung Cộng, trong khi bọn trâu bò ngựa chó Bắc bộ phủ lại cam tâm đi làm tay sai Trung Cộng một cách vô điều kiện. Trung Cộng xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà  chúng chỉ phản đối lấy lệ qua loa.. Chúng lại cho phép Trung Cộng rước đuốc thế vận qua Sài gòn ngày 29 tháng 4 này. Thanh niên sinh viên Việt nam đang liên lạc phối trí với nhau để có cuộc dàn chào ngoạn mục cho cuộc rước đuốc ô nhục này.

Trung Cộng xâm chiếm đất dai của tổ quốc Việt Nam thì quân đội nhân dân khiếp nhược ươn hèn án binh bất động. Nhà nước Việt Cộng ngoan ngoãn cúi đầu không đưa ra nổi một lời nói và hành động phản kháng. Loại khai quốc công thần như Võ nguyên Giáp thì im thin thít, câm như hến vì sợ hãi.  Cái họa mất nước coi như gần kề nếu tiếp tục để bọn bán nước hại dân này tồn tại. Nhà văn Dương thu Hương đã mỉa mai gọi bọn cầm quyền Hà nội là bọn chuyên nghề ' ngửi rắm" Trung Cộng. Trung Cộng có đánh rắm thối tha cỡ nào thì bọn cầm quyền hà Nội hít hà hửi và khen thơm rối rít. Chúng đưa ra tuyên cáo ủng hộ Trung Cộng đàn áp những người chống đối Tây Tạng.  Là thân phận cam chịu làm tay sai, chúng làm sao có tiếng nói độc lập vô tư để phê phán chuyện sai trái trên trường quốc tế!

Nước sẽ mất, nhà sẽ tan nếu những người Việt quốc nội và hải ngoại không tìm ra một đường lối cụ thể cứu nước, cứu dân. Quốc nội phải can đảm đứng lên tranh đấu, hải ngoại phải mau mắn tiếp tế và tiếp máu thì đất nước Việt Nam mới mong tránh khỏi số phận đau thương tủi nhục mà đất nước Tây Tạng đã và đang trải qua.

   Giờ hành động đã điểm, mong mọi công dân Việt mạnh dạn lên đường cứu nước cứu dân ra khỏi nạn ngoại xâm, để từ đó có thể xây dựng một nhà nước dân chủ pháp trị mang lại tự do no ấm cho đồng bào yêu dấu.

Los Angeles, một trưa thanh tĩnh se lạnh đấu tháng 4 năm 2008

 TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

email:      [email protected]

(Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần viết Đại Hưng thì vào trang www.nsvietnam.comrồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng nằm bên trái )

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.