Hôm nay,  

Làng Kibbutz Do Thái: Mô Thức Cộng Đồng Việt

9/9/200800:00:00(View: 16962)
Vào thế kỷ 20, người Do Thái đã làm được ba phép lạ.

 Phép lạ thứ nhất: từ một lớp người mất tổ quốc, bị phát lưu lang thang đi khắp thế giới gần hai ngàn năm, vậy mà họ đã tụ về lập nước lại được. Nhờ cuốn sách "Quốc Gia Do Thái" của Herzl khơi động phong trào Sion từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 ở Âu châu, vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, Ben Gurion đã tuyên bố thành lập quốc gia Do Thái: "Kể từ hôm nay, quốc gia đó lấy tên là Israel. Hỡi các đồng bào Do Thái ở khắp thế giới, xin hãy nghe tôi đây. Xin đứng lên ủng hộ Israel đi, giúp cho quốc gia phát triển, giúp cho dân tộc chiến đấu để thực hiện cái mộng ngàn năm của chúng ta, cái mộng cứu quốc và phục hưng dân tộc."

Phép lạ thứ hai: Tụ về giữa một thế giới Ả Rập thù hận chồng chất với lực lượng gấp mấy chục lần sẵn sàng ăn sống nuốt tươi, người Do Thái đã can đảm và khôn ngoan tột độ để chiến đấu một mất một còn, vì thực ra họ không còn một chọn lựa nào khác: thua là bị tiêu diệt. Khi tuyên bố lập quốc vào năm 1948, lập tức các nước Ả Rập đồng loạt tấn công từ mọi phía. Vậy mà họ đã tử thủ được. Rồi trận chiến 1956 họ cũng thắng một cách thần tốc với siêu tài của tướng độc nhãn Mosh Dayan. Và trong trận chiến sáu ngày khốc liệt vào năm 1967, chẳng những họ không bị xóa sổ mà còn tiến chiếm được cổ thành Giêrusalem, và nhất là chiếm lại được "Bức Tường Khóc" di tích đền thờ biểu trưng niềm tin của dân tộc họ.

Phép lạ thứ ba: biến một sa mạc hoang vu trở thành những cánh đồng trù phú, biến tiếng Do Thái đang là một tử ngữ trở thành tiếng nói chính thức của quốc gia Do Thái, biến một vùng đất nhỏ bé nghèo nàn thành một quốc gia cường thịnh được cả thế giới nể vì.

 BÍ MẬT CỦA PHÉP LẠ DO THÁI

Biết bao người đã ca tụng óc thông minh, niềm tin mãnh liệt, lòng can đảm và kiên nhẫn của người Do Thái. Điều này rất đúng. Nhưng thực ra chính cái chủ thuyết "Làng Cộng Đồng" Kibbutz mới là một chiến lược then chốt và là một phương thức đào luyện thực hiện tinh thần Do Thái.

Thủ tướng đầu tiên của Do Thái là Ben Gurion đã được gọi là một tiên tri mang khí giới. Ông là một người rất thực tế: cần phải có chỗ cắm dùi đã. Vì cả gần hai ngàn năm, vùng đất này do người Ả Rập Palestine chiếm ngụ, làm sao có thể len lỏi vào được"!  Giữa bao lý thuyết về lập quốc, ông Ben Gurion tuyên bố: "Hằng ngàn bài diễn văn, hằng trăm đại hội cũng không bằng lập được một làng cộng đồng Kibbutz." Những đợt hồi hương đã manh nha từ cuối thế kỷ thứ 19, nhưng phải kể từ sau cuốn sách của Herzl ra đời thì mới được một lớp người trẻ có học và đầy chí hướng đẩy mạnh kế hoạch lập làng Kibbutz kiếm đất cắm dùi.

Kibbutz là một làng cộng đồng qui tụ khoảng vài trăm người, mua đất đai chung dựng nhà như một làng nhỏ. Nhưng họ không phải là những người đa tạp, mà là những lớp thanh niên với tinh thần mới muốn làm một điều gì cho đất nước, nên chọn làng cộng đồng Kibbutz như một mô thức chung thực hiện ước mơ này. Họ chọn công việc chân tay để cùng làm việc với tinh thần bình đẳng, góp quĩ chung, ăn chung, tiêu dùng theo tiêu chuẩn, nghĩa là họ sống như một đại gia đình với tinh thần huynh đệ không đẳng cấp. 

Không phải ai cũng tự ý vào sống trong Kibbutz được. Muốn gia nhập, họ phải qua một thời gian học hỏi tinh thần và tập sự, hết hạn rồi hội nghị Kibbutz mới xét xem có được nhận vào hay không. Không ai bắt phải vào Kibbutz cả, nhưng khi đã gia nhập thì đúng là họ mang một tinh thần mới và một lối sống mới. Họ phải theo kỷ luật chung, bỏ bớt ý riêng đi để theo quyết định chung, ăn những món như nhau, mặc những loại quần áo giống nhau trong một thời gian, và một số việc như rửa chén đĩa hay lau nhà thì ai cũng phải thay nhau làm không miễn trừ bất cứ ai. Họ coi đó như một vinh dự được biến những việc thấp hèn thành những cơ hội rèn luyện giá trị con người đích thực. 

Chính cái tinh thần này mà phong trào Kibbutz đã đào tạo được những nhân vật lẫy lừng như thủ tướng Ben Gurion, tổng thống Ben Zvi, tướng Mosh Dayan, thủ tướng Golda Meyer... Đương kim thủ tướng Ehud Barak cũng sinh trưởng từ Kibbutz Mishmar Hasharon chuyên về trồng xoài và táo. Cha mẹ vào thập niên '30 là những thanh niên đầy lý tưởng và thiện chí từ Đông Âu trở về gia nhập Kibbutz ngay từ thuở ban đầu, lúc Kibbutz chưa có điện nước ngoại trừ phòng dành cho trẻ em.

 MƠ ƯỚC NÀO CHO CỘNG ĐỒNG VIỆT"

Năm 1986, tôi có dịp qua Do Thái và ghé thăm Kibbutz Degania ở ngay cửa Biển Hồ đổ vào sông Jordan huyết mạch của Israel. Đây là Kibbutz đầu tiên được thành lập năm 1911 với bao gian khổ. Mẹ của tướng Mosh Dayan là Deborah đã bỏ đời nữ sinh ở Ukraine bên Đông Âu về gia nhập Kibbutz  này vào năm 1913, với công tác chuyên môn nướng bánh. Đệ tử của Tolstoi là Aaron David Gordon cũng là thành viên và đã trở thành một lý thuyết gia nổi bật cho tinh thần lao động bình đẳng và yêu thiên nhiên. 

Điều tác động tôi mạnh là khi có dịp nói chuyện với một số sinh viên đang tập sự làm thành viên Kibbutz này. Họ tình nguyện về từ nhiều nước Âu Mỹ. Có người ở lại tiếp tục sinh hoạt trong Kibbutz, có người chỉ học hỏi và thực tập một thời gian rồi mang tinh thần đó trở lại Âu Mỹ để tạo hạt nhân nơi các bạn trẻ Do Thái khác.

 Trở về với cộng đồng Việt tại Mỹ tuy đôi khi cũng đa tạp, nhưng tôi thật lạc quan thấy được hiện nay đang có những nhóm trẻ hoạt động, những trại huấn luyện rất thành công. Họ đang tạo ra được một phương thức gọi là cộng đồng căn bản thu gọn (basic community), với một nhóm người cùng chí hướng, cùng ấp ủ ước mơ làm một cái gì cho dòng tộc mình, dù đã mang quốc tịch Mỹ.

Làng Việt bây giờ cũng vì thế mà mang một chiều kích mới. Cách đây mấy ngàn năm biên cương nước mình còn nằm ở vùng Lĩnh Nam phía sông Dương Tử. Bị người Tàu đẩy thì mình chạy xuống vùng sông Hồng. Rồi mở rộng mãi xuống đất Thuận Hóa của người Chàm, theo đà vượt xuống Sài Gòn của người Chân Lạp, và mở rộng bờ cõi tới được Hà Tiên và Cà Mau chỉ mấy trăm năm nay thôi. Biến cố 1975 không ngờ mà lại là dịp mở thêm biên cương mới. Ông Ben Gurion nói đúng đấy. Chẳng gì bằng lập được một làng Việt, hơn là cứ bàn tới bàn lui hoài. Bờ cõi mới có thể là ở thung lũng Hoa Vàng San Jose, có thể là Sài gòn Nhỏ ở Cali hay Texas, có thể là ở hai bên bờ sông Mississippi...

 TIN VUI BỒI ĐẮP BỜ CÕI MỚI

Riêng thành phố Ngọc Lân (New Orleans) nơi tôi ở thì mang nhiều nét đặc sắc vì có tới bốn năm làng Việt ở qui tụ với những cơ sở tôn giáo và giáo dục, với hội trường riêng như những đình làng. Một trong những nơi thu hút người Mỹ trắng Mỹ đen là Chợ Xổm ở làng Versailles phía đông thành phố. Đó là tên gọi cho vui ban đầu cách đây cả hai chục năm về trước lúc phe ta mới tới, kéo đại ra ngồi xổm "dã chiến" ở một khoảng trống mà bán hàng chả có quầy sập và ghế bàn gì cả. Người đem mấy bó rau vừa hái trong vườn, người mang dăm con vịt vừa mua từ nông trại về để bà con "mại dô" đem đánh tiết canh cho lên tinh thần. Vậy mà riết rồi thành chợ nổi tiếng, chả cần tính thuế má gì cả. Cảnh sát biết vậy nhưng cũng làm ngơ, cứ coi như nét đặc sắc của thành phố vậy thôi. Bây giờ văn minh hơn thì có ghế bàn quầy bán đàng hoàng với nhiều thứ rau trái tươi, vịt sống kêu quàng quạc, gà "chạy bộ" tưng bừng vào sáng sớm thứ Bảy. Mặt trời lên thì chợ cũng biến đi. Tuy nhiều mặt đã cải tiến, nhưng tên gọi Chợ Xổm dễ thương đã gắn chặt từ lâu rồi, đến Ngọc Lân thì ai cũng thích rủ nhau đi Chợ Xổm mới được.

Mới đây có dịp nghe ký giả Nguyễn Trọng nói về làng Việt tại Ngọc Lân (New Orleans), tôi thật vui khi thấy nơi mình đã cùng góp bàn tay lập làng Việt từ một phần tư thế kỷ vẫn giữ được nét thuần túy Việt:

"Chợ Xổm đã đưa chúng tôi về những ngôi chợ bé nhỏ ở làng xưa, với những bà mẹ quê, với những bó rau muống, rau đay, rau mồng tơi, với những con cá còn sống vẫy vẫy cái đuôi và ngáp ngáp cái miệng.

Chúng tôi đã được nhìn những mảnh vườn trồng cấy theo kiểu Việt Nam, được nhìn thấy những chiếc ao nhỏ phủ kín bồng bồng, được nhìn thấy những cụ già khom lưng nhổ cỏ trước vườn hoa chung quanh tượng Đức Mẹ.

Cảnh tượng này, cũng như cảnh chợ Xổm họp vào buổi sáng tinh sương, lại đưa chúng tôi về với làng quê Việt Nam, nơi chúng tôi sinh trưởng, nơi một số quí vị ở đây đã sinh trưởng, và cảnh tượng đó đã được làm sống lại ở Ngọc Lân, và có lẽ chỉ ở Ngọc Lân này mà thôi.

Tôi đã tới thăm nhiều nơi trên đất Mỹ và tôi phải công tâm mà nói rằng không đâu bằng Ngọc Lân, cảnh làng quê Việt Nam đã được duy trì, phát triển và trở thành linh hồn của người Việt tha hương nơi hải ngoại."

 Lời ký giả Nguyễn Trọng chuyển nhiều chất tình cảm xúc động. Có điều ai cũng thấy được là nét ràng buộc gắn bó quấn quít, liên đới trách nhiệm của người mình với nhau thì thật nổi. Vì sống theo kiểu mỗi người một đảo hoang chẳng mắc mớ gì tới ai thì bác sĩ thần kinh lại phải làm việc tối đa! Tin Vui tuần này nói lên nét tích cực của tình liên đới cộng đồng. Cần mang được một niềm tin chung, một ước mơ chung, cố gắng làm một cái gì cho người mình ngóc đầu lên được. Người theo đạo Chúa thì tin rằng Chúa hiện diện qua đời sống cộng đồng, tham dự sinh hoạt chung xây dựng tình thân thương là chỉ cho người khác thấy được Chúa.

"Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ." (Mt 18:19-20)

 PHÚT TRỞ VỀ LÀNG

Thế là mình không thể sống riêng rẽ kiểu cá nhân chủ nghĩa được rồi. Cuộc ra đi phải mang một ý nghĩa. Mình cần góp phần làm đẹp cộng đồng, bồi bắp bờ cõi mới. Trở về làng chả lẽ cứ phải trở lại vùng Động đình Hồ" Đây là phút giây mình nhận ra biên cương mới nơi ngôi làng mới, và quyết định tích cực dựng xây với tất cả tâm huyết và bền chí. Và đây, con mắt mình đang rưng rưng thấy được dòng sinh mệnh dân tộc đang chảy tới khắp các làng Việt hải ngoại, tới cả Palawan như nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cảm nhận: 

Trở về Làng, một mai Mùa Xuân Hùng Vương.

Trở về Làng, một đêm Mùa Xuân Tình Thương.

Rừng núi liên hoan. Biển cũng ca vang cùng với người.

Để nhớ thời xưa vì sao lầm than!

 Hỡi những trái tim Việt Nam, từng thiếu nhịp yên bình

Dù lạc loài khắp thế giới, vẫn ca lên niềm tin.

Đến cuối bước chân nổi trôi là mái nhà êm đềm.

Cỏ cây như tuổi thơ, ngời lên màu xanh vạn niên...

 Lm. Trần Cao Tường

(Từ tác phẩm Khúc Sáo Ân Tình, Thiời Điểm xuất bản)

Mời vào Mạng Lưới Dũng Lạc www.dunglac.org

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.