Hôm nay,  

Chỉ Số Tự Do Kinh Tế

13/01/200400:00:00(Xem: 16601)
Cuối tuần qua, tổ chức The Heritage Foundation và nhật báo kinh doanh The Wall Street Journal công bố kết quả khảo sát mức độ tự do kinh tế các nước, trong đó, VN sụt tới hạng gần cuối của các nước ít tự do nhất.
Diới đây đài RFA thảo luận với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về bản báo cáo này...
Hỏi: Thưa ông, báo cáo về chỉ số tự do kinh tế năm nay lại vừa được The Heritage Foundation và Wall Street Journal công bố, xin ông cho biết sơ lược về bản báo cáo này.
-- Vâng, bản phúc trình về chỉ số tự do kinh tế vừa được hai cơ quan trên công bố hôm Thứ Sáu và nay mai các nơi sẽ tham khảo và thảo luận rộng rãi. Theo xu hướng kinh tế tự do và chính trị bảo thủ, The Heritage Foundation là một lò nghiên cứu vô vụ lợi, để khuyến cáo về các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị và là một trung tâm có ảnh hưởng trong chính trường Hoa Kỳ. The Wall Street Journal là nhật báo rất có uy tín và ảnh hưởng toàn cầu, dù chỉ là một tờ báo về kinh doanh. Từ 10 năm nay, hai cơ quan này đã cùng hợp tác để hàng năm đúc kết các cuộc khảo sát sâu rộng trên toàn cầu và đưa ra một báo cáo về mức độ tự do kinh tế của các nước trên thế giới. Phúc trình này được giới đầu tư và các nhà lãnh đạo chú ý vì là một chỉ dẫn xác thực về tình hình kinh tế các nước.
Hỏi: Nhưng trước hết, vì sao người ta lại để ý đến mức độ tự do kinh tế của các nước"
-- Các cuộc khảo sát đều cho thấy quan hệ khắng khít giữa mức sống, nghĩa là sự giàu có của người dân, với mức độ tự do kinh tế của xã hội. Thứ nữa, mức độ tự do này còn trực tiếp liên hệ đến tình trạng tham nhũng và cả quy phạm đạo đức, tức là một yếu tố về phẩm chất, trong một xã hội. Các nước càng có tự do kinh tế cao thì người dân càng có mức sống cao, biết tôn trọng luật lệ minh bạch, và nạn tham nhũng càng ít xảy ra. Chỉ nội các yếu tố này cũng khiến ta chú ý vì đang là những vấn đề xương tủy của Việt Nam.
Hỏi: Về mặt kỹ thuật, việc khảo sát này được tiến hành ra sao thưa ông"
-- Cơ sở khảo sát là báo cáo kinh tế của các định chế quốc tế, phúc trình thẩm lượng của các chính quyền và của The Economic Intelligence Unit, một bộ phận của hệ thống The Economist, tuần báo kinh tế nổi tiếng từ hơn trăm năm nay. Nghĩa là họ dựa trên nguồn tin tức khách quan và có chất lượng của những trung tâm có uy tín nhất. Về phương pháp thì họ đúc kết thống kê và thông tin về từng nước vào 10 tiêu chuẩn và chấm điểm từ thấp đến cao, từ một đến năm. Tổng hợp lại 10 tiêu chuẩn này thì ra chỉ số tự do kinh tế của một nước. Tôi nghĩ là triết lý chính trị tiềm ẩn bên dưới là một xã hội phải có dân chủ tức là mọi người đều bình đẳng trước luật pháp do những người được dân bầu lên sọan thảo ra và chịu trách nhiệm trước dân chúng. Đó là quy tắc của dân chủ. Ngoài ra, ta có quy tắc xin tạm gọi là cộng hòa, theo đó, chính quyền do dân bầu ra phải phục vụ người dân và thu hẹp quyền can thiệp của mình vào các sinh hoạt của dân chúng. Tiêu chuẩn tự do kinh tế cho thấy mức độ ít can thiệp của nhà nước vào quyết định kinh tế của dân chúng. Từ tinh thần đó, các nhà nghiên cứu mới thiết lập ra 10 tiêu chuẩn đo lường chung.
Hỏi: Và thưa ông, mười tiêu chuẩn đó là"

-- Tôi sẽ phải trình bày hơi chi tiết một chút về mười tiêu chuẩn này, đặc biệt với Việt Nam. Đó là thứ nhất, chính sách ngoại thương có tự do không, tức là theo chính sách bảo hộ mậu dịch hay tự do mậu dịch, đo lường ở các hạn chế về xuất nhập khẩu hay quy định về hạn ngạch, thuế vụ, hải quan, giấy phép xuất khẩu. Càng ít tự do mậu dịch thì càng có điểm cao, thí dụ như Việt Nam bị năm điểm là tệ nhất, Hong Kong và Singapore đứng hạng cao nhất với một điểm. Tiêu chuẩn thứ hai là gánh nặng thuế khóa, bao gồm thuế lợi tức cá nhân, lợi tức doanh nghiệp, ở tình hình chi thu ngân sách. Việt Nam có gánh nặng quá cao, ở 4,3 điểm do thuế suất cao và ngạch số gia tăng của ngân sách quốc gia so với Tổng sản luợng GDP. Thứ ba là sự can thiệp của chính quyền, được đo lường ở nhiều yếu tố khác nhau như chính phủ ngốn hết bao nhiêu của cải do cả nước sản xuất ra trong một năm, số thu ngân sách của các công ty quốc doanh, sức nặng của doanh nghiệp nhà nước, v.v... Năm qua, tiêu chuẩn can thiệp của Việt Nam có gia tăng, nên Việt Nam bị điểm xấu hơm năm ngoái, là 4 điểm. Tiêu chuẩn thứ tư là chính sách tiền tệ có ổn định không, chủ yếu được đo lường ở tỷ lệ lạm phát và về tiêu chuẩn này, Việt Nam được điểm tốt nhất là 1 điểm. Tiêu chuẩn thứ năm là luồng giao dịch tư bản, chủ yếu là chính sách ngoại hối có tự do không và đầu tư nước ngoài có bị kỳ thị hay hạn chế không. Như mọi năm, Việt Nam vẫn còn bị điểm xấu vì sự hạn chế của nhà nước và nạn tham nhũng trong bộ máy công quyền và môi trường đầu tư. Tiêu chuẩn thứ sáu là hệ thống tài chính ngân hàng. Họ cho điểm xấu vì đánh giá là Việt Nam cải cách quá chậm và nhà nước vẫn chi phối quyết định cho vay của ngân hàng nhằm nâng đỡ quốc doanh và kỳ thị tư doanh. Tiêu chuẩn thứ bảy là lương bổng và giá cả bị kiểm soát nhiều hay ít. Tại Việt Nam, nhà nước còn kiểm soát giá cả để ngăn chặn lạm phát nhưng việc can thiệp vào giá cả vẫn còn tính kỳ thị, dù đang có cải tiến nên Việt Nam bị ba điểm, là trung bình thấp. Tiêu chuẩn thứ tám là quyền sở hữu thì Việt Nam lãnh điểm tệ nhất vì quyền tư hữu chưa được bảo vệ và nền tư pháp thiếu trong sạch nên tiền bạc vẫn chi phối được quyết định của tòa án, luật lệ lại quá rườm rà phức tạp, được suy diễn tùy tiện khiến tư doanh và người nghèo bị thiệt. Tiêu chuẩn thứ chín là nền tảng luật lệ có công minh thông thoáng không thì Việt Nam cũng đứng cuối sổ vì hạ tầng luật pháp còn lỏng lẻo, luật lệ nhiêu khê rắc rối hay thay đổi mà thiếu thống nhất, gây phí tổn oan ức cho người dân khi muốn kinh doanh. Về tiêu chuẩn này, Việt Nam bị đánh giá là nơi làm ăn khó nhất Á châu. Tiêu chuẩn sau cùng là nền kinh tế chui, sinh hoạt kinh tế bán chính thức. Đây là tiêu chuẩn đáng chú ý vì phản ảnh một đặc thù của các nước nghèo là dân chúng khó làm ăn công khai nên nền kinh tế chui mới phát đạt và trong nền kinh tế đó, người dân bị nhiều tổn phí vì rủi ro và tệ tham ô của công quyền. Về tiêu chuẩn này Việt Nam lãnh điểm thấp và thấp hơn năm ngoái .
Hỏi: Sau khi trình bày chi tiết, xin ông tóm lược về nội dung của báo cáo năm nay.
-- Trước hết, các tổ chức họ nhìn vấn đề trong viễn ảnh dài, tức là so sánh tiến độ trong nhiều năm qua những tiêu chuẩn thuần nhất. Về mặt này thì dù năm ngoái là một năm có chiến tranh lẫn nạn khủng bố, nhiều nước vẫn có nỗ lực giải tỏa kinh tế cho tự do hơn và nhìn về dài thì tốc độ giải tỏa càng cao thì đà tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội càng mạnh. Trong số 161 nước được khảo sát, một số quốc gia bị loại ra ngoài vì có chiến tranh hoặc không có đủ dữ kiện, hầu hết đều là các nước cực nghèo hoặc đang bị loạn. Còn lại danh mục 155 nước thì họ chia thành bốn nhóm là 16 nước “tự do”, 55 nước “hầu hết tự do”, 72 nước “hầu hết thiếu tự do” và sau cùng là 12 nước “bị đàn áp”. Việt Nam nằm ở cuối hạng trong nhóm 72 quốc gia thiếu tự do. Trên đại thể thì so với năm ngoái, có 75 nước đã có cải thiện, 69 nước lại tệ hơn, trong đó có Việt Nam, có 11 nước thì vẫn như cũ. Trong số 155 nước, Việt Nam đứng hạng 141, tại Đông Nam Á thì chỉ hơn có Miến Điện và Lào, và lại thua Cambốt rất xa.
Hỏi: Thưa ông, hẳn là tình hình Đông Á có nhiều nghịch lý lắm phải không"
-- Vâng, nếu nói đến toàn vùng Á châu Thái bình dương thì khu vực này có các nước tự do nhất thế giới, như Hong Kong vẫn đứng đầu kể từ 10 năm nay, hoặc Singapore, New Zealand, Australia, Đài Loan, mà cũng có những nước đứng cuối sổ như Việt Nam, Miến Điện và Lào. Một chi tiết đáng chú ý nữa là Lào đang có cải tiến so với các năm trước và Việt Nam thì ngược lại. Khởi đi từ năm 1995, khi lần đầu được khảo sát, Việt Nam bị điểm cực xấu là 4,6 và có cải thiện dù thật chậm; nhưng bước cải tiến đáng kể nhất vào năm 2001-2002 lại bị đẩy lui trong năm ngoái, nên năm nay Việt Nam bị điểm xấu hơn.
Hỏi: Ông kết luận ra sao về phúc trình này"
-- Báo cáo này không nói gì đến nạn đàn áp dân chủ hay chà đạp nhân quyền mà chỉ khách quan và khoa học đo lường mức độ tự do trong địa hạt kinh tế của nhiều nước trên thế giới, cho nên không thể vu cáo họ là có ác ý gì với Việt Nam, rồi coi như không có. Bản phúc trình này thực ra nêu lên những nhận định mà có lẽ ai cũng biết về nội tình Việt Nam nhưng tổng hợp thành dữ kiện so sánh được với các nước khác và với chính mình qua từng năm. Năm 2004 là một năm bản lề của Việt Nam, với yêu cầu cải cách và giải tỏa rất mạnh để kịp thời hội nhập với toàn khu vực và thế giới, vậy mà trong các tiêu chuẩn đo lường sự tiến bộ thì tự do kinh tế lại bị sụt. Đây là điều đáng chú ý cho giới lãnh đạo và các nhà làm luật tại Hà Nội và đây cũng là điều được giới đầu tư quốc tế theo dõi rất sát. Riêng với người dân thì khi so sánh với các đối tác hay các nước cạnh tranh với mình, ta thấy Việt Nam đứng hạng thấp nhất, thua xa Thái Lan, Cambốt hay Đài Loan, Hàn Quốc. Đây là một tiếng chuông cảnh báo cho mọi người khi Việt Nam bước vào vòng đàm phán cuối để gia nhập tổ chức mậu dịch thế giới WTO vào năm 2005. Cái Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đang đóng kín cửa hội họp nên chịu khó ngó ra ngoài để xem thế giới đánh giá Việt Nam như thế nào và Việt Nam đang gặp những thử thách gì.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.