Hôm nay,  

Nhạc Sĩ Anh Việt Thu, Tài Hoa Bạc Mệnh

02/01/202600:00:00(Xem: 195)
 
anh viet thu
 
Theo nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho anh, ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Để nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu anh của Việt Thu phải bảo bọc người em bị bệnh tê liệt... Gia đình ông gồm nhiều em: theo Hồng Ngọc Viễn Đông, ông là anh đầu, có ba em là Huỳnh Hữu Phi Long, Huỳnh Thị Kim Phụng và Huỳnh Hữu Việt Thu.

Thuở nhỏ ông theo học tại trường làng Tân Vĩnh, Vĩnh Long, trường quận Cái Bè, trường tỉnh Mỹ Tho và năm 1950 được lên Sài Gòn tiếp tục việc học. Trong những năm học trung học tại Sài Gòn, ông được người bạn cùng lớp là Ngô Văn My chỉ cho đánh đàn Tây Ban Cầm và từ đó anh tự học lấy. Có năng khiếu âm nhạc thời học sinh vì vậy tự học nhạc lý và sáng tác. Gia đình ông ở quê không khả giả nên khi học ở Sài Gòn, có thời gian dạy kèm ở các nhà người khác để kiếm tiền học phí và chi tiêu cá nhân.

anh viet thu 2
Năm 1956, ở tuổi 17, Anh Việt Thu đã nổi tiếng với ca khúc Giòng An Giang (địa danh nổi tiếng của miền Nam là Thất Sơn, Châu Đốc và Tiền Giang - một trong chín nhánh sông của Cửu Long Giang) cũng thời điểm thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Ông học nhiều môn âm nhạc: nhạc pháp, hòa âm, đối âm, sáng tác, dương cầm... với các giáo sư như Hùng Lân, Nguyễn Văn Huấn, Ngô Duy Linh, v.v. Chủ Tịch Hội Sinh Viên. Tốt nghiệp khóa I trường QGÂN năn 1963 . Cùng năm đó, ông đệ trình luận án âm nhạc tại Nhạc Viện Tokyo (Nhật Bản) và tốt nghiệp hạng ưu khi trở về Việt Nam.

anh viet thu 3
Sau khi tốt nghiệp, năm 1964 ông dạy nhạc ở trường trung học Tây Ninh ((nay là trường PTTH Trần Hưng Đạo), trường Trần Hưng Đạo Sài Gòn.

Năm 1965 đến năm 1966, ông thành lập đoàn Du Ca Phù Sa gồm ông, Anh Việt Thanh, Hà Phương, Phạm Minh Cảnh, hát từ Cần Thơ ra đến Huế. Năm 1966, ông là huấn luyện viên các khóa huấn luyện Thanh Ca Tác Động do Bộ Thanh Niên tổ chức tại Sài Gòn, cùng với Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Đức Quang, Phương Oanh, Nguyễn Thanh, Ngô Mạnh Thu.. Khóa sinh do Ty Thanh Niên ở các tỉnh tuyển chọn và đưa về dự. Đây là tiền thân của Phong Trào Du Ca Việt Nam.

Trong các năm 1966-1968, ông được Đài Vô Tuyến Việt Nam mời về làm chương trình Phù Sa và cùng với Thiên Hà tuần báo Văn Nghệ Truyền Thanh. Năm 1971, ông có chương trình Giờ Âm Nhạc Anh Việt Thu trên Đài Truyền Hình Việt Nam. Giai đoạn 1972-1974, ông hợp tác với hãng Đĩa Hát Việt Nam thực hiện một số băng nhạc.

Ông cũng tham gia thành lập nhà xuất bản Ngạn Ngữ cùng nhà thơ Nguyễn Vương, để in sáng tác của ông văn thơ thân hữu. Việc thành lập nhà xuất bản cho thấy ông có lý tưởng, quý trọng những sáng tác, không chỉ vì danh vọng.

anh viet thu 4
Trong bài viết của Lương An Cảnh:

“Khi gặp nhau, anh cho biết tên là anh Huỳnh Hữu Kim Sang, còn khi viết nhạc, anh lấy tên là Anh Việt Thu. Sau một thời gian, hai đứa thân nhau, anh rủ tôi về ở chung tại số 41 đường Da Bà Bầu, cạnh bên 34 nhà của Trường Kỳ số 39. Lúc bấy giờ, Anh Việt Thu đang dạy nhạc tại Trung Học Trịnh Hoài Đức tỉnh Bình Dương. Tuy bận rộn nhưng cũng nhận thêm chương trình Tổng Hội Sinh Viên phát thanh hằng tuần trên Đài Phát Thanh Sài Gòn. Thành phần nồng cốt gồm: Anh Việt Thu lo phần soạn hòa âm. Nhạc khí gồm Huỳnh văn Hóa, Cao Thanh Tùng, tôi và một số anh em khác được tăng cường tùy theo nhu cầu. Ca sĩ thì có thể thay đổi tùy chương trình.

Năm 1960, Tổng Hội Sinh viên tổ chức trại Hè Hội Thảo tại Đà Lạt, chúng tôi phụ trách phần văn nghệ và tổ chức hai buổi phát thanh tại Đài Phát Thanh Đà Lạt. Nhạc sĩ Anh Việt Thu học khóa đầu tiên về Hòa Âm của Trường Quốc Gia Âm Nhạc qua các thầy dạy là: Hải Linh, sau đó Linh Mục Ngô Duy Linh thay thế. Khi Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế được thành lập, Linh Mục Ngô Duy Linh được đề cử ra làm Giám Đốc. Người thay thế sau cùng là giáo sư Nghiêm Phú Phi…

… Sau khi rời trường Quốc Gia Âm Nhạc, mỗi đứa có hướng đi một nơi. Tôi đi dạy học rồi bị động viên nên vào ngành Quân Nhạc, còn Anh Việt Thu dường như đi dạy ở Tây Ninh nên ít gặp nhau. Sau đó có lệnh gọi nhập ngũ nên tình nguyện vào Tâm Lý Chiến, Phòng Văn Nghệ chuyên sáng tác với cấp bậc (hạ sĩ quan đồng hóa) mặc dù anh có bằng Tú Tài. Thỉnh thoảng tôi có ghé thăm anh tại Cục Tâm Lý Chiến ngay đầu cầu Thị Nghè, đối diện cổng sau Vườn Bách Thảo. Sau hiệp định Ba Lê, anh cho biết rất bận rộn vì mỗi cuộc hành quân hay trận nào lớn, đều có lệnh phải sáng tác một bài để hát trên Đài Phát Thanh hay Truyền Hình khi trận đánh kết thúc.

Vì quá cấp bách, không biết bài sáng tác của mình có tốt hay không nên thường để những tên lạ, không dám để tên thật. Anh cho tôi hay là đang tuyển lựa những ca khúc quân hành hay để cho vào tuyển tập Đường Chúng Ta Đi do Cục Tâm Lý Chiến thực hiện…

Anh chết để lại vợ và 3 con, cha mẹ còn đầy đủ. Cha anh là ông Huỳnh Hữu Hương, một người em gái mà tôi chỉ nghe nói nhưng chưa gặp mặt, và em trai Út bị sốt tê liệt là Huỳnh Hữu Việt Thu. Đó cũng là bút hiệu của anh.

Trước tôi, Anh Việt Thu có ở chung với một người bạn là thi sĩ Anh Phương. Khi gặp tôi anh có hỏi tôi biết người đó không vì cùng tỉnh Sóc Trăng với tôi và con ông Hội Đồng Vị. Tôi nói chẳng những cùng tỉnh mà cùng làng và cùng xã với tôi nữa… Vì thế nên khi Anh Việt Thu nói thi sĩ Anh Phương, tôi không biết là ai… Anh ăn ở chung với chúng tôi. Sau này anh có nhà riêng và bảo chúng tôi về ở chung ở 37 đường Nguyễn Kim. Đến giờ cơm, chúng tôi mới trở về nhà cũ ăn cơm do mẹ Anh Việt Thu nấu, vì cha mẹ và đứa em Anh Việt Thu đã dọn lên Sài Gòn. Anh Hân luôn theo sát chúng tôi ở mọi nơi… Tôi chưa từng đọc thơ của Anh Phương và cũng không biết Anh Việt Thu có dùng thơ của Anh Phương để phổ nhạc hay lấy ý để viết lời không, nhưng trong tất cả những bài nhạc của Anh Việt Thu không có bài nào ghép tên Anh Phương vào cả.

Một hôm, gia đình Anh Phương bảo anh ta về vì có việc làm ở địa phương. Trong mấy tuần cuối trước khi chia tay, hai người thường dẫn nhau đi chơi, tâm sự rất khuya mới về. Không biết sự tâm đắc và mật thiết giữa hai người như thế nào mà cả hai lại nghĩ rằng: “Hai người có lẽ là hai vì sao trên trời bị lạc xuống trần gian và vô tình gặp lại nhau”.

Đã từ lâu, khi nói đến nhạc sĩ Anh Việt Thu và những sáng tác của anh đều có nhắc đến ca khúc Hai Vì Sao Lạc, nhưng chưa có ai nói đến hay hiểu ý nghĩa, nội dung của lời ca nói những gì và cũng không muốn tìm hiểu mà chỉ thích nhạc điệu của bài ca thôi…”

Vì vậy lời ca nói về hai người bạn trai mà nhiều người vẫn tưởng là phái nữ: “Người về, một mùa thu gió heo may. Về đâu có nhớ chăng những vì sao long lanh. Đưa tiễn người một đêm không trăng. Nói sao nên lời lòng buồn như chiều rơi. Như trong đêm khuya những bước chân qua thềm. Gợi niềm thương nhớ vô vàn…”.

Ca khúc Người Đi Ngòai Phố thấm đẫm nỗi buồn chia ly trong cuộc tình:
“Thôi chia tay nhau từ đây, nghe nước mắt vây quanh
Biết lỡ yêu đương, sẽ đau thương suốt cả một đời,
Nhưng mấy khi tình đầu, kết thành duyên mong ước
Mấy khi tình đầu, kết trọn mộng đâu em”.

Với người bạn thân nữa là Trần Văn Ngà (Thiếu Tá phục vụ trong ngành CTCT):

“Tôi gặp và quen biết Anh Việt Thu từ năm 1957 tại Sài Gòn khi chúng tôi học lớp tam nhị tại trung học tư thục Nguyễn Công Trứ, đường Hai Bà Trưng - đối diện với vòng rào của nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi và cũng gần nhà thờ Công Giáo Tân Định. Sau khi thi bằng Cao Đẳng Tiểu Học Đông Dương (Diplôme d'Étude Primaire Supérieure Indochinoise - DEPSI - tương đương văn bằng trung học Đệ Nhất Cấp sau này), trường Collège de Chaudoc (tiền thân trường trung học đệ nhị cấp Thủ Khoa Nghĩa) không có các lớp đệ nhị cấp nên tất cả học sinh ở Châu Đốc, có đủ điều kiện học lực, được chuyển đến trường Trung Học Phan Thanh Giản ở Cần Thơ hoặc có thể dự thi vào lớp seconde - đệ tam ở trường Trung Học đệ nhị cấp Petrus Trương Vĩnh Ký đối với nam sinh và nữ sinh thì xin hoặc thi vào trường Nữ Trung Học Gia Long. Gia đình không đủ tiền cho tôi học tiếp ở Cần Thơ hoặc Sài Gòn. Vì vậy, tôi xin đi dạy học từ niên học 1954-1955, liên tiếp 3 niên học, tại Núi Sam và tỉnh lỵ Châu Đốc.

Hè 1957, được người bạn tìm cho 2 chỗ dạy kèm tại tư gia, tôi quyết định lên Sài Gòn tiếp tục học lại. Với số tiền dạy kèm cũng đủ trả học phí và tiền ăn ở hàng tháng và tiền xài lặt vặt kể như thiếu thốn triền miên... Tôi quen biết Anh Việt Thu từ hoàn cảnh vừa đi học vừa đi dạy kèm tư gia, cũng như Anh Việt Thu cũng đang vật lộn với chữ nghĩa như tôi, từ xã An Hữu, quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường (Mỹ Tho) lên Sài Gòn. Lúc đó - năm 1957 - Anh Việt Thu mới 17, 18 tuổi, còn tôi đã là 22 tuổi. Anh Việt Thu với mái tóc nghệ sĩ, vừa đẹp trai, da trắng, môi lúc nào hồng vừa điềm đạm hiền hòa, vui cười khi gặp bạn bè với nhiều tình cảm trìu mến và gương mặt phúc hậu dễ gây cảm tình với mọi người. Chúng tôi thường tâm sự về chuyện học hành và chuyện gia đình nên sớm thông cảm và mến nhau. Khi học chung lớp chừng một tháng, Anh Việt Thu đưa tôi về chơi ở nhà trọ, đường Bà Hạt hay Da Bà Bầu, tôi không nhớ rõ. Điều mà tôi nhớ rõ nhất, là chủ căn nhà đó là anh Năm, người thấp và có “bề thế” một giáo viên tiểu học, anh bị động viên trước năm 1954. Sau 3 năm phục vụ trong Quân Đội, anh xin giải ngũ với cấp bậc Trung Úy. Anh Năm xem Anh Việt Thu như một người em ruột vì anh còn độc thân, có công ăn việc làm, nhà cửa đàng hoàng nên Anh Việt Thu không phải lo chỗ ăn ở chỉ tìm chỗ dạy kèm tại tư gia kiếm tiền đóng học phí và xài vặt...

Khi Anh Việt Thu và tôi quen khá thân, Thu thường nói với tôi là Thu xem tôi như người anh cả trong gia đình. Mỗi khi có Má của Thu từ An Hữu (gần Bắc Mỹ Thuận - nay là cầu Mỹ Thuận) lên thăm, Thu thường mời tôi đến nhà chơi. Mỗi lần Má của Thu lên Sài Gòn thăm con, bà thường mang theo nhiều quà cáp cho con và đặc biệt là có nhiều loại trái cây, thuộc cây nhà lá vườn và có cả chim óc cao, chằng nghịt rô ti của vùng bắc Mỹ Thuận thường bán dọc 2 bờ bến bắc cho khách vãng lai, qua lại bắc Mỹ Thuận hàng ngày. Má của Thu gọi tôi bằng con như gọi Anh Việt Thu, rất trìu mến. Bà có vóc hình mảnh mai nhỏ nhắn, nước da trắng giống hệt hình dáng Mẹ tôi đang ở quê nhà Châu Đốc.

Hai bà mẹ cùng có một tấm lòng thương yêu con vô hạn, mong muốn con mình học hành đàng hoàng thành danh với đời dù gia đình nghèo, thiếu thốn. Khi chúng tôi thân nhau, Anh Việt Thu mới tâm sự nhiều với tôi, Thu đã sáng tác một bản nhạc đầu đời của người nhạc sĩ nghèo ở nhà quê mới lên thành đô và bản nhạc thứ 2 mới là bản nhạc Giòng An Giang lúc Thu mới 16, 17 tuổi. Anh Việt Thu vừa đệm đàn vừa hát khe khẻ Giòng An Giang cho anh Năm và tôi vừa đủ nghe. Giọng hát của Thu sao sâu lắng trầm buồn gợi nhắc tôi giòng nước đục ngầu chất đất phù sa của giòng sông An Giang, là nơi chôn nhau cắt rún - quê hương yêu dấu của tôi. Giòng An Giang mà Anh Việt Thư viết thành bản nhạc có giai điệu... Từ năm 1962, tôi nhập ngũ và về phục vụ ở Miền Tây nên tôi không còn dịp gặp anh Việt Thu ở Sài Gòn…

Trong lần tôi và Thu lên Chợ Nhỏ, cách không xa cổng trường Sĩ Quan Thủ Đức, chúng tôi vào một quán ăn mà Thu nói là em gái, tôi không hỏi kỹ là em ruột hay em vợ hay em bà con... Có dịp gặp lại tôi, sau hơn 10 năm gặp lại nhau, Anh Việt Thu trút hết bầu tâm sự về đời thường, đời binh nghiệp và những chuyện bất như ý trong sáng tác âm nhạc... Thu còn nói rõ lý do nào Thu lấy vợ mà cô vợ của Thu, khi tôi còn Sài Gòn chưa vào Quân Đội, hình như tôi có gặp đôi lần qua giới thiệu của Thu, cô là nữ sinh yêu thích nhạc Anh Việt Thu và anh là thần tượng của cô...”

Theo nhạc sĩ Phạm Minh Cảnh: “Anh Việt Thu là lính Địa Phương Quân đang xin về phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến, lúc bấy giờ Thu vừa lên lon Hạ Sĩ thì phải. Tôi có nhắn gởi, nếu Thu có gì trục trặc không phục vụ ở Sài Gòn được thì cho tôi hay để tôi xin Thu về Cần Thơ làm việc chung với tôi trong lãnh vực phát thanh Quân Đội của Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi còn nói rõ, tôi có khả năng xin Anh Việt Thu về Ban Phát Thanh Báo Chí của Quân Đoàn 4 mà tôi đang phụ trách vì là hàng binh sĩ và là nhạc sĩ, tôi xin không khó, còn cấp hạ sĩ quan và nhất là sĩ quan xin đổi về khó khăn hơn vì phải trình qua nhiều chặng và phải trình cấp lớn hơn...”.

Trích dẫn những dòng của bạn bè thân đã một thời chung sống bên nhau để hiểu rõ về hoàn cảnh và tài năng về âm nhạc khi còn trẻ. Tuy có vài thời điểm, hoàn cảnh và nơi chốn không trùng hợp nhưng để đối chiếu.

Khi tuổi hai mươi, Anh việt Thu đã nổi tiếng qua ca khúc Tám Điệp Khúc. Sau đó những sáng tác khác liên tiếp ra đời:  Chân Dung, Đa Tạ, Người Ngoài Phố, Hai Vì Sao Lạc… Xa Dấu Ngựa Hồng, Nhớ Nhau Hoài, Gió Về Miền Xuôi, (phổ thơ Thiên Hà) v.v. Ngoài ra có hàng trăm ca khúc khác. Điển hình như: Anh Còn Gì Cho Em,  Chân Dung, Lời Phủ Dụ Từ Tâm, Lời Ru Tiếng Nhớ, Mùa Xuân Đó Có Em, Những Niềm Thương Mến, Tạ Ơn Người (1971), Trên Đầu Súng,  Trong Cuộc Tình Sầu…

Tập nhạc Đường Chúng Ta Đi, gồm 16 bài hát: Đường Chúng Ta Đi, Lời Trần Tình, Gọi Tên, Về Nguồn, Người Vào Chiến Sử, Dựng Cờ, Sớm Mai Hồng, Những Bước Chân Kiêu Hùng, Với Tin Yêu, Trên Đường Đi Tới, Đi Về Phía Mặt Trời, Anh Về, Vuốt Mặt, Trên Đầu Súng, Tạ Ơn Người, Bài Ca Dao Đầu Lòng, Gian Khổ Có Nhau. Phát hành năm 1971.

Trong tập nhạc nầy có 2 ca khúc rất quen thuộc, Ca khúc Trên Đầu Súng:

“Trên đầu súng xâm lăng xiềng xích với bạo tàn
Trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải gục ngã
Tay nâng niu cây súng súng thép với đạn đồng mới đã lên nòng
Và những loạt đạn đồng vàng vun lúa trổ tràn đồng sâu…”

Ca khúc nầy thường được sử dụng trong sinh hoạt Chính Huấn với các chiến sĩ ngày xưa và nay vẫn còn phổ biến ở hải ngoại trong các đoàn thể tranh đấu…

Ca khúc Đường Chúng Ta Đi mở đầu với câu nói bất hủ của Nguyễn Thái Học
“Đường đi khó ... đường đi không khó ...
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông”…
“Đường chúng ta đi qua bao gian khổ chông gai
Đóa hoa hồng nở trên mỗi bước tới
Giọt mồ hôi, từng giọt nóng hổi
Mở toang tương lai
Ôi buổi lên đường…”.

Tập nhạc Dạ Khúc Kim Sang, gồm mười tác phẩm nhạc không lời dành cho dương cầm và vĩ cầm, đoạt giải Schola Cantorum (RomaÝ) năm 1962.
Trường ca Anh Hùng Ca Xuân Nguyễn Huệ, đoạt giải Nhất xuân Bính Ngọ 1966 do Cục Vô Tuyến Truyền Thanh tổ chức, gồm các bài: Sông Gianh, Vùng Lên, Hận Sông Gianh, Tiếng Hát Từ Lòng Đất, Những Cánh Đồng Biên Giới, Vùng Mặt Trời.

Năm 1972, nhạc sĩ Anh Việt Thu là một trong 12 nhạc sĩ du ca có mặt trong tuyển tập nhạc Hát Cho Những Người Sống Sót (Bút Nhạc xuất bản 1973).
Tuy không thành công về tài chánh như vài nhạc sĩ khác nhưng về danh tiếng trong sáng tác và hoạt động trong lãnh vực nầy đã ảnh hướng sâu rộng trong giới thưởng ngoạn. Anh Việt Thu sáng tác cả trăm bản nhạc nhưng chỉ có một số bản nổi tiếng và được hát nhiều lần cho tới hôm nay tại hải ngọai.
Về cấu trúc nhạc phẩm thông thường có phiên khúc 1, 2 đến điệp khúc và trở lại phiên khúc, hết thúc.

Anh Việt Thu sáng tác nhạc phẩm với tựa đề Tám Điệp Khúc mà trong phiên khúc với 8 lời ca và chỉ một điệp khúc:

“Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Bàn tay năm ngón mưa sa. Dìu anh trong tiếng thở. Đưa tiễn anh đi vào đời. Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về.
Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Bàn tay đón gió muôn phương. Bàn tay gối mộng. Đưa tiễn anh đi vào đời. Mẹ việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời…
(Phiên khúc): Tiếng hát hát trên môi. Giấc ngủ ngủ trong nôi. Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu. Ôi tiếng chim muông gọi đàn. Mẹ Việt Nam ơi! Con xin dâng hiến trọn cả đời.
Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Nằm nghe tiếng hát đu đưa dìu anh trong giấc ngủ. Ôi tiếng ru ru ngọt ngào. Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.
Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Từng đêm ấp ủ trong tim. Từng đêm khe khẽ gọi. Anh nhớ thương em từng giờ. Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời.
Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Trùng dương sóng nước bao la. Trùng dương vang tiếng gọi. Ôi sóng thiêng em về Trời. Mẹ Việt Nam ơi! Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề.
Trời làm cho mưa bay giăng giăng, mây tím dệt thành sầu. Rừng thiêng lá đổ âm u. Rừng thiêng vang tiếng gọi, Ôi núi thiêng em về nguồn. Mẹ Việt Nam ơi! Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề…
“Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu. Bàn tay năm ngón mưa sa. Dìu anh trong tiếng thở. Đưa tiễn anh đi vào đời. Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về”.
*

Cũng như vài văn nghệ sỹ khác, Anh Việt Thu không nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức mà Hạ Sĩ Quan đồng hóa.

Theo Hoàng Trọng, Anh Việt Thu là cựu quân nhân, thuộc binh chủng địa phương quân… năm 1970 về phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến. Theo  nhật báo Người Việt, năm 1970, ông được cử về Phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Theo bài Dòng Nhạc Anh Việt Thu (Cổ Thơ Magazine), nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng kể rằng ông làm chung với Anh Việt Thu ở đó. Anh Việt Thu có người anh bà con làm nhà xuất bản và nhờ Đỗ Kim Bảng dịch cuốn sách từ tiếng Pháp ra tiếng Việt tựa đề Hai Lần Tuổi Hai Mươi, do đó thường xuyên liên lạc với nhau.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết: Những ngày còn làm việc tại Phòng Văn Nghệ thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (do Thiếu Tá Đinh Thành Tiên, tức thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng), Anh Việt Thu chắc chỉ mời ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong Phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường nữa. Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư nhiếp hộ tuyến (hay phổi?) rồi qua đời… Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói. Ông hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình. Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi.

Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam (nếu lấy ngày 30/4/1975 làm dấu mốc) những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao, hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh, rạch, như lòng người miền Nam, khi thủy triều rút đi, khô cạn, phơi mở không còn gì giấu giếm, lúc thủy triều trở lại, lại kín đáo, tràn đầy… Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn….

Về gia cảnh, ông lập gia đình với Nguyễn Nữ Hiệp, nữ sinh Gia Long năm 1965. Có 2 con trai Việt Bằng, Việt Thanh. Với máu nghệ sỹ, có đồng nào tiêu đồng đó nên nghèo vẫn nghèo. Có nhiều lời kể rằng vợ ông có máu ghen vì có nhiều bóng hồng mê nhạc.

Giữa thập niên 1960’ khi tôi vào Sài Gòn học, ở trọ trong khu thánh thất Từ Vân trên đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận. Dãy nhà trọ của nhà thơ Phương Đài, con cụ Song Thu, phía sau đó những căn nhà nhỏ. Khi tôi bước vào quân ngũ, thỉnh thoảng ghé thăm, nghe chị Phương Đài nói nhạc sĩ tài hoa nhưng rất nghèo! Anh Việt Thu ở trong đó, đi về bằng xe đạp.

Cũng như nhạc sĩ Đặng Thế Phong thời tiền chiến, nhạc sĩ Anh Việt Thu tài hoa nhưng mệnh bạc!

Nhà thơ Thiên Hà viết về người bạn thân: “Với Anh Việt Thu phải nói là người bạn thâm giao của Thiên Hà…

anh viet thu 5

Do cơn bệnh hiểm nghèo những ngày cuối đời Anh Việt Thu tâm sự với Thiên Hà, anh mơ ước có một căn nhà bên cạnh dòng sông như ở Tân Qui, đường Trần Xuân Soạn hay Bình Đông. Có lẽ anh muốn ngắm nhìn dòng nước mỗi ngày như ở vùng An Hữu quê anh thời thơ ấu. Khi Thiên Hà đẩy xe đưa Anh Việt Thu vòng quanh bệnh viện cho khuây khỏa chuyện các thầy thuốc đã bó tay. Qua khoảng sân còn sót từng giọt nắng chiều Anh Việt Thu nhìn bầu trời bao la mà thèm những bông hoa nắng. Hiểu ý bạn Thiên Hà hái một đoá Mẫu Đơn bên vệ đường an ủi, động viên bạn mình. Nhưng rồi cơn bệnh nan y đã ngắt đi cuộc sống của nhạc sỹ Anh Việt Thu tại Y viện Quảng Đông (nay là Bệnh viện Nguyễn Tri Phương) Sài Gòn lúc 2 giờ 40 ngày 15 tháng 03 năm 1975 và đưa đi an táng tại quê nhà…

Trong số bạn bè đưa Anh Việt Thu về quê hương, ngàn đời yên nghỉ, ngoài chúng tôi được các anh Nguyễn Vương, Lê Ngọc Thạch, Hoàng Trọng Tâm cho làm đại diện, tôi còn nhận ra các nhạc sĩ Phạm Minh Cảnh, thi sĩ Phạm Lê Phan là hai người bạn cùng phòng làm việc với Anh Việt Thu. Cùng một số đông bạn hữu xa gần, đọc báo, nghe đài phát thanh, cáo phó, đã đón Anh Việt Thu tận quê nhà”.

Trải qua nửa thế kỷ, nhiều nhạc sĩ nổi danh thời Việt Nam Cộng Hòa đã ra người thiên cổ trong đó có những nhạc sĩ qua đời trong bất hạnh, thương đau trước và sau ngày mất nước! Nếu không cò những ca khúc đã đi vào lòng người, có lẽ bị chìm trong quên lãng.

Little Saigon, December 2025
Vương Trùng Dương
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống.
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Được sự cho phép của nghệ sĩ Lê Uyên, chúng tôi rất tiếc phải thông báo đến quý khán/thính giả và quý bằng hữu về việc Lê Uyên vừa trải qua tai nạn xe do một người tài xế say rượu gây ra vào khoảng 9 giờ 45 phút tối thứ Ba, ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Hiện tại, Lê Uyên đang được điều trị tại bệnh viện và không ở trong tình trạng nguy kịch
CÓ NHAU TRONG ĐỜI: 7 GIỜ TỐI CHỦ NHẬT 29 THÁNG 6 NĂM 2025 tại Coffee Factory: 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683. Vé bảo trợ $150 - Vé VIP $100 - Vé đồng hạng $80. Để đặt vé và bảo trợ cho chương trình, vui lòng nhắn tin ban tổ chức 714-725-5445 hoặc 714-592-8941. Ban tổ chức chân thành cảm ơn Coffee Factory hỗ trợ Lê Uyên thực hiện chương trình tưởng niệm này.
Mỗi năm cứ đến cuối tháng Tư, mặc dầu đang là mùa Xuân thanh bình trên quê hương thứ hai, những kỷ niệm đau đớn xưa vẫn tìm đường trở về trong tâm tưởng. Năm nay đánh dấu 50 năm, một nửa thế kỷ nên càng thêm đậm nét. Bản thân tôi thuộc lớp người di cư vào Nam sau hiệp định Geneve ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, lại có thêm những hoài niệm khắc khoải hơn. Trong hiệp định có khoảng 300 ngày để di cư, sau này vì số người di cư từ Bắc vào Nam quá đông nên được gia hạn thêm vài tuần. Đối với cá nhân tôi, rời bỏ miền Bắc tháng 4 năm 1955 nên là đánh dấu 70 năm di cư và 50 năm di tản. Những người hai lần di cư, nhất là các phụ nữ Việt thật nhẫn nại, kiên cường chịu đựng từ 70 năm qua, định cư tại miền Nam mới được 20 năm thì lại phải di tản. Nếu năm 1955, chỉ xuống miền Nam thì năm 1975 phải đến một nơi xa lạ cách cả một đại dương.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Chưa có bao giờ vào những ngày đầu năm mà tôi phải nằm nhà suốt như năm nay. Năm 2025, năm của con rắn, năm Ất Tỵ. Ở tuổi già bước vào tuổi tám bó, cực chẳng đã bị cái bệnh khiến mệt rề rề mới nằm nhà, nếu khỏe ra cà phê tán gẫu. Chuyện tầm phào từ thuở xa xưa, thời khai thiên lập địa, có một phái đoàn có cả con người và muôn loài động vật, chuyện không nhắc đến dùng phương tiện gì, mà tất cả đã mò lên trình diện được cùng Thượng Đế. Việc trước tiên là… vấn an Ngài, thứ đến là xin Ngài ban phước lành cho trần thế. Không hiểu từ một sự sắp xếp theo một tuần tự ngẫu nhiên nào mà cặp đôi trùng phùng đến quì trước mặt Thượng Đế là một lão già lẩm cẩm, chừng đâu đó tuổi bằng tuổi tôi hiện giờ (83) và một con rắn lượn mình hớn hở.
Hà Nội của một thời “36 phố phường” cũng không hiểu vì sao, thời còn đi học nơi phố cổ Hội An, ngoài thơ, văn… vài ca khúc từ thời tiền chiến đã chiếm trong tâm hồn tôi. Nơi chốn đó khi xa cách với nỗi buồn, tiếc như như ca khúc Hướng Về Hà Nọi của nhạc sĩ Hoàng Dương
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Và đêm qua, chân dung ấy đã mang bao tâm hồn, bao thế hệ cùng trở lại bên nhau. Anh biết không, trong khuôn viên rộng lớn của Bowers Museum, em đã nhận ra, và tìm về với bao nhiêu gương mặt thân quen mà đã từ lâu em không gặp. Họ là những tên tuổi lớn của mọi lĩnh vực từ văn chương, âm nhạc cho đến điện ảnh... Họ là những vị đã bước qua tuổi tám mươi, đến những em nhỏ chưa tròn đôi mươi. Họ là những nhân chứng của cuộc chiến tranh. Như một định mệnh, những tâm hồn ấy lại ngồi bên nhau để cùng nghe tiếng hát vang lên: “Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng, Người ngỡ đã quên lâu, nhưng người vẫn bâng khuâng” (Trịnh Công Sơn)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.