Hôm nay,  

Thả gió bay đi nghìn trùng

9/30/202514:53:00(View: 1860)
Nghìn Trùng Xa Cách

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

  

Ca từ và lời thơ có những đồng điểm. Về mặt sáng tác, ngôn ngữ thơ và ca khúc có thể sử dụng từ lời nói thường ngày, ngôn ngữ bình dân lên đến ngôn ngữ cao cấp như ngôn ngữ văn học và triết học. Ngôn ngữ có khả năng thể hiện qua hiện thực, siêu thực, ấn tượng, tượng trưng hoặc một dạng độc đáo sáng tạo nào khác của tác giả.

Dĩ nhiên, có nhiều bài thơ với lời lẽ và ý tưởng dễ dàng phổ nhạc, thường là thơ tình và không quá cao trong cấp bậc văn học. Ngược lại, nhiều bài nhạc có ca từ có thể trở thành bài thơ và không phải là bài thơ khó. Nói một cách khác, giữa lời thơ và ca từ có một vùng giao thoa, nhưng phần còn lại của thơ thì mênh mông.

Một điểm nhấn khác, ca từ luôn bị giới hạn bởi cấu trúc âm giai của câu nhạc và cấu trúc tổng thể của ca khúc, một loại cấu trúc không có nhiều lựa chọn. Ca từ bị gò bó hơn lời thơ, nhất là thơ tự do. Tuy nhiên, vì bị giới hạn trong cấu trúc âm giai và giai điệu, ca từ có cơ hội biến chuyển ngoạn mục như ca từ của Trịnh Công Sơn hoặc thủ thuật chữ nghĩa như ca từ của Phạm Duy:

“Ta ghì cho tan vỡ trái tim này / Cho người ăn chơi nhíu đôi lông mày … “ Vũ Nữ Thân Gầy. Lời Phạm Duy.

Chữ “ghì” và chữ “nhíu” thật là ấn tượng, thậm chí, làm cho người đọc thấy được hình ảnh cử động.

 

Tuy nhiên, lời thơ không phải là văn xuôi, thơ có tiết tấu và nhịp điệu, kể cả thơ thự do. Những bài thơ có nhịp điệu êm ả và tiết tấu trầm bổng theo luật bằng trắc, nhất là thơ tình, thường rất dễ phổ nhạc, dễ gây cảm tình với người nghe.

Có thể thấy rõ, thơ tình của Du Tử Lê rất dễ phổ thành nhạc vì đã có sẵn âm điệu, giai điệu và ý tưởng dễ nắm bắt. Do đó, có người tuyên bố Du Tử Lê có hơn 300 bài thơ phổ nhạc. Trong khi thơ của Thanh Tâm Tuyền chỉ được dùng vài câu bởi những nhạc sĩ thành danh hàng đầu như Cung Tiến và Phạm Đình Chương. Thơ Tô Thùy Yên chỉ được phổ nhạc bài Ta Về và bài Chiều Trên Phá Tam Giang, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh chỉ phổ nhạc phần sau của bài thơ. Có chút gì khó hiểu phải không?

Đi sâu vào nghiên cứu sẽ nhận ra, thơ càng sâu sắc về ý tưởng, càng trình bày không nhạc điệu, càng khó phổ thành nhạc. Vì vậy, ca từ ít khi đi vào cõi văn học cao và triết lý đậm. Kể cả ca từ của Bob Dylan (Nobel Prize 2016) và của Leonard Cohen, dù được xem là dẫn đầu trong lãnh vực ca từ triết học.

Nhạc sĩ Việt thường có trình độ nhạc lý, nghệ thuật sáng tác nhạc cao hơn trình độ sáng tác ngôn ngữ theo giai điệu. Chúng ta có rất nhiều ca khúc nhạc rất hay nhưng ca từ không tương xứng. Vì khả năng ngôn ngữ giới hạn, nhạc sĩ nỗ lực tìm lời ráp vào âm giai cho nên lời lẽ không suôn, không trơn, sai dấu, không đúng nghĩa, hoặc câu này qua câu kia như người đầu sông, kẻ cuối sông. Mượn thơ làm ca từ phổ nhạc trở thành phổ thông trong giới làm nhạc mà gặp khó khăn khi sáng tác ca từ.

Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc.

“Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.

Đoạn một:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu

Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu

Có lũ kỷ niệm trước sau

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Rồi sẽ tan đi mịt mù

Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho

Thả gió bay đi mịt mù

 

Đoạn Hai:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà giữ cho người...

Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời

Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui

Lời nói, lời cười

Chuyện ngắn chuyện dài

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai ngày tháng êm trôi

Đường em đi trời đất yên vui

Rừng vắng ban mai, đường phố trăng soi

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai cả những chua cay

Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi

Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người

Trả nốt đôi môi gượng cười

 

Đoạn kết:

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gửi đến cho người...

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người

 

Không có đoạn mở đầu. Phạm Duy bước ngay vào thân bài bằng hai mảnh, có thể coi như hai bài thơ khác nhau, cùng nói về mối tình xa cách nhìn trùng.

 

Mảnh Một.

Phạm Duy vẽ lên một bức tranh hồi tưởng về người yêu với những hình ảnh lãng mạn và thơ mộng, tạo ra cảm giác êm ái cho người thưởng ngoạn và tâm tình đồng cảm với những mối tình đẹp trong quá khứ.

Những tứ thơ biểu tượng như:

Mời người lên xe về miền quá khứ / Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu / Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.

Một luận lý hết mực văn chương. Tính lý luận đã mất hẳn trong cái đẹp của thơ. Điều này chứng minh rằng, trong thơ không chỉ có nhạc, thơ có lý luận (logic) riêng và lý luận này rất khác biệt với lý luận của trí tuệ. Lý luận của thơ là lý luận thẩm mỹ.

Với ba câu này thôi, chúng ta hoàn toàn trở về quá khứ, mơ màng với tình nhân xa xôi.

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Có lẽ, hầu hết chúng ta đã từng ép vào trang vở học trò những bông hoa cành lá kỷ niệm. Thời thơ mộng ấy, lúc nào nhớ lại cũng chạnh lòng. Rồi thời gian qua, thời học trò vùi vào quên lãng. Bỗng một hôm, lục tìm quá khứ, mở cuốn vở xưa, thấy hoa lá cũ chỉ còn là bộ xương khô, thấm máu vào trang giấy trắng, lâu quá rồi, nhạt thành màu nâu lợt lạt. Cảm giác lúc đó, làm sao mà diễn tả. Tất cả những rung động về kỷ niệm, những xúc động về một ai kia, sẽ ngui dần. Rồi cuối cùng, hết sức hư huyền, chúng ta đành “Thả gió bay đi mịt mù.”

 

Mảnh Hai.

Nếu theo dõi giai điệu và hiệu quả sáng tác, chúng ta thấy, nhạc sĩ mở đầu mảnh một trong giọng C Major, tạo một dòng nhạc mượt mà, êm dịu, tạo một không khí lâng lâng nhớ nhung, không quá buồn bã.

Sau khi lập lại, nhắc lại câu “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi “ Ông nối cái không khí nhẹ nhàng tiếc nuối kia vào một khí hậu khác, trầm lắng hơn, gợi cảm hơn, pha thêm màu buồn với những ca từ trực tiếp chạm vào dĩ vãng bằng giọng C Minor, sau khi, “Còn gì đâu nữa mà giữ cho người.” Thật tài tình.

Ký hiệu “Trả hết” được lập lại năm lần với nghĩa đen gần như muốn dứt khoát với người tình xưa. Tuy nhiên, ở nghĩa ngụ ý, “trả hết” chỉ là một cách nói đau lòng của người không thể nào trở lại quá khứ, không thể nào gần gũi bên người tình dĩ vãng. Trả lại là một cách diễn tả “tiếc nuối mà không biết làm sao”. Vì không thực sự dứt khoát, không thực sự trả lại, cho nên vào lúc cuối, mới “Còn lời trăn trối gửi đến cho người.”

Những câu thơ trong mảnh hai từ “Trả hết về người” trở đi, chúng ta không thấy ẩn dụ, không biểu tượng, chỉ là lời lẽ tâm sự. Mặc dù văn vẻ nhưng thành thật và cảm xúc. Nhất là câu “Đường em đi trời đất yên vui”, nghĩ đến đời sống của người tình xưa giờ đang hạnh phúc với người khác, còn mình thì “Rừng vắng ban mai,” đường phố chỉ còn trăng soi. Có lẽ lòng sẽ chùng xuống, thoáng một chút bóng ghen. 

Hai câu cuối của mảnh hai, nhạc sĩ thật tài tình từ câu”Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người” từ giọng buồn thảm, từ ca từ than xót “thương ôi” trong C Minor đột ngột trở về C Major, từ tâm sự buồn bã, vọng lên một thoáng bình tĩnh hơn “Trả nốt đôi môi gượng cười.” Lời tài hoa mà nhạc cũng tài hoa. 

Từ “trả hết” ông đổi sang “trả nốt” tức là trả thêm. Hình ảnh “đôi môi gượng cười,” làm nhẹ nhàng tâm trạng đang ưu tư. Nếu người nghe đang chìm đắm trong những lời nhạc buồn gợi lên trong lòng mỗi người nghe những hình ảnh đẹp của người tình đã không còn hy vọng, sẽ chợt tỉnh dậy với âm điệu Major và hình ảnh gượng cười. Điều sung sướng của những hình ảnh này là dù thời gian dài bao lâu, dù người nghe già bao nhiêu, hình ảnh người tình vẫn trẻ trung, đẹp mãi với thời gian.

 

Mảnh kết.

Vẫn giọng Major, ông đi vào đoạn kết, lập lại, “Nghìn trùng xa cách” nhưng đoạn lìa với “đời đứa ngang rồi.” Nhưng đẹp nhất, khuây khỏa nhất là câu cuối “Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.”  Phạm Duy phong lưu, tuy vậy chẳng những ông có tấm lòng với phụ nữ, với âm nhạc, ông còn có tấm lòng với nước non.

Ca khúc “Nghìn Trùng Xa cách” có lẽ sẽ tồn tại với người hát, với lịch sử âm nhạc Việt. Cho dù mai sau, không còn ai hát nữa, nhưng chắc chắn nếu còn con người thì còn nhìn trùng xa cách.  

 

Ngu Yên.
Houston. Tháng 8, 2025

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Theo nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho anh, ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Để nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu anh của Việt Thu phải bảo bọc người em bị bệnh tê liệt... Gia đình ông gồm nhiều em: theo Hồng Ngọc Viễn Đông, ông là anh đầu, có ba em là Huỳnh Hữu Phi Long, Huỳnh Thị Kim Phụng và Huỳnh Hữu Việt Thu.
Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống.
Được sự cho phép của nghệ sĩ Lê Uyên, chúng tôi rất tiếc phải thông báo đến quý khán/thính giả và quý bằng hữu về việc Lê Uyên vừa trải qua tai nạn xe do một người tài xế say rượu gây ra vào khoảng 9 giờ 45 phút tối thứ Ba, ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Hiện tại, Lê Uyên đang được điều trị tại bệnh viện và không ở trong tình trạng nguy kịch
CÓ NHAU TRONG ĐỜI: 7 GIỜ TỐI CHỦ NHẬT 29 THÁNG 6 NĂM 2025 tại Coffee Factory: 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683. Vé bảo trợ $150 - Vé VIP $100 - Vé đồng hạng $80. Để đặt vé và bảo trợ cho chương trình, vui lòng nhắn tin ban tổ chức 714-725-5445 hoặc 714-592-8941. Ban tổ chức chân thành cảm ơn Coffee Factory hỗ trợ Lê Uyên thực hiện chương trình tưởng niệm này.
Mỗi năm cứ đến cuối tháng Tư, mặc dầu đang là mùa Xuân thanh bình trên quê hương thứ hai, những kỷ niệm đau đớn xưa vẫn tìm đường trở về trong tâm tưởng. Năm nay đánh dấu 50 năm, một nửa thế kỷ nên càng thêm đậm nét. Bản thân tôi thuộc lớp người di cư vào Nam sau hiệp định Geneve ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, lại có thêm những hoài niệm khắc khoải hơn. Trong hiệp định có khoảng 300 ngày để di cư, sau này vì số người di cư từ Bắc vào Nam quá đông nên được gia hạn thêm vài tuần. Đối với cá nhân tôi, rời bỏ miền Bắc tháng 4 năm 1955 nên là đánh dấu 70 năm di cư và 50 năm di tản. Những người hai lần di cư, nhất là các phụ nữ Việt thật nhẫn nại, kiên cường chịu đựng từ 70 năm qua, định cư tại miền Nam mới được 20 năm thì lại phải di tản. Nếu năm 1955, chỉ xuống miền Nam thì năm 1975 phải đến một nơi xa lạ cách cả một đại dương.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Chưa có bao giờ vào những ngày đầu năm mà tôi phải nằm nhà suốt như năm nay. Năm 2025, năm của con rắn, năm Ất Tỵ. Ở tuổi già bước vào tuổi tám bó, cực chẳng đã bị cái bệnh khiến mệt rề rề mới nằm nhà, nếu khỏe ra cà phê tán gẫu. Chuyện tầm phào từ thuở xa xưa, thời khai thiên lập địa, có một phái đoàn có cả con người và muôn loài động vật, chuyện không nhắc đến dùng phương tiện gì, mà tất cả đã mò lên trình diện được cùng Thượng Đế. Việc trước tiên là… vấn an Ngài, thứ đến là xin Ngài ban phước lành cho trần thế. Không hiểu từ một sự sắp xếp theo một tuần tự ngẫu nhiên nào mà cặp đôi trùng phùng đến quì trước mặt Thượng Đế là một lão già lẩm cẩm, chừng đâu đó tuổi bằng tuổi tôi hiện giờ (83) và một con rắn lượn mình hớn hở.
Hà Nội của một thời “36 phố phường” cũng không hiểu vì sao, thời còn đi học nơi phố cổ Hội An, ngoài thơ, văn… vài ca khúc từ thời tiền chiến đã chiếm trong tâm hồn tôi. Nơi chốn đó khi xa cách với nỗi buồn, tiếc như như ca khúc Hướng Về Hà Nọi của nhạc sĩ Hoàng Dương
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Và đêm qua, chân dung ấy đã mang bao tâm hồn, bao thế hệ cùng trở lại bên nhau. Anh biết không, trong khuôn viên rộng lớn của Bowers Museum, em đã nhận ra, và tìm về với bao nhiêu gương mặt thân quen mà đã từ lâu em không gặp. Họ là những tên tuổi lớn của mọi lĩnh vực từ văn chương, âm nhạc cho đến điện ảnh... Họ là những vị đã bước qua tuổi tám mươi, đến những em nhỏ chưa tròn đôi mươi. Họ là những nhân chứng của cuộc chiến tranh. Như một định mệnh, những tâm hồn ấy lại ngồi bên nhau để cùng nghe tiếng hát vang lên: “Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng, Người ngỡ đã quên lâu, nhưng người vẫn bâng khuâng” (Trịnh Công Sơn)


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.