Hôm nay,  

Anh có cùng em thấu hiểu hai chữ Khánh Ly?

12/03/202517:27:00(Xem: 8347)
Hãy Yêu Nhau Đi
Ca sĩ, thân hữu, khán giả trong phần "Hát Cùng Khánh Ly", với bài hát Hãy Yêu Nhau Đi, tại khán trường Bowers Museum, đêm xuân 7 tháng Ba, 2025.

 

Z, Anh thương, 

Em không hiểu, tự bao giờ, em đã bỏ lại sau lưng thói quen nghĩ về anh. Một thói quen vẫn thường đem cho em những rung động thắm thiết. Em đã từng nghĩ về anh, khi nghe một bài nhạc cũ, khi đọc một câu thơ, hay thoáng thấy đâu đó một màu xanh cổ tích. Khoảng thời gian qua, đầu em rỗng, tim em đông cứng… 

Môi nào hãy còn thơm cho ta vơi cuộc tình
Tóc nào hãy còn xanh cho ta chút hồn nhiên

Tim nào có bình yên, ta rêu rao đời mình

Xin người hãy gọi tên.
(TCS)

Giữa sự tịch lặng của khán phòng, tiếng hát cô vang lên, thanh thoát. Và thế, sau bao năm hiu hắt, màu xanh cổ tích, dịu dàng, đằm thắm, lại quay về bên em.  Anh có nhớ tấm hình em khoe anh, xúng xính trong chiếc áo dài. Anh nói bằng ngôn ngữ của anh, áo em đẹp quá, thật hợp với mái tóc của em.  Lúc đó em chỉ tủm tỉm cười cảm ơn anh. Thật ra, em không thú thật với anh rằng, đó là hình ảnh em bắt chước cô Khánh Ly, một hình ảnh đậm nét Việt Nam mà em hằng ngưỡng mộ.  

Anh thương,

Trong suốt khoảng thời gian chúng ta, với nhau… Dù anh luôn tò mò, nhưng em rất ít chia sẻ về quê hương em. Dù chúng ta lớn lên trên cùng mảnh đất, chúng ta không bị giới hạn ngôn ngữ, chúng ta cùng được hấp thụ chung một nền văn hoá, chúng ta cùng học chung dưới một ngôi trường… Nhưng em vẫn luôn mang mặc cảm của một cô gái ở trọ, trên mảnh đất của anh, mỗi khi em nhìn sâu vào đôi mắt xanh màu cổ tích.  

Những câu chuyện em kể anh nghe, luôn được chọn lọc. Đó là những câu chuyện về hồn thơ Mai Thảo, cõi nhạc Phạm Đình Chương, hay hình ảnh lịch lãm của bác Cảnh, một công tử Hà Thành, luôn hào sảng trong mọi tình huống. Và lẽ dĩ nhiên, Trong đó, có những mẩu chuyện mang tên Khánh Ly.  Thời đó, khi chỉ là một cô gái ở tuổi đôi mươi, em phải cố gắng khoe với anh về huyền thoại Khánh Ly. Anh phải hiểu rằng, ẩn sâu dưới những mặc cảm, tự ti, trong thế giới của em, đã có một chân dung, một nhan sắc bất diệt mang tên Khánh Ly. Tiếng hát đó đã vượt rào cản thời gian, không gian, để ở mãi với dân tộc em cho tới ngày hôm nay. 

Và đêm qua, chân dung ấy đã mang bao tâm hồn, bao thế hệ cùng trở lại bên nhau.  Anh biết không, trong khuôn viên rộng lớn của Bowers Museum, em đã nhận ra, và tìm về với bao nhiêu gương mặt thân quen mà đã từ lâu em không gặp.  Họ là những tên tuổi lớn của mọi lĩnh vực từ văn chương, âm nhạc cho đến điện ảnh... Họ là những vị đã bước qua tuổi tám mươi, đến những em nhỏ chưa tròn đôi mươi.  Họ là những nhân chứng của cuộc chiến tranh.  Như một định mệnh, những tâm hồn ấy lại ngồi bên nhau để cùng nghe tiếng hát vang lên: 

“Tình ngỡ chết trong nhau
nhưng tình vẫn rộn ràng

Người ngỡ đã quên lâu

nhưng người vẫn bâng khuâng”
(Trịnh Công Sơn)


Bỗng dưng, em thấy nhói đau lồng ngực trái. Em hiểu ra rằng, những người hiện diện đêm hôm qua, không phải để nghe tiếng hát Khánh Ly, mà họ muốn được sống lại với những kỉ niệm của bảy mươi năm thăng trầm với huyền thoại Khánh Ly.  Kỉ niệm đó có thể là hình ảnh của quán Văn, của khuôn viên trường đại học, của chiến tranh, của tình yêu, và cả của cái chết. Kỉ niệm đó là hình ảnh của một cô gái đôi mươi, với mái tóc dài kín bờ vai, thao thao bất tuyệt kể về những huyền thoại của dân tộc mình, cho người thanh niên với ánh mắt xanh màu cổ tích. 

Cuối cùng, em đã nhận ra, tại sao, dù không liên hệ máu mủ, em vẫn không cho phép người nào có những lời lẽ khiếm nhã về Cô. Em cũng không cho phép những lời khen tặng dành cho người khác mà không phải là Cô. Như em đã từng nổi giận khi nghe những câu khen ngợi như: “hình ảnh bọn trẻ hát nhạc Trịnh thật dễ thương, bọn trẻ làm sống lại dòng nhạc Trịnh Công Sơn.” Anh biết không, em đã lỗ mãng quát lên: “Có chết đâu mà làm sống lại.” Với em, cõi nhạc Trịnh Công Sơn mãi mãi bất tử với tiếng hát Khánh Ly. Đối với em, đó không chỉ là tiếng hát, mà là một chân dung, một tấm lòng của người mẹ, một trái tim người con gái Việt Nam máu đỏ da vàng, một nhan sắc bất diệt. 

Đêm khép lại bằng những lời chúc sức khoẻ đến với cô và những lời cảm ơn. Riêng em, em nợ cô một lời xin lỗi, em đã sử dụng hình ảnh cô như một vũ khí để tấn công anh, người con trai có đôi mắt xanh màu cổ tích. Em xin lỗi anh, vì cuối cùng, cho dù chúng ta có nói chung một ngôn ngữ, được hít thở chung bầu không khí an lành trên mảnh đất tự do, anh sẽ không làm sao có được sự nhói đau bên lồng ngực trái mỗi lần tiếng hát ấy vang lên:

“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi.” (Trịnh Công Sơn)

 

Orchid Lâm Quỳnh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho anh, ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Để nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu anh của Việt Thu phải bảo bọc người em bị bệnh tê liệt... Gia đình ông gồm nhiều em: theo Hồng Ngọc Viễn Đông, ông là anh đầu, có ba em là Huỳnh Hữu Phi Long, Huỳnh Thị Kim Phụng và Huỳnh Hữu Việt Thu.
Tại Việt Nam, dòng nhạc boléro du nhập vào miền Nam Việt Nam vào khoảng thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ; nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng nhạc điệu phương Tây thay cho nhạc điệu phương Đông truyền thống.
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Được sự cho phép của nghệ sĩ Lê Uyên, chúng tôi rất tiếc phải thông báo đến quý khán/thính giả và quý bằng hữu về việc Lê Uyên vừa trải qua tai nạn xe do một người tài xế say rượu gây ra vào khoảng 9 giờ 45 phút tối thứ Ba, ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Quận Cam, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Hiện tại, Lê Uyên đang được điều trị tại bệnh viện và không ở trong tình trạng nguy kịch
CÓ NHAU TRONG ĐỜI: 7 GIỜ TỐI CHỦ NHẬT 29 THÁNG 6 NĂM 2025 tại Coffee Factory: 15582 Brookhurst St., Westminster, CA 92683. Vé bảo trợ $150 - Vé VIP $100 - Vé đồng hạng $80. Để đặt vé và bảo trợ cho chương trình, vui lòng nhắn tin ban tổ chức 714-725-5445 hoặc 714-592-8941. Ban tổ chức chân thành cảm ơn Coffee Factory hỗ trợ Lê Uyên thực hiện chương trình tưởng niệm này.
Mỗi năm cứ đến cuối tháng Tư, mặc dầu đang là mùa Xuân thanh bình trên quê hương thứ hai, những kỷ niệm đau đớn xưa vẫn tìm đường trở về trong tâm tưởng. Năm nay đánh dấu 50 năm, một nửa thế kỷ nên càng thêm đậm nét. Bản thân tôi thuộc lớp người di cư vào Nam sau hiệp định Geneve ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, lại có thêm những hoài niệm khắc khoải hơn. Trong hiệp định có khoảng 300 ngày để di cư, sau này vì số người di cư từ Bắc vào Nam quá đông nên được gia hạn thêm vài tuần. Đối với cá nhân tôi, rời bỏ miền Bắc tháng 4 năm 1955 nên là đánh dấu 70 năm di cư và 50 năm di tản. Những người hai lần di cư, nhất là các phụ nữ Việt thật nhẫn nại, kiên cường chịu đựng từ 70 năm qua, định cư tại miền Nam mới được 20 năm thì lại phải di tản. Nếu năm 1955, chỉ xuống miền Nam thì năm 1975 phải đến một nơi xa lạ cách cả một đại dương.
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng.
Chưa có bao giờ vào những ngày đầu năm mà tôi phải nằm nhà suốt như năm nay. Năm 2025, năm của con rắn, năm Ất Tỵ. Ở tuổi già bước vào tuổi tám bó, cực chẳng đã bị cái bệnh khiến mệt rề rề mới nằm nhà, nếu khỏe ra cà phê tán gẫu. Chuyện tầm phào từ thuở xa xưa, thời khai thiên lập địa, có một phái đoàn có cả con người và muôn loài động vật, chuyện không nhắc đến dùng phương tiện gì, mà tất cả đã mò lên trình diện được cùng Thượng Đế. Việc trước tiên là… vấn an Ngài, thứ đến là xin Ngài ban phước lành cho trần thế. Không hiểu từ một sự sắp xếp theo một tuần tự ngẫu nhiên nào mà cặp đôi trùng phùng đến quì trước mặt Thượng Đế là một lão già lẩm cẩm, chừng đâu đó tuổi bằng tuổi tôi hiện giờ (83) và một con rắn lượn mình hớn hở.
Hà Nội của một thời “36 phố phường” cũng không hiểu vì sao, thời còn đi học nơi phố cổ Hội An, ngoài thơ, văn… vài ca khúc từ thời tiền chiến đã chiếm trong tâm hồn tôi. Nơi chốn đó khi xa cách với nỗi buồn, tiếc như như ca khúc Hướng Về Hà Nọi của nhạc sĩ Hoàng Dương
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.