Hôm nay,  

Mùa Thu Hoa Soan Và Những Con Tằm

05/11/202510:44:00(Xem: 632)
Ann P 13
Tranh Ann Phong

                                                                

 

Mùa Thu năm nay ở miền Tây Bắc nước Mỹ đẹp quá! Lá đổi màu rất sớm, cả thành phố màu vàng, màu đỏ, mầu nâu rực rỡ trong nắng Thu. Mưa có đến nhưng đến thật nhẹ nhàng, vừa đủ để người đi dưới mưa ướt trên vai áo, phủi nhẹ và thấy mùa thu nằm giữa những ngón tay mình.

Cây nâu cây đỏ cây vàng

Cả ba cây đứng sắp hàng đón Thu

 

Mùa Thu,tôi vừa được bắt đầu bằng bài viết của Nhà Văn, Nhà Biên Khảo Nguyễn Duy Chính. Bài ông viết về những con tằm, lá dâu và người dệt lụa. Bài viết về nỗi buồn của người nuôi tằm, dệt lụa nhìn người khác mặc những chiếc áo đẹp do chính tay mình nuôi tằm, dệt tơ, trong khi mình mặc một chiếc áo cũ.

Tôi được đọc bài này hai lần, cách nhau cả năm và cả hai lần đều làm lòng mình nao nao. Bài viết của nhà biên khảo Nguyễn Duy Chính làm tôi nhớ lại thời thơ dại rất xa, xa lắm…Khi đó tôi mới lên 5, lên 6.

Gia đình tôi từ Hà Nội chạy loạn về Thái Bình, ở nhờ nhà một người họ hàng bên ngoại, trong một ngôi làng nhỏ, có tên là Làng Cau. (Cái tên làng rất xa xưa này chắc bây giờ không còn trên bản đồ miền Bắc nữa).

Anh lớn nhất lên 10 tuổi, chị tôi lên 8. Anh tôi lo việc trông em là cô út, lúc đó mới khoảng 2 tuổi. Chị tôi thì đã có thể quan sát việc hái dâu, chăn tằm và được Mẹ cho tập ngồi vào khung kéo sợi. Ở tuổi lên 5, tôi chơi được một mình, nhưng chưa được học chăn tằm, hay ngồi vào khung kéo sợi, nhưng không ai cấm tôi đứng nhìn những nong tằm ăn dâu. Những nong tằm với những con tằm to như ngón tay của đứa bé, chúng ăn dâu ào ào trong cái mẹt khá to, nhìn vừa sợ, vừa thích, và tôi được nhìn ngắm: những cái kén vàng óng vớt ra từ nồi nước bốc khói rất là hấp dẫn cho một đứa trẻ lên 5.

Lớn lên mới biết được câu Ca Dao:

Một nong tằm là năm nong kén

Một nong kén là chín nén tơ

 

Không biết một “nén tơ” là bao nhiêu? Dệt được bao nhiêu thước lụa?

 

Chị tôi được tập quay những sợi bông với một cái khung gỗ, được chỉ dạy chọn những lá dâu cho vào nong tằm. Những con tằm nhỏ chủ nhà nhặt ra bỏ đi, Chị tôi lại đi kiếm cái mẹt nhỏ nuôi riêng cho chị em tôi chơi với nhau, vì tuy chúng tôi là trẻ con Hà Nội chạy loạn về nhà quê nhưng việc được xem những con tằm ăn trong một nong dâu đối với chúng tôi rất là hấp dẫn…hơn cả những đồ chơi của trẻ con thành phố bỏ lại sau lưng.

Bài viết về tằm của nhà biên khảo Nguyễn Duy Chính làm tôi nhớ lại cả một thời thơ mộng của tuổi thơ ở một quê nhà xa lắc xa lơ đó. Tôi nhớ ngôi nhà chúng tôi ở trọ trong thời chạy loạn của một người làng khá giả, thấy người Hà Nội chạy loạn về, họ mở cửa ra đón vào và nhường cái gian tốt nhất cho khách quý. Nhà có ba gian, gian giữa có đặt bàn thờ ông bà đã qua đời, gia đình tôi được cho một gian ngay bên cạnh, nghe Ba tôi nói: Họ quý mình lắm mới nhường cho gian này, lại được nằm ngủ trên một ổ rơm còn thơm mùi rạ. Cái ổ rơm này còn quý hơn cả cái sập gụ ở Hà Nội của mình.(Chắc là thấy khách tới, họ vội thay ổ rơm mới.)



Bằng trí nhớ của đứa bé lên 5, tôi nhớ lại ngôi nhà đó có lưng quay ra ngoài đường làng, có cánh cổng gỗ vào nhà. Mặt tiền của gôi nhà đối diện với một cái ao đào và bên kia ao là một vườn sắn.Cái ao có chiếc cầu nhỏ bắc nhô ra ao để người nhà vo gạo, rửa bát và làm đủ mọi việc cần tới nước. Ao cũng có cá nhỏ và rất nhiều ốc. Tôi nhớ được nhìn người lớn vứt một cái vỏ mít úp ngược xuống ao chiều hôm trước, sáng hôm sau vớt lên có bao nhiêu con ốc bám vào đó.

Trước nhà có bậc tam cấp bước xuống một cái sân to lát gạch, sau này khi nói chuyện “ngày xưa” anh tôi nói: sân đó khi gặt lúa về, thợ đập lúa ở đó. Cái sân gạch đó cũng là sân chơi của trẻ con trong những ngày có trăng. Đây là một ngôi nhà khá giả trong làng và gia đình tôi may mắn có liên hệ với họ hàng bên ngoại và được họ quý mến.

Chị tôi lên 8, được học quay sợi bông trong ngôi nhà này.

Tôi chưa tới tuổi được học quay tơ, kéo sợi nhưng hình như ngay ở tuổi lên 5 tôi đã biết thưởng thức cái vẻ đẹp của “nhà quê” trên quê hương mình:

Tôi nhớ bờ ao, nơi anh chị em chúng tôi bắt chuồn chuồn, trượt chân ngã chới với nhiều lần. Nhớ những lần đứng xem người làng tát ao bắt cá, đám trẻ quê lội xuống bùn, bắt hôi (Bắt hôi là không phải ao nhà mình, nhưng chủ ao cũng cho xuống bắt).

Nhớ những con đom đóm lập lòe buổi tối, trong những bụi cây. Trẻ con nhà quê còn bắt đom đóm cho vào cái vỏ trứng làm những cái đèn cầm trên tay, rất hấp dẫn trẻ con thành thị, và tôi nhớ nhất là vào những ngày mưa bụi, hoa soan rụng tím trên mặt đường đê màu đất đỏ, ngoằn ngoèo trên đường từ nhà tới nhà Thờ. Con đường đất đỏ ẩm ướt những cánh hoa soan tím đó đã vẽ vào hồn cô bé lên 5 của tôi cho đến bây giờ. Hãy tưởng tượng ra đi: Con đường đê ngoằn ngoèo, ướt mưa vừa đủ để giữ được những cánh hoa soan màu tim tím rơi trên đó, thật vô cùng đẹp. Cô bé con lên 5, đã giữ được hình ảnh đó trong tâm cho đến thời tóc bạc, da mồi…

Tôi kể lại chuyện hoa soan rơi trên đường làng, thì anh chị tôi chỉ nói: “thế à!”. Anh chị tôi cũng không nhớ được hình ảnh tới mùa Phục Sinh, trong “Tuần Thánh” có lễ hôn chân Chúa, nhà Thờ ở miền quê đó đã rang bỏng gạo, trộn với hoa soan để ngay dưới chân Thánh Giá, để mỗi lần con chiên lên hôn chân Chúa, được bốc một nắm bỏng hoa soan đó cho vào túi mình.

Không biết có ai ở làng đó còn nhớ như tôi không?

Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.


Hình như những cái đẹp bao giờ cũng đi theo những cái mất mát, những cái buồn…. để dệt thành những giải lụa không phải để may áo mà để bềnh bồng trong trí nhớ.

tmt- Thu 2015
Thân Tặng nhà Biên Khảo Nguyễn Duy Chính

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.