Hôm nay,  

Bạn

07/09/202511:38:00(Xem: 4255)
bạn 1
Bạn trung học chụp chung với cô chủ nhiệm nhân dịp kỷ niệm 25 năm ra trường

Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết. Tại già đâm ra khó tính không thấy ai hạp? Hay tại già thích yên lặng, không muốn nói chuyện, chỉ muốn làm bạn với cây cỏ? Tôi lần mò quay lại với quá khứ, nhớ lại những người bạn xưa, để hy vọng tìm ra câu trả lời cho cảm giác lạc lõng với người thân quen trong hiện tại.

 

Người xưa có câu nói đại khái là muốn hiểu rõ một người chỉ cần nhìn xem bạn của người đó là ai, đủ để thấy bạn bè ảnh hưởng đến một đời người như thế nào. Bạn như bóng với hình, cùng ta đi qua những chặng đường đời. Bóng không phải lúc nào cũng giống hình, nhưng là sự biểu hiện của hình theo một góc nhìn nào đó. Quan niệm về bạn bè là của riêng từng người, nhưng cũng có một số điểm chung. Trong tiếng Việt, "bằng hữu" có nguồn gốc từ Hán Việt; trong đó "bằng" (朋) có nghĩa là bạn bè, và "hữu" (友) cũng có nghĩa là bạn bè. Chữ Bằng do hai chữ nguyệt ghép lại, chắc có ý nghĩa là hai người bạn thân giống như hai vầng trăng sáng. Trong tự điển Wikipedia, bạn là người quen biết, có quan hệ gần gũi, coi nhau ngang hàng, hợp tính, hợp ý hoặc cùng cảnh ngộ, cùng chí hướng, cùng hoạt động…

 

Như vậy, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, bạn là người có chung với mình một điều gì. Từ lúc nhỏ, khi bắt đầu có ý thức về bản thân, người ta bắt đầu có bạn.

 

Đầu tiên là bạn hàng xóm, những người sống chung trong một con hẻm, một khu phố, một con đường. Tôi có những người bạn hàng xóm đúng nghĩa là “bạn tắm mưa” mỗi khi mùa hè Sài Gòn trút những cơn mưa lớn làm ngập con hẻm nghèo. Bạn hàng xóm của tôi khá gắn bó vì phải bảo vệ lẫn nhau. Nhà tôi ở gần cuối hẻm, có ba gia đình trí thức ở sát cạnh nhau, chung quanh là những gia đình lao động, cuối hẻm còn có dân du đãng thứ thiệt! Đám con nít ít học hay bắt nạt những thằng con nhà gia giáo. Mấy đứa chúng tôi kết bạn chơi bắn bi, đánh bông vụ, tạt lon… đồng thời hỗ trợ nhau mỗi khi đám hàng xóm bụi đời đến kiếm chuyện.

 

Những người bạn không ở gần nhà đầu tiên là bạn tiểu học, là những người có chung một mái trường, thầy cô giáo. Ở độ tuổi từ 6 đến 11, cái tôi thường chưa hình thành rõ rệt, cho nên tình bạn như tờ giấy trắng, theo cái kiểu mà nhà thơ Phạm Thiên Thư mô tả là “… như đi trên cát, bước nhẹ mà sâu, và cũng nhòa mau…” Tình cảm học trò tiểu học hồn nhiên, có phần ủy mị thái quá qua những trang lưu bút mỗi khi hè về; sau này lớn lên nghĩ lại xa nhau có ba tháng hè mà làm gì nhớ nhung đến thế! Tôi nhớ mình bắt đầu để ý đến một cô bạn gái đầu tiên là vào năm lớp Ba. Bạn này tên Mỹ Ngọc, dễ thương lắm. Vậy mà sang đến năm lớp Bốn là lại để ý đến một bạn gái khác rồi!  

 

Bạn trung học đối với tôi có ý nghĩa đặc biệt hơn, là nhóm bạn giữ liên lạc với nhau lâu nhất. Trung học có cấp hai (từ lớp Sáu đến lớp Chín) và cấp ba (lớp Mười đến lớp Mười Hai). Thân với nhau nhất là bạn cấp ba. Tôi có một thằng bạn học chung suốt từ lớp Sáu đến lớp Mười Hai, rồi học chung ở cả hai đại học. 15 năm cùng mài ghế ở ba mái trường, đúng là bạn học thứ thiệt!

 

Lý giải cho việc tại sao bạn trung học thân hơn bạn đại học, có người cho rằng do ở tuổi trung học chưa phải lo nghĩ nhiều về tương lai, nên học trò chỉ đi học và phá phách đúng với câu tục ngữ “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.” Hồn nhiên nghịch ngợm, hỏi sao mà không thân thiết? Ngôi trường trung học của tôi nổi tiếng học giỏi nhất Sài Gòn vào thời đó. Nhưng sau này khi gặp nhau, chúng tôi chỉ nhắc lại ngày xưa đã nghịch phá như thế nào. Có một thằng vượt biên đi Mỹ vào năm 1981, khi trở về Việt Nam chơi sau hơn 12 năm kể rằng sang Mỹ lấy vợ, có những đêm đang ngủ mà cười sằng sặc. Vợ gọi dậy, hỏi mơ gì mà cười dữ vậy; nó trả lời nhớ lại hồi xưa đám C3 phá vui quá!

 

Những trò phá phách của C3 thì quả là độc đáo thật, nếu ghi chép lại đầy đủ có thể thành một câu truyện vui ngắn về tuổi học trò. Đó là những trò “giải phẫu”, “đi máy bay”, “đi phi thuyền”, “trùm bao”… Cô giáo chủ nhiệm khi biết được bảo là phá gì mà ngu và nguy hiểm dữ vậy! Nhưng cũng có lần, kiểu nghịch lại mang tính “kỹ thuật cao”. Một thằng có tiếng là dốt văn, một hôm giơ tay tình nguyện lên trả bài, và xin đọc thuộc lòng bài thơ cách mạng dài và khó nhớ nhất. Thật ra là mọi chuyện đã được chuẩn bị từ trước. Bài thơ được đọc thâu sẵn trong băng cassette. Bạn lên trả bài luồn dây tai nghe qua áo xuống ống quần, để đầu cắm lòi xuống bàn chân. Khi đứng tại bàn thầy giáo, bạn hất đầu dây bung ra xuống đất. Một bạn ngồi bàn đầu, chui xuống gầm bàn nối dây vào máy cassette walkman rồi bấm nút. Bạn trả bài đọc theo trơn tru, đọc chưa đến nửa bài là thầy đã kêu ngừng và cho 8 điểm. Bạn ngồi bàn đầu tắt cassette, gỡ đầu dây; bạn kia trở về chỗ an toàn, dưới tiếng vỗ tay hoan hô của cả lớp. “Mission impossible” đã hoàn tất!

 

Một đặc điểm nữa là hầu như cả lớp tôi đều đồng lòng trong chuyện phá phách. Những nạn nhân không giận những đứa bầy trò, mà chỉ mong biến thằng khác thành nạn nhân! Những bạn học giỏi, đàng hoàng không tham gia phá trực tiếp, nhưng quan sát với sự thích thú và đồng ý ngầm. Sau này, bạn lớp trưởng “học giỏi” là người nhớ và kể lại những chuyện nghịch phá của những bạn “phá giỏi” chính xác nhất. Có lẽ vì vậy mà lớp có sự hòa đồng, thân thiết với nhau.

 

Tình bạn không mất đi sau khi chúng tôi ra trường. Sau này khi ra đời, những thằng bạn trung học vẫn tìm đến nhau. Có một thằng thành đạt sớm, làm giám đốc công ty xây dựng, kéo tôi về làm chung để có công việc ổn định, để còn lấy vợ. Quan hệ xếp và nhân viên cũng không qua được tình bạn thời niên thiếu, vẫn mày tao chi tớ như thuở nào. Trong một lần họp bạn cựu học sinh toàn trường sau 25 năm, một bạn ở lớp khác nhận xét là “C3 tui bây không phân biệt ‘khủng long ăn thịt’ và ‘khủng long ăn cỏ’, nên đoàn kết và thân với nhau lâu dài…”

 

Lên đại học, bạn bè bắt đầu phải định hướng cho tương lai, nghĩ đến sự nghiệp, lập gia đình, cho nên không còn hồn nhiên như thời trung học. Bạn đại học chia sẻ những giấc mơ tương lai, cùng nhau từng bước đi vào đời. Tôi có hai thằng bạn thân ở đại học, dắt bạn đến chơi chung với một gia đình thân hữu của gia đình tôi. Kết quả là cả hai thằng đều trở thành rể của gia đình đó. Ăn được hai cái đầu heo là điều đáng nhớ nhất của tôi đối với những người bạn đại học.

 

Thời nào cũng có bạn, dù giàu sang hay nghèo khó; nhiều người cho rằng bạn thuở hàn vi thường có tình cảm sâu đậm với nhau hơn. Những người bạn có cùng một lý tưởng sống sẽ tự tìm đến nhau để gắn kết. Nhóm bạn Hội Ca Cầm của tôi hình thành từ cuối thập niên 1970s vào thời điểm Miền Nam đang ở giai đoạn khốn khó nhất: đói, gia đình ly tán, những giá trị văn minh nhân bản bị đảo ngược. Chúng tôi thuộc đủ mọi thành phần xã hội, tìm đến nhau vì có chung một hướng đi trong cuộc sống: chịu đói vật chất nhưng không để đói về tinh thần. Người nghèo nhất nhóm làm nghề giao sữa để nuôi vợ con; người kiếm tiền khá nhất là rang và giao cà phê cho những quán cóc khắp Sài Gòn. Có người mới đi tù cải tạo về, có người sắp đi bảo lãnh, có người mới vào đại học. Chúng tôi tập hợp lại để ca hát nhạc vàng, thời đó bị coi là “đồi trụy phản động”. Chúng tôi dạy nhau cắm hoa, chụp ảnh, sáng tác nhạc. Chúng tôi đóng kịch, thảo luận về Phật học căn bản, Phật giáo ứng dụng. Giáng Sinh đến tập hát thánh ca; Phật Đản lên chùa hát cúng dường. Đó là khoảng thời gian tôi học hỏi được nhiều nhất, cảm thấy cuộc sống tràn đầy niềm vui, ý nghĩa. Sau này ly tán, chúng tôi vẫn không bao giờ quên đi những ngày tháng đó, “Những Ngày Xưa Truyện Đẹp”, là tên một bài hát của anh Trần Đại Lộc, người anh Hai của nhóm.

bạn 2
Bạn Việt Báo là những thiện trí thức Phật Giáo

 

Sang đến Mỹ khi đã quá tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, phải làm lại cuộc đời muộn màng, tôi có thêm một số người bạn mới. Đem con đi hướng đạo, tôi kết bạn với những người có cùng lý tưởng giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam, mong chúng nên người và không quên cội nguồn. Gia nhập những nhóm Phật tử trẻ, tôi muốn góp tay đem Phật Pháp ứng dụng đến với giới trẻ, giúp các em vượt qua những áp lực tâm lý trong cuộc sống hằng ngày, có được niềm vui, giữ thăng bằng trong đời sống tinh thần. Đi làm trong Việt Báo, tôi có được những người đồng nghiệp dễ thương và cũng là bạn đạo. Những người anh lớn trong Việt Báo là những thiện trí thức Phật Giáo, giúp tôi hiểu đạo hơn, vững tin hơn vào đạo pháp. Với những pháp hữu này, đôi khi chỉ cần ngồi uống cà phê với nhau, chẳng cần nói gì về đạo mà vẫn cảm thấy bình an.Quân tử chi giao đạm nhược thủy” là vậy.  

 

Bạn là những người như vậy, cùng tôi đi qua những chặng đường vui buồn của cuộc đời. Vậy thì cớ gì vào cuối đời lại cảm thấy cô đơn, không muốn có bạn mới, mà cũng chẳng tìm đến bạn cũ?

 

Có thể là vì trong suốt thời trẻ đã dành nhiều thời gian cho bạn bè, nên cuối đời tôi muốn sống với gia đình nhiều hơn.

 

Cũng có thể cả đời hướng ngoại, khi tuổi già đến tôi muốn quay lại vào bên trong với chính mình. Các nhà khoa học gia khám phá ra nhiều điều mới mẻ về vũ trụ, nhưng vẫn còn nhiều thứ chưa biết hết bên trong lòng trái đất. Ở tuổi 60, tôi cảm thấy như chưa biết rõ mình là ai, thật sự trong cả cuộc đời mơ ước điều gì. Hiểu rõ được chính mình có lẽ là điều không có nhiều người làm được trong suốt cuộc đời.

 

Thôi thì khi tóc đã bạc màu, có lẽ cũng chưa quá trễ, tôi bắt đầu học cách làm bạn với chính mình…

 

Doãn Hưng

Ý kiến bạn đọc
09/09/202505:00:37
Khách
nhìn cô gái ... mình nghĩ ,,,không biết chết sống ra sao ... ôi một thời trai trẻ....
chúc anh khỏe và hạnh phúc
09/09/202504:58:12
Khách
Đọc bài Anh viết nghĩ rằng anh có một đời sống vui và ý nghĩa , thời bao cấp mà anh có được tình bạn như vậy là quí hiếm, đời sống của một đời người mà có những tình bạn như anh là những viên thuốc bổ vô giá , là món ăn tinh thần không thể mua được, chúc mừng anh.
người vượt biển một mình 83, năm nay 65 tuổi sống ở bắc âu đả 43 năm , nếu nghĩ lại không có người bạn như anh, nhưng có được chỉ một người vợ đã 41 năm , không quen biết ở VN nhưng vượt biển cũng tàu, cô gái trẻ nhất ghe ....
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.