Hôm nay,  

Tiếng Chuông Thiên Mụ

01/12/202408:06:00(Xem: 4018)
đại hồng chung chùa chuông Thiên Mụ
Đại hồng chung chùa Thiên Mụ.

 

Dù bạn chưa từng đến Huế, nhưng đã từng nghe tiếng địa danh này qua hai câu hò quen thuộc:
 
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.
 
Tiếng chuông Thiên Mụ được gióng lên từ cái đại hồng chung đúc bằng đồng vào năm 1710 của chúa Nguyễn Phúc Chu (1675–1725) tặng cho chùa.  Chuông nặng gần 2000 kg, cao hai mét rưỡi, và được công nhận là bảo vật của quốc gia từ năm 2013.  Thật ra chùa Thiên Mụ có đến hai cái đại hồng chung.  Cái thứ nhì nhỏ hơn, nặng 400kg được vua Gia Long tặng.
    Chùa Thiên Mụ được chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613) cho lệnh xây cất từ năm 1601.  Vua Tự Đức (1828-1883) có rất nhiều vợ nhưng không con nối dõi.  Năm 1862 đang lúc cầu tự, e ngại chữ thiên (nghĩa là trời) chạm đến các bậc thiêng liêng, vua cho đổi tên chùa thành Linh Mụ.
    Lần đầu tiên có tiếng chuông Thiên Mụ chắc là phải sau năm 1710.  Không biết câu hò “tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” được ai viết ra và từ bao giờ, nhưng rất có thể, vị vua đầu tiên nhắc đến tiếng chuông Thiên Mụ là vua Thiệu Trị; bởi vì bài thơ “Thiên Mụ Chung Thanh” của vua Thiệu Trị được khắc trên bia đá và bia này được dựng lên từ năm 1846 hiện nay vẫn còn ở trong khuôn viên chùa. 
    Bài thơ Tiếng Chuông Thiên Mụ trên Wikipedia tiếng Việt có những câu như sau: 
 
[…]
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
[…]
Dịch là:
[…]
Tiếng ngân trăm tám tan trăm oán
Thế giới ba ngàn giải nợ ba
Chuông động giữa trưa miền tối ám
Kinh gieo canh sớm đạo tăng gia
[…]
 
Dựa vào bài thơ của vua Thiệu Trị, chuông được gióng lên 108 tiếng vào giữa trưa để giải tỏa 108 tội lỗi của con người.  Tôi đến xem chùa Thiên Mụ và tháp Phước Duyên, ở không đủ lâu, hoặc là không đủ duyên lành, không được nghe hồi chuông gióng giả.
    Chùa Thiên Mụ tọa lạc trên ngọn đồi cao tên Hà Khê.  Tương truyền, sau khi cha của chúa Nguyễn Hoàng là Nguyễn Kim bị quan nhà Trịnh dùng thuốc độc ám hại và anh ruột (Nguyễn Uông) bị Trịnh Kiểm giết chết, chúa Nguyễn biết là chúa Trịnh sẽ không để ông yên nên vấn kế Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin tìm cách giúp thoát thân.  Ông được Trạng Trình tặng cho câu sấm “Hoành Sơn nhất đới, vạn đại dung thân” có nghĩa là một dãy núi nằm ngang có thể làm chỗ nương thân muôn đời. Nguyễn Hoàng dẫn quân lấy cớ đi đánh giặc vượt Hoành sơn vào Thuận Hóa rồi bắt đầu xây dựng cơ đồ.  Khi đi ngang đồi Hà Khê bên cạnh dòng sông Hương uốn khúc, nhìn giống như con rồng đang ngoảnh đầu ra phía sau, phong cảnh vừa hữu tình vừa hợp phong thủy bèn chọn vùng đất này để xây thành dựng nước.  Kinh đô Huế chỉ cách chùa Thiên Mụ chừng 5 km.
    Năm 1844, vua Thiệu Trị cho xây tháp Phước Duyên để mừng lễ “bát thọ” của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ vua Gia Long, bà nội vua Thiệu Trị).  Tháp Phước Duyên có bảy tầng, cao 21 mét, được đặt trên khoảng sân rộng hình thang.  Tương truyền mỗi tầng đều có tượng Phật, và đặt trên tầng cao nhất là tượng Phật bằng vàng nặng 12 kg.  Ngày nay cửa vào tháp được khóa kín không biết bên trong có còn tượng Phật cổ nào hay không.  Riêng tượng Phật bằng vàng tương truyền đã bị mất trộm vào tay một tên quan cầm quyền người Pháp.
    Huế có nhiều chùa, nhiểu lăng tẩm không thua gì Kyoto của Nhật Bản. Nổi tiếng đẹp nhất Huế (và có lẽ nhất miền Nam lúc bấy giờ) là chùa Thiên Mụ. Chùa của vua xây, được nhiều vị vua đến tham quan, và đề thơ ca ngợi, không đẹp sao được.  Ngoài tấm bia khắc bài thơ của Thiệu Trị, còn bia khắc bài văn của chúa Nguyễn Phúc Chu, và một bài thơ của vua Khải Định vẫn còn ở chùa Thiên Mụ. Sau Thiên Mụ, chúa Nguyễn Hoàng còn cho xây thêm bốn ngôi chùa nữa.  Chúa dụng tâm dùng đạo Phật để trị an thiên hạ.  Có lẽ không ngoa khi bảo rằng vào triều đại nhà Nguyễn, Huế là cái nôi phát triển Phật giáo.
    Có chùa thì phải có chuông và trống. Đó là lễ nhạc của Phật giáo.  Tiếng chuông chùa, đặc biệt là tiếng đại hồng chung, rất trầm ấm ngân nga, luôn gây cảm xúc trong lòng các nhà thơ từ xưa đến nay.
 
tm 1
Ảnh bên trên là tấm bia khắc bài thơ Thiên Mụ Chung Thanh (Tiếng Chuông Thiên Mụ) của vua Thiệu Trị (1841-1847).  Bia dựng năm 1846.
 
Huế nổi tiếng mưa. Những cơn mưa kéo dài hằng tháng đầy thơ mộng mà cũng buổn rũ rượi, xuất hiện rất nhiều trong văn thơ và nhạc.  “ Chiều nay mưa trên phố Huế. Kiếp giang hồ không bến đợi. Mà mưa sao vẫn rơi rơi hoài cho lòng nhớ ai.”[1] Tuy vậy, tám ngày tôi ở Huế ngày nào cũng nắng đẹp.
    Sông Hương nước chảy hiền hòa sóng lăn tăn vỗ về mạn thuyền hình đầu rồng cập bến trước chùa Thiên Mụ.  Phượng vỹ vẫn còn nở hoa rực rỡ như những đốm lửa cháy trên trời xanh. Mây trắng bồng bềnh như trôi ra từ câu thơ “bạch vân thiên tải không du du.”[2]
    Tôi bỗng có cái cảm giác tôi đã từng gặp cảnh này ở đâu đó, vào một kiếp nào đó, rất xa xưa.  Năm 2005 tôi đã từng đến nơi này.  Một tấm ảnh cũ gần hai mươi năm trước có tôi tóc dài chấm ngang hông, bước dọc theo ven bờ sông Hương, bên trên là chùa Thiên Mụ. Nhưng cái cảm giác déjà vu không phải từ chuyến đi vội vã ấy. Tôi không kịp xem chùa và tháp đã phải vội vã xuống thuyền đi dọc sông Hương đến xem lăng của một vị vua nào đó.  Cái cảm giác déjà vu này cũng giống như lúc tôi ngẩn ngơ đứng bên cạnh dòng kênh ở thành phố Uji của Nhật.  Rồi tôi nhận ra cái cảm giác quen thuộc từ kiếp nào đó nằm trong mấy câu thơ.
 
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
 
Hình ảnh những chiếc thuyền rồng đưa khách trên sông Hương vào đêm trăng sáng với những câu hò mái đẩy và những bài ca Huế, cùng với tiếng chuông chùa lả lướt trên sông, quả là một hình ảnh đầy chất thơ dù tôi vẫn biết tiếng chuông Thiên Mụ được gióng lên vào buổi trưa chứ không phải nửa đêm như tiếng chuông chùa Cô Tô.
    Basho tự hỏi.  Tiếng chuông chùa có hay không có thật.
   
The temple bell stops—
but the sound keeps coming
out of the flowers.
 
Tiếng chuông chùa đã ngừng
Nhưng âm thanh vang mãi
Từ trong những đóa hoa
 
Trong khi thơ của Basho có chút bâng khuâng giữa cái thật và ảo, người đọc không cảm thấy nỗi buồn tiếng chuông chùa gợi lên như trong bài hát Việt.
 
Chiều tàn đêm buông xuống
Tiếng chuông chùa vang não nùng
Đâu tiếng Mẹ ru con
Chìm lắng êm bên rèm thưa.[3]
 
Hoặc gợi nhớ nhung một mối tình không còn nữa.
 
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa[4]
 
Trở lại với tiếng chuông Thiên Mụ, tôi không khỏi tự hỏi vì sao nhà thơ khuyết danh nào đó đã viết câu thơ “tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.” Câu thơ được dùng để đánh dấu thời gian, 108 tiếng chuông từ giữa ngọ ở chủa Thiên Mụ, và tiếng gà gáy sang canh ở làng Thọ Xương[5] ở bên kia sông?
    Hay vì một lý do nào khác? Ai biết?
 
– Nguyễn Thị Hải Hà
(Ngày 26 tháng 11 năm 2024)
 

[1] Nhạc Minh Kỳ, thơ Tôn Nữ Hỷ Khương

[2] Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu

[3] Dạ Tương Sầu -

[4] Vết Chim Bay – Phạm Thiên Thư

[5] Làng Long Thọ (còn gọi là Long Thọ Cương)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng. Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi! Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết.
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.