Hôm nay,  

Công án tân thời

30/04/202415:50:00(Xem: 1692)
Truyện

chinese-mythology

Ông làm bí thơ, quyền lực trùm một phương, ở triều đình hay ngoài châu quận đều đứng trên vạn người trong thiên hạ. Người ta vẫn bảo ông làm vua một cõi, điều này chẳng phải nói điêu mà thật sự như vậy! Lời bàn tán cũng đến tai ông, ông không nói năng gì nhưng tỏ vẻ hài lòng và mặc nhiên cho là thế.
Ông chẳng phải là nhân viên công quyền mà chỉ là người đứng đầu một bang phái nhưng quyền hành của ông phủ khắp, mọi việc lớn nhỏ đều do ông định đoạt, mọi chức vụ cao thấp do ông đặt để. Thiên hạ gọi ông là ông trùm,không một ai dám trái ý, thuộc hạ và bộ sậu luôn đoán ý buồn vui của ông mà hành xử.
    Xưa nay mọi người vốn là kịch sĩ, trong công quyền ai ai cũng nói giả, cười giả, sống giả… giờ thì càng phải nhập vai hơn nữa. Kẻ nào dại mồm ngoác miệng ra nói khác một tí thì coi như kẻ ấy tự chặt chân mình. Ông biết thủ hạ toàn đóng trò, tung hô nịnh bợ nhưng ông khoái, điều ấy như thể những liều thuốc phiện làm cho ông sung sướng đê mê, hễ thiếu là không chịu nổi. Bản thân ông cũng cười giả, nói giả, làm giả, đến nỗi tụi dân giang hồ kháo nhau: “coi vậy chứ hổng phải vậy”. Đứa nào khù khờ ngỡ thật thì chết không kịp ngáp. Nhớ hồi nẳm, có chú kia mới được bổ về địa phương, tuổi trẻ vốn ngựa non háu đá lại ỷ mình có bằng cấp học thật. Chú ngứa mắt trước những hiện tượng xun xoe bợ đỡ của đám công chức đương quyền đối với ông trùm nên chú ấy viết bài đả phá, châm biếm đăng lên mạng xã hội. Chú em ấy đã phạm sai lầm chết người, dám cắt cơn thuốc phiện của ông trùm, lập tức ông trùm hạ lệnh hạch tội, tổ chức đấu tố cả ngoài đời lẫn trên mạng, chụp cho chú em mấy cái nón giấy, mũ cối: “phản động”, “nằm vùng”, “suy thoái”, “diễn biến hòa bình”… Sau khi ông trùm và đàn em phong sát, chú em ấy chỉ còn mỗi đường về nhà giữ con cho vợ đi làm kiếm cơm, cũng may là chú em còn có thế lực đỡ đòn chứ không thì xộ khám rồi!
    Ông trùm và bộ sậu cũng như toàn thể hội viên của bổn bang đều biết rõ cái lý tưởng bấy lâu nay tôn thờ phong thánh ấy chỉ là đồ giả, mượn đó để làm công cụ giữ ghế kiếm ăn. Ai cũng cười cười là vậy, biết tỏng ruột gan của nhau nhưng cứ vờ vịt với nhau, nói trắng phớ ra là cả bọn cùng thờ bụt ăn oản.
Thuở ông trùm mới vào bang hội cũng máu me lắm, từng đánh bọn con nhang đệ tử chạy có cờ. Bọn thầy bà bói toán, đồng cô bóng cậu xính vính vì ông. Bọn ấy phải nằm im thu mình lại suốt bao nhiêu năm trường. Khi thời thế thay đổi, ông trùm lại quay ra chìu chuộng và tin vào bọn ấy còn hơn tin vợ con trong nhà. Ông xuất công quỹ lẫn tiền túi để phục dựng lại dinh cô miếu cậu, phủ ông hoàng, am bà chúa... hết sức vàng son lộng lẫy. Ông trùm chẳng sợ ai, chẳng tin ai, tuy nhiên trong thâm tâm ông vẫn tin có những vị khuất mày khuất mặt đang phù hộ nên ông mới được như thế. Ông cảm cái ơn ấy nên rất thành tâm nhiệt huyết đi hầu đồng, cầu cơ, xin lộc… Để che mắt thiên hạ cũng như tai mắt triều đình, ông tung tin đi du lịch tâm linh, hành hương thánh địa, tất nhiên là ai cũng biết tỏng nhưng chẳng ai dại mồm để rước họa vào thân. Thật ra mà nói thì đám thủ hạ và bộ sậu của ông trùm cũng tin sái cổ vào đám đồng cô bóng cậu như ông trùm mà thôi.
    Một hôm có kẻ trọc đầu xưng sư ở chùa Đại Hồng đến xin diện kiến. Lão trọc ấy vốn chẳng phải ai xa lạ gì với ông trùm, tuy nhiên gần đây ông trùm có lơ là lão vì quá sủng ái bọn đồng cô bóng cậu. Lão trọc ấy thường bày trò để ông trùm mạnh tay đàn áp những vị sư chân chính, cô lập người trung lương. Lão trọc tự xưng mình đã từng tham cứu tất cả các công án của thiền môn nên đã ngộ. Nay y đến cầu kiến ông trùm:
    – Kính thưa ông bí thơ, ông quả là người tài ba và sáng suốt, nhờ sự lãnh đạo của ông mà địa phương ta ngày càng phát triển. Tôi biết ông thông minh và có khí chất phi phàm vì vậy tôi muốn giới thiệu với ông bí thơ một vài công án để giác ngộ. Bản thân tôi đã giác ngộ công án: “Tiếng vỗ của một bàn tay” nên mới nhìn thấy chỉ có ông bí thơ là bậc cao quý, thân nơi chính trường mà tâm nơi Phật cảnh.
    Lão trọc khéo tâng bốc, miệng lưỡi lươn lẹo như thoa mỡ khiến ông trùm nghe thế sướng rêm cả người. Tuy nhiên ông ta làm bộ xua tay:
    – Quý hóa quá, quý hóa quá! Sư thầy đến đây thăm tôi lại còn chỉ bảo cho tôi những việc cao minh. Chúc mừng sư thầy đã giác ngộ, thật đúng là đại sư của triều đình. Sư thầy có thể chỉ cho tôi vài công án thiền gia để tôi thử sức tham cứu xem sao.
    – Công án: “Tiếng vỗ một bàn tay” vốn là công án của các sư Phù Tang chế ra, nó cũng chẳng có gì cao siêu, bọn sư ấy dùng để gạt người nhẹ dạ chứ gạt sao được tôi! Nhiều người mê hoặc nên cứ tham cứu rồi diễn dịch này nọ. Âm thanh của một bàn tay rất rõ ràng trong mắt tôi, nói một cách dễ hiểu là khi ông bí thơ giơ bàn tay lên, lập tức có vô lượng âm thanh phát ra. Nó có thể là âm thanh hoan hỷ để khen thưởng hay phủ dụ. Nó có thể là tiếng cảnh cáo những kẻ dám nói hay đi lệch hướng. Nó cũng là lời đanh thép để tuyên bố cho thiên hạ biết những gì ông trùm và bang hội đã quyết, thậm chí nó là tiếng gươm đao trừng phạt những kẻ “phản bội”, “suy thoái”, “thù địch”… Trên hết, thanh âm của một bàn tay là tiếng nói chân lý và lý tưởng của ông trùm đang tôn thờ và đang chỉ đạo mọi người, là thanh âm của quyết tâm thức để canh giữ hòa bình thế giới, là tiếng lòng chuyên chính, là âm vang của bạc vàng từ những dự án đang chảy vào túi của ông trùm…Khi ông trùm giơ tay lên, dù chỉ là một bàn tay nhưng tiếng vỗ của bàn tay ấy khiến cho thiên hạ phải nghe lệnh, vâng lời, phục mệnh không một kẻ nào dám cưỡng lại…
    Ông trùm nghe lão trọc tán một hồi như thế thì lòng dạ nở từng khúc ruột, tâm trí bay bổng còn hơn phê thuốc, tuy nhiên ông trùm giả vờ khiêm tốn:
    – Ấy chết, sư thầy quá lời, công án nhà thiền tôi nào dám đụng đến, tôi không có cao vọng ngộ công án như thầy vừa chỉ điểm. Tôi chỉ hy sinh dâng hiến đời mình vì dân vì nước nào ngờ lại hợp tông chỉ của công án đến như thế!
    – Ông trùm khiêm tốn quá, công án làm sao bằng được công đức của ông trùm, bọn dân đen ghi tâm khắc cốt ơn ấy. Công án chẳng qua là để ông trùm thư giãn và khai minh trí huệ về sau.
    – Cảm ơn sư thầy, sư thầy quá khen, nhờ sư thầy giới thiệu cho tôi vài công án để tôi thử sức mình, bình sinh tôi cũng yêu thích thiền vì thiền rất là trí tuệ. Tôi cũng muốn tham cứu công án để tâm thanh tịnh hơn.
    – Thật quý hóa, thật là hồng phúc của dân tộc, việc dân việc nước ngập đầu mà ông bí thơ vẫn không quên việc tu thân sửa tánh. Tôi phục ông bí thơ vô cùng, vậy thì lúc rảnh rỗi ông bí thơ hãy tham cứu công án mới này nhé, đó là công án: “Ánh quang minh của màu đỏ”
    – Cảm ơn sư thầy, công án này có vẻ rất lý tưởng.
    – Ông bí thơ quả thật thông minh và sáng suốt, năng lực có thừa, nếu muốn thì ông hãy tham cứu thêm công án thứ hai: “Công lực của một ký tự” như thế vừa tiết kiệm thời gian quý báu, vừa không lãng phí công sức của ông bí thơ, vừa được ngộ nhiều hơn.
    – Sư thầy nói chí phải, tôi sẽ quyết tâm tham cứu hai công án này.
Cuộc hội kiến giữa lão trọc và ông trùm kết thúc trong sự hỉ hả, cả hai đều hết sức hài lòng. Tiễn lão trọc ra tận xe, ông trùm quay vào và ngay lập tức vận công tham cứu liền, kể từ bữa đó ông trùm bế môn để tham thiền. Ở nhà, ông trùm treo bảng “cấm quấy rầy”, ở văn phòng cơ quan, dán biển “miễn tiếp khách”. Ông trùm quyết chí phải tham cứu để ngộ cho bằng được, nếu trước kia vì ngộ lý tưởng mà ông tôn thờ và theo phò một đời, những mong sự nghiệp đời đời sống mãi. Nay ông trùm muốn ngộ công án để liễu sanh thoát tử và từ đó mà ngày ngày chứng kiến sự nghiệp muôn đời của mình. Ông trùm từng nhiều lần tâm sự với bọn đàn em: “Chẳng phải mỗ ham ghế cao hay tham giàu mà tích trữ tài sản; danh vọng vốn phù phù du, của cải vật chất rất vô thường, chẳng qua là vì không nỡ phụ lòng tín nhiệm của chưởng môn nên giữ ghế và vì lòng yêu mến của mọi người mà tạm giữ số của cải phù du ấy”

    Từ hôm nhận hai công án từ lão trọc, ông trùm tuyên thệ phải tham cứu để ngộ, nếu không ngộ ra thì sẽ từ bỏ chức bí thơ, không làm ông trùm nữa! Ngày ngày ông trùm vận dụng hết những phương pháp lý luận vốn bẩm sinh và một phần từ học được ở trường chính trị cao cấp. Ông dùng ý chí sắt đá  mà cả đời đã xài để đấu tranh giai cấp. Ông tập trung cao độ đến mức có thể thần giao cách cảm với lão trọc và bọn đồng cô bóng cậu, tất nhiên là ông trùm cũng cầu khẩn nhờ đến trợ lực của các  vị khuất mày khuất mặt để giúp ông chóng khai ngộ. Ông dùng cái lối tư duy khoa học của giai cấp công nông để làm nền tảng cho việc tham cứu. Ông quyết tâm cảnh tỉnh chính bản thân để khỏi sa vào bẫy diễn biến hay lệch hướng tư tưởng bởi hậu quả phụ của việc tham cứu  tôn giáo gây ra. Ông giữ vững quan điểm tiến bộ và kiên quyết của người công nông vào việc tham cứu công án. Vợ con ở nhà, thủ hạ ở cơ quan, đồng liêu chốn công quyền… tất cả đều biết ông trùm đang tham cứu công án nên không một ai dám quấy rầy, thậm chí bọn họ còn liên tục đi hầu đồng, tiến cúng hậu hĩ cho dinh cậu, miễu cô, phủ ông hoàng… để hy vọng thánh thần giúp ông trùm sớm khai ngộ, phần nữa cũng để thiên hạ thấy mình cũng phục thiện biết thờ thánh thần chứ chẳng phải như lũ vô thần côn đồ vô lại.
    Thấm thoắt bốn mươi chín ngày trôi qua cái vèo như nước qua cầu, như lá rụng hoa rơi...Bốn mươi chín ngày vừa qua như thể một giấc mơ. Ông trùm bừng tỉnh, hoàn toàn khai ngộ. Ông đã thâm nhập vào cốt tủy của hai công án ấy. Ông đã đắc được thiền cơ… Ông trùm thấy người nhẹ nhõm bay bổng, tinh thần lâng lâng sảng khoái, trí óc sáng láng, tư tưởng vững chãi hơn, quan điểm kiên cố hơn và niềm tin bất diệt. Ông trùm nhắn tin cho sư thầy chùa Đại Hồng đến để bàn bạc tổ chức buổi lễ trình pháp và ấn chứng. Hai người bàn thảo cặn kẽ từng chi tiết nhỏ nhặt nhất cho đến những vấn đề lớn có thể ảnh hưởng đến lý tưởng, đạo pháp và sự trường tồn của bổn bang. Ông trùm bảo đảm mọi chi phí do công quỹ chi, còn chùa Đại hồng và lão trọc chịu trách nhiệm trang trí, mời sư khách, thầy pháp…
Đúng lịch trình, ngày bảy tháng bảy vào lúc bảy giờ, bảy phút, bảy giây, tại chùa Đại Hồng. Lão trọc tuyên bố khai mạc buổi lễ ấn chứng. Quang cảnh chùa thật lộng lẫy vàng son như hoàng cung, cờ đạo bay dưới cờ đời, chánh điện hương hoa ngào ngạt, trên bệ thờ tượng Phật đồng ngồi với tượng ông kẹ. Dưới sàn bọn nữ nhân trẻ đẹp mặc áo dài mỏng tang đang lượn lờ múa may. Bọn hồng tăng đắp cà sa lụa vàng viền cạp điều đỏ, ngực đeo đầy huy chương, mề đay, mặt mày bóng lưỡng và hí hửng thấy rõ. Quan khách công quyền vận đồ tây, mặt nghiêm như những ông thần giữ cửa. Đám bộ sậu và mật vụ lăng xăng chạy tới chạy lui lo an ninh cho ông trùm. Trong thâm tâm không ít kẻ cười thầm nhưng không dám nói ra, có hai gã đàn ông trung niên vốn dưới trướng ông trùm nhưng đang nuôi lòng bất dị, hai kẻ ấy xì xầm với nhau: “Bố khỉ, tham cứu công án, tham thiền rách việc!  cạp không chừa thứ gì, ghế cao ngồi mãi không nhích đít, may ra công án cán bộ ông tham cứu công của thì đúng hơn!” . May cho hai gã ấy, kẻ nghe được lời ấy vốn là kẻ không ưa ông trùm, tuy theo ông trùm kiếm ăn nhưng vẫn nuôi lòng chờ chủ khác, kẻ ấy bỏ nhỏ: “Xin hai vị giữ mồm giữ miệng, ông trùm nghe được thì khốn!” hai kẻ ấy giật mình, cảm ơn hắn ta. Kẻ ấy thấy có vẻ đồng hội đồng thuyền, nhân đó xin theo làm đệ cho hai người. Cả ba tiếp tục rỉ tai nhiều bí mật cho nhau trong lúc bọn mật vụ quấn quýt nhặng xị coi trong ngó ngoài, xem xét từng cử chỉ và nét mặt của những người vào ra chùa. Những kẻ được chỉ định phát biểu lo lắng đi gặp trưởng ban tổ chức để nhận lại bài phát biểu vốn phải nộp để duyệt trước. Đám truyền thông và những youtuber, Blogger đệ tử ruột hay nhóm dư luận viên mới được phép tham dự. Bọn ấy xăng xái quay phim, chụp hình, like stream, zoom…nhặng xị cả lên.
    Ông trùm bước lên bục với tất cả sự bệ vệ vốn có, nay trang bị thêm chút thư thả giả tạo cho có vẻ thiền cơ một chút. Mọi người đứng dậy vỗ tay và hoan hô cung nghinh ông trùm như sấm dậy. Ông trùm khẽ nghiêng mình một tí xá xá pho tượng Phật tổ và tượng ông kẹ trên bàn thờ, sau đó quay xuống nhìn một lượt quan khách, hai tay nắm chặt lại giơ lên chào mọi người. Ông trùm bắt đầu những lời thưa hỏi khách sáo, rào trước đón sau và những lời đao to búa lớn như thường lệ, sau cả mươi phút mới đi  vào vấn đề:
    – Mỗ cả đời tôn thờ lý tưởng, cống hiến cho sự nghiệp, dù gì cũng đã một bí thơ, mình có sao thì người ta mới đối đãi mình như thế! Quý vị thử nhìn xem, có bao giờ được như thế này chăng? Mỗ mãn nguyện lắm rồi. Gần đây mỗ được sư thầy chùa Đại Hồng giới thiệu những công án mới, mỗ cố gắng tham cứu để thanh tịnh tâm. Mỗ quyết tâm với khí thế của một chiến sĩ tiên phong, không khoan nhượng, không thỏa hiệp, không lùi bước trước bất cứ thế lực nào. Mỗ đã tham thiền để ngộ nhập vào công án bằng tất cả sức lực quyết thắng, ngoài đời mỗ đã thắng thì mấy công án này cũng phải thắng. Phật tổ, các vị khuất mày khuất mặt đã hỗ trợ mỗ rất nhiều, nhờ thế mà mỗ đã thâm nhập được mật nghĩa sâu xa, khai phá được năng lực huyền bí đầy mầu nhiệm của hai công án: “Ánh quang minh của màu đỏ” và “Công lực của một ký tự”. Việc tham cứu công án khá nặng nề trong khi mỗ đã có tuổi, công việc quốc gia đại sự lu bu, gia đình vợ con đùm đề, đồng liêu trong triều ngoài quận đa đoan… Nhưng cuối cùng mỗ đã vượt qua tất cả. Suốt bốn mươi chín ngày đêm tham cứu và mỗ đã ngộ ra yếu chỉ thiền tông, mật ngôn công án, tâm pháp tổ sư. Màu đỏ là màu mạnh mẽ nhất, rực rỡ nhất, nóng bỏng nhất. Màu đỏ là sự tinh tấn, là nhiệt huyết mang tính chiến đấu, là chiến thắng trăm vạn quân địch và thắng bản thân mình. Phải dùng trái tim đầy máu đỏ để xây dựng thiên đường hạnh phúc chưa từng có trên mặt đất này, màu đỏ chiến thắng sự tối đen ngu si, chậm tiến, lạc hậu, phản động...Còn một ký tự cho dù nhỏ nhất, ngoằn ngoèo nhất, xấu nhất đi nữa nó cũng có công lực của nó nếu nó được viết hay ký bởi một người đã dành hết cuộc đời cho chiến đấu, trung thành với lý tưởng. Một ký tự nó có sức mạnh vạn năng, có thể quyết định sanh tử của một người hay một dân tộc. Một ký tự đơn sơ nhưng nó có thể xây dựng hay hủy diệt một quốc gia, có thể làm thăng hay đọa đối với ai đó...Một ký tự đơn giản bởi nó là một ký tự, đừng nhìn ký tự với cái tâm dính mắc, bản thân ký tự vốn không là gì cả, chẳng qua là mượn nó để biểu tỏ cái mình muốn. Mỗ đã ngộ ra, đã thâm nhập vào tận tầng sâu thẳm nhất của công án, tâm thức mỗ giờ đây như được ánh quang minh của mặt trời rực rỡ soi rọi, tuy nhiên mỗ không biết dùng ngôn từ hay ký tự gì để diễn giải sự giác ngộ này, rất may mắn là có sư thầy Đại Hồng điểm chứng sự khai ngộ của mỗ.
    Ông trùm thao thao bất tuyệt hơn hai giờ đồng hồ, hội trường im phăng phắc, mọi người nghe ông trùm, nhìn ông trùm cứ như thể một thiên sứ hay một vị Bồ Tát nào đó hóa thân để đến độ người. Sư thầy chùa Đại Hồng cũng hoan hỷ sung sướng cao độ, thỉnh thoảng cứ tự xoa đầu, vuốt giải điều đỏ nẹp viền cà sa vàng, tuy giữ lễ tiết oai nghi nhưng thỉnh thoảng quan khách vẫn bắt gặp sư thầy len lén quan sát mọi người. Trong phút chốc ông trùm ngưng một tí để nhấp ngụm nước và lấy lại hơi, chợt dàn loa khọt khẹt phát ra tiếng trẻ con:
    – Ơ, ông trùm đây mà! Tớ vẫn thấy ông ấy trên ti vi hằng đêm ở chương trình thời sự, nãy giờ ông ấy nói gì vậy? hiểu được chết liền!
    Một giọng trẻ con khác:
    – Cậu vốn thông minh mà không hiểu thì bố thằng nào hiểu được!
    Cả hội trường chết trân, bọn mật vụ lập tức tỏa ra truy lùng thì phát hiện hai thằng oắt con con của các vị quan chức tham dự buổi lễ. Hai đứa chui vào khu vực phát thanh ghi hình, chúng nghịch ngợm mà không biết lời của chúng vô tình vang khắp hội trường.
 

– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0424

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.