Hôm nay,  

Tình Bạn Lính Xưa

26/04/202400:00:00(Xem: 1601)


1a 

 

Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay?
 
Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi.

Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu.  Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.

Chiếc xe GMC trần trụi chở một bầy trai non, có dân chơi thành phố, tóc bờm xờm; có học sinh mới lớn còn ngớ ngẩn; có sinh viên bị đôn quân, dạn dĩ kiểu đàn anh; có dân quê nhập ngũ, lúng túng; có kẻ trung người tây, chúng tôi chen lấn ngồi hai hàng đối diện. Xe băng qua thành phố. Mọi người sinh hoạt bình thường. Không ai lưu tâm những chàng trai trẻ, xếp bút nghiên theo việc đao cung. Xa xa, sau lưng chợ là nhà tôi. Mẹ giờ này đang chuẩn bị cơm trưa. Bỗng dưng, một anh nào đó, cất tiếng hát:

Rồi đây mai ngày ai hỏi đến tên tôi (1)
Bạn ơi! Hãy nói "khoác chiến y" rồi

Lập tức cả bọn hùa theo. Làm như có tập dợt trước. Ai cũng hăng say, dù thuộc lời hay không.

Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
có về là khi nước non vui bình yên…

Thật là cảm động. Anh bạn ngồi cạnh tôi, người huế,
cất giọng trọ trẹ nghe như than thở:

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi,
Thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,
Diệt thù lập công cho xứng tài trai,
Sắt son ghi lòng chớ phai.
Ai đi chinh chiến xây đắp tương lai,
Con đi chinh chiến để nước yên vui
Lời mẹ hiền khuyên nguyền khắc trong tim.

Rồi anh bật lên khóc giữa lúc mọi người đang hồ hỡi, khiến chúng tôi lặng thinh, thông cảm. Chỉ còn nghe tiếng máy xe rú và bánh xe ầm ầm nhồi ổ gà. Trong lúc có vẻ thành tâm, một anh dân chơi phá lên. Có đứa phát cười. Có đứa cau có:

Bạn ơi, quan tài xin cạn chén đi thôi
Ngày mai tôi đã, đã đi xa rồi.

Một giọng khác lớn hơn chiếm lại ưu thế, vài người hùa vào:

Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi
Đời tôi lính chiến cánh chim tung trời.
Ngày nào khi đất nước hết binh đao
giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu,
trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.

Tôi bắt đầu sự nghiệp lính như vậy.

Đại đội của chúng tôi gồm có 110 đứa. Ra trường vào mùa hè đỏ lửa 1972. Một năm sau, kêu gọi, hẹn hò, gặp lại nhau, chỉ còn một nửa. Năm đó, bạn tôi, chuẩn úy thủy quân lục chiến tham gia trận đánh chiếm lại Cổ thành Quảng Trị và anh đã lên lon cố thiếu úy.

Bạn tôi hát rất hay. Những đêm nghỉ học ở quân trường, anh ôm đàn thùng, mơ màng những lời truyền cảm, đúng tâm sự, cả bọn ngồi nghe, mịt mờ, say sóng. (2)

Những ngày xưa thân ái, anh gửi lại cho ai?
Gió mùa xuân êm đưa rung hàng cau lưa thưa
Anh cùng tôi bước nhỏ, áo quần nhăn giấc ngủ
Đi tìm chim sáo nở, ôi bây giờ anh còn nhớ?
Những ngày xưa thân ái, anh gửi lại cho ai?
………
Thời gian qua mau, tìm anh nơi đâu?
Tôi về qua xóm nhỏ, con đò nay đã già
Nghe tin anh gục ngã, dừng chân quán năm xưa
Uống nước dừa hay nước mắt quê hương
Những đường xưa phố cũ, ôi nỡ đành quên sao?
Xin gọi lại tên anh giữa trời sao long lanh
Anh giờ yên giấc ngủ, tôi nằm nghe súng nổ
Như lời anh nhắc nhở, ôi căm hờn dâng ngập lối
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi, tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gửi lại cho em

Anh có một người yêu xinh xắn. Chúng tôi xem được hình. Không biết rồi anh sẽ gửi cho ai.

Tôi rời quân đội sớm. Trở về trường luật để tiếp tục chuẩn bị ra trường. Hôm chia tay với các bạn trong đại đội. Người thiếu phụ đó lại khóc lên, thật mủi lòng. Tôi vẫn nhớ mãi anh chàng nhỏ nhắn cùng tiểu đội, da trắng và ẻo ẻo như con gái. Khi tôi làm trưởng ban văn nghệ thực hiện lễ ra trường gắn Anh Pha, tôi bắt anh giả gái, đội tóc giả màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, mặc áo đầm, múa vũ khúc “Ác Quỷ và Giai Nhân” thật là đẹp, thật là vui. Thật khó hiểu, khi bắt anh mang cái nịt vú của chị tôi, rồi xoay mấy vòng, trông anh như một vũ nữ. Một năm sau, cô vũ nữ đã theo chồng sang bên kia thế giới trong trận chiến ở Bình Long.

Chai rượu đã gần cạn. Một mình uống rất dễ say. Nhưng tôi chưa say vì bận rộn nhớ lại những bài nhạc, một lịch sử nghệ thuật vừa hiện thực vừa lãng mạn, có lẽ chỉ có trong một đất nước chiến tranh dai dẳng với những tâm hồn đa cảm.

Nếu biết rằng tôi đã bỏ cố hương
Khoát áo đời trai đi ngựa lên đường
Tôi tin rằng người ấy thêm thương
Vui lòng cho kẻ phong sương
Dấn thân ngoài súng đạn sa trường. (3)

Tức cười nhất là những ca từ mang ẩn ý thấm nhuần hành vi tuổi trẻ và của lính về thành phố, chớp nhoáng, thăm người yêu.

Những ngày chưa nhập ngũ, (4)
Anh hay dắt em về vùng ngoại ô có cỏ bông may.
Ở đây êm vắng thưa người, còn ta với trời,
….
Sợ khi người đi để thương, để nhớ
Tiếng yêu đương ai nỡ chối từ.
………….
Những ngày anh đi khỏi
Xin em chớ đi lại vùng tình yêu lắm bẫy nhân gian,

Một trong số bài hát mà hầu hết người lính đều ưa thích, dù không biết hát cũng lầm bầm vài câu. Diễn tả nỗi say mê thắm thiết “Cửa tâm tư là mắt, nên khi đối mặt, chuyện buồn dương gian lẫn mất…” vừa văn vẻ vừa cảm động vừa đúng chóc, không thể nào nói hay hơn. Rồi, cái cảnh tưởng tượng “vụng về ngôn ngữ tình, làm bằng dấu đôi tay,” nhạc sĩ Trúc Phương thật là lão luyện tâm lý.


Từ xa tôi về phép (5)
Hai mươi bốn giờ tìm người thương trong người thương
Chân nghe quen từng viên sỏi đường nhà
Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ
Và người yêu đứng chờ ngoài đầu ngõ bao giờ
Cửa tâm tư là mắt
Nên khi đối mặt chuyện buồn dương gian lẫn mất
Đưa ta đi về nguyên thuỷ loài người
Mùa yêu đương muốn ngỏ
Vụng về ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay
Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại, anh cho em tất cả em ơi
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời
Đêm lạc loài giấc ngủ mồ côi
………………………..

2
Người thiếu phụ đó không còn khóc nữa. Có lẽ đã quá mệt mỏi, đã cạn nước mắt, gục đầu lên mặt bàn. Quê hương chinh chiến của tôi có biết bao nhiêu thiếu phụ mất chồng. Nỗi đau lòng buồn thảm đó là một thế giới khác. Thế giới của mất mát, ly tan, của những tâm hồn bị cướp giật yêu thương, bị xô ngã giữa đời sống vẫn tiếp tục đạp lên và không nhìn lại.

Rồi sau 30 tháng 4, họ phải làm gì với thân phận đó? Lấy chồng khác hay ở vậy nuôi con? Khốn khổ nói sao cho hết lời. Cay đắng kể sao cho ai hiểu. Đập chữ vỡ ra, có thấy máu chăng?

Đời của mỗi người, ai cũng có một số điều may mắn. Một trong những may mắn mà tôi ghi khắc trong trí nhớ, đó là lần gặp lại những người bạn thân từ thời trung học. Thi tú tài xong, mỗi đứa mỗi nơi, mỗi binh chủng, mỗi vùng chiến tuyến. Vậy mà may mắn thay, bốn anh bạn này đi phép, trở về thành phố Nha Trang, thăm nhà, có được hai ngày trùng lập với nhau. Chúng tôi hẹn ở một quán cà phê nhỏ, vắng vẻ, sau 8 giờ chỉ còn chúng tôi, uống bia và làm nhiều chuyện ngớ ngẩn, trẻ thơ, rồi ca hát, say mèm. Sáng hôm sau, chia xa, trở về đơn vị, tôi ở lại thành phố. Điều may mắn đó có thể là không may mắn. Mỗi khi nhớ lại, không biết gọi nó là gì, ngôn ngữ thiếu hụt, đành gọi là may mắn.

Tôi lại gặp anh (6)
Người trai nơi chiến tuyến
Súng trên vai bước lê qua đường phố
Tôi lại gặp anh
Giờ đây nơi quán nhỏ
Tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ

[Ngón đàn bolero của Sơn vẫn ngọt lịm như ngày nào. Giọng hát của Phương giờ đây thêm nhiều nhựa thuốc lá và thanh quảng mòn mài rượu đế.

Khi chúng tôi mang đàn vào quán, cô thu ngân đã chú ý những anh lính này. Chắc cô đã quen lính tráng nhậu nhẹt, có hung thần, có ma quỉ, có thư sinh, có nghệ sĩ. Và cô phải chịu đựng những gì xảy ra, kể cả việc súng nổ, chai bay. Miếng cơm manh áo có đáng hay không? Không có câu trả lời chính xác vì không thể làm gì khác hơn. Nhưng đêm nay, cô thu ngân, tên Phương Hạnh, ánh mắt trẻ mà ngấm buồn, mái tóc nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, nghiêng nghiêng dưới ánh đèn mờ, rất ấn tượng, nhưng chúng tôi bận hát, bận sống cho hết đêm. Mới đầu, thỉnh thoảng Hạnh liếc nhìn về hướng bàn bốn anh lính và một anh dân sự chìm sâu trong góc tối rồi quay đi sợ họ trông thấy, mặc dù, tai vẫn lắng nghe. Một lát sau, khi quán không còn ai, chỉ còn vỏ chai bia và lính, Hạnh dạn dĩ chống tay lên cằm ngồi thưởng thức tiếng hát của anh thiếu úy rằn ri nhưng đẹp trai với hàng lông mày rậm.]    

Nhớ gì từ ngày anh xa mái trường
Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường
Lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm
Màu xanh áo người thương
Nắng chiều đẹp quê hương
Hay nhạc buồn đêm sương

Tôi lại gặp anh
Trời đêm nay sáng quá
Ánh trăng như hé tươi sau ngàn lá
Tôi lại gặp anh
Đường khuya vui bước nhỏ
Kể nhau nghe chuyện cũ bao ngày qua
Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở
Kỷ niệm từ ngày xưa chưa xóa mờ
Ánh đèn vàng ngoài ô vẫn còn đó
Bạn anh vẫn còn đây
Sống cuộc đời hôm nay
Với bọn mình đêm nay

[Đêm càng tối, lòng càng bay bổng một cách nặng nề. Không có tâm sự nào rõ ràng, chỉ cảm thấy xúc động với đời với người với bạn, kể cả với Hạnh, giờ này, không còn là chủ quán, cô đã trở thành một em gái nhỏ, hậu phương, đang chia xẻ với các anh lính từ tiền đồn về phố. Dường như sáu người chúng tôi đang cảm buồn về những điều gì xa xăm. Gần giống thôi nhưng không hẳn là niềm chia tay, nỗi chết, chỉ là một cảm nhận, một thứ gì mơ hồ bao quanh rồi tràn ngập cả quán. Tất cả những đèn trên tường trên bàn đã tối, giờ còn tối thêm. Hùng có lẽ đã say mê, không phải Hạnh, chỉ một người nữ cần thiết xuất hiện thoáng qua, đậm đà cảm xúc cho anh lính biệt động đang la đà trong câu hát “Và phương đó em ơi có gì vui xin biên thư về cho anh. Nhớ thương vơi đầy, đêm nay trên đồn vắng, thương em anh thương nhiều lắm, em ơi biết cho chăng, tỉnh lẻ đêm buồn… “(7) Đời người dễ được mấy khi sống trọn vẹn buông thả, chúng tôi không còn nhớ thời gian. Hạnh cũng quên đóng cửa quán.]

Anh sống đời trai giữa núi đồi
Tôi viết bài ca xây đời mới
Bờ tre quê hương
Cây súng anh gìn giữ
Tôi hát vang giữa đời để người vui

Thôi mình chia tay
Cầu mong anh chiến thắng
Ánh trăng khuya sắp tàn trên hè phố
Thôi mình chia tay
Rồi mai đây có về
Quà cho tôi anh nhớ chép bài thơ
Nắng đẹp của bình minh đang hé chờ
Nỗi buồn vui biệt ly chưa xóa mờ
Súng thù từ rừng sâu vẫn còn đó

[Đột nhiên tiếng còi giới nghiêm hú lên. Một tiếng hú không đúng lúc, phá vỡ một thế giới tình tự lãng mạn. Hạnh trở về với cô chủ quán. Chúng tôi trở về với chiến tranh. “Cảm ơn Hạnh,” Chỉ có Hùng nói như vậy. 

Năm đứa tôi đi ra đầu đường, Tôi và Thành về chung một hướng, ba người kia mỗi người mỗi ngả.]

Đừng lưu luyến gì đây
Thôi bọn mình chia tay
Thôi bọn mình chia tay.
[Chia xa. Mỗi người trở về đơn vị của mình. Tôi ở lại thành phố. Và vĩnh viễn không còn trông thấy nhau nữa.]
 
                    Viết trong khi chờ 30 tháng 4, 2024
 
Ghi:
(1)  Biệt Kinh Kỳ của Minh Kỳ.
(2)  Những Ngày Xưa Thân Ái của Phạm Thế Mỹ.
(3)  Gõ Cửa của Anh Bằng.
(4)  Bông Cỏ May của Trúc Phương.
(5)  24 Giờ Phép của Trúc Phương.
(6)  Trăng Tàn Trên Hè Phố của Phạm Thế Mỹ.
(7)  Đêm BUồn Tỉnh Lẻ của Tú Nhi.
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
Nhận được tin buồn nhà thơ Phan Xuân Sinh sau một cơn bạo bệnh, nhập viện vì bệnh tim mạch, hôn mê sau 10 ngày vô phương cứu chữa đã qua đời tại Texas ngày 28/2/2024. Thọ 76 tuổi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.