Hôm nay,  

Chuyện tình thời xa vắng

2/25/202406:54:00(View: 2826)
Truyện

Trường_Đại_học_Sư_phạm_Huế

Cô Tư tôi (tên cô là Ngọc Quỳnh) dáng người thanh thoát, gương mặt sáng, đôi mắt đẹp, đài các. Năm nay bước qua tuổi thất thập nhưng vẫn khỏe mạnh nhanh nhẹn, dấu ấn thời gian vẫn chưa xóa hết nét xuân sắc một thời. Cô có một mối tình “thời xa vắng” thật lâm ly, và bi văn đát. Hôm nay giấu cô, tôi kể lén cho mọi người nghe chơi.
    Hôm rồi, cả nhà qua quận Tư ăn đám giỗ bà tôi. Không thấy chú Hải (miền Trung gọi là dượng, chồng cô Tư) sang. Ai cũng hỏi chú Hải đâu, mà chỉ có cô Tư qua? Thường đi đâu chú Hải cũng làm tài xế riêng đưa đón không công, kể từ hồi sinh viên của cô Tư đến giờ.
    Cô Tư tủm tỉm cười. “Ổng lẫy rồi”. Chú Hải lẫy, là dỗi, giận luôn cả cô Năm Huệ, chú Sáu Hạnh (em cô Tư). Nên giỗ năm trước không sang, giỗ năm nay cũng vắng bặt luôn!
    Số là cô Tư thời học trường Đồng Khánh có người yêu bên Quốc Học tên chú là Biên Thùy thường ghé nhà đưa đón cô Tư đi học. Mặc dù nhà chú Thùy ở trái đường tuốc luốc bên Phú Cam (phía nam sông Hương). Mà cô Tư thì ở trong Thành Nội (phía bắc sông Hương), vậy mà bất kể sáng chiều chú Thùy cũng có mặt đưa rước chăm chỉ như ông bố trẻ chăm con. Khi bà tôi mất, năm 1978, hậu chiến kỳ này xe cộ mua vé đã khó huống gì điều xe đi đưa đám. Nhà chú Thùy điều kiện, có ô tô nên chú điều xe tới để đưa bà tôi về nơi an nghỉ, chú ghé vai lo việc tang chế cho bà tôi chu đáo. Vì điều này, cô Tư tôi khắc ghi trong lòng với sự trân quý và biết ơn!
    Sau khi thi xong tú tài thì cô Tư khăn gói vào Sài Gòn học tiếp Đại học văn khoa. Rồi cô đi làm. Lúc này chúng tôi còn quá nhỏ nên những chuyện của người lớn trong gia đình nghe câu được câu chăng. Sau này thấy cô Tư lập gia đình với chú Hải (người Sài Gòn) gia đình cô sống ở ở quận 7. Còn chú Thùy cũng đã yên bề gia thất và sống ở Singapore. (nguyên nhân xa nhau cô chưa kể, phần này chưa khai thác được, hẹn đám giỗ bà năm sau sẽ khai thác tiếp).
    Cô Tư có lối kể chuyện gì cũng có phong thái hài hước lắm. Mặt cô tỉnh rụi nhưng người nghe thì ôm bụng cười lăn. Cô kể năm ngoái, chú Hải bảo cô bán nhà bên quận 7 để về Nhà Bè mua đất cất nhà cho rộng để nuôi chó cảnh. Nuôi chơi thôi! Cô bảo trong nhà giờ lên đến 18 con: chó to có, nhỏ có, đực có, cái có, nhà rộn ràng vì chó. Mà ông Hải để nuôi chứ cho ông cũng không cho, mà bán, ông cũng không bán. Ba năm trước có hai con nhỏ mới sinh cô lén đem cho người ta. Cô bảo ổng về kiếm hai con nhỏ hỏng ra vậy là ổng chửi hai năm. Cô Tư kể, vẻ mặt tỉnh rụi mà bà con ai cũng cười.
    Nguyên nhân chú Hải lẫy là cách nay 20 năm chú Thùy (bồ cũ của cô) ở bên Sing ốm nặng thập tử nhất sinh, ổng bảo với bà vợ là nguyện vọng cuối cùng cho ổng gặp lại cô Tư tôi một lần. Thế là bà vợ chú Thùy gọi điện khẩn thiết mời cô Tư qua Sing thăm chú Thùy lần chót. Qua gặp, cô cầm tay dặn dò, động viên ráng cho mau khỏe, không biết chú Thùy có nghe thấy gì không? Gặp cô Tư xong thì chú Thùy ngước nhìn cô Tư lần cuối xong gật đầu và nhắm mắt ngủ luôn giấc ngủ ngàn thu.
    Cô Tư bảo nghĩa tử là nghĩa tận, cô nghĩ ơn nghĩa ngày xưa còn đó, lúc chú điều xe lo tang lễ cho bà, cô vẫn nhớ. Nên bằng mọi giá phải qua thăm ổng lần chót, gặp cô xong có lẽ ổng đi thanh thản. Không biết cô nói dối cách nào để đi (chưa kể chi tiết, sẽ khai thác dịp sau) chứ chẳng lẽ lại bảo chồng là : Ông để cho tui đi thăm bồ cũ à! (dù ổng đang hấp hối.)
    Sau này không biết vì sao chú Hải chồng cô Tư biết được, vậy là từ đó đến giờ ông vẫn âm ỉ ghen. Cô Năm bảo: “Khiếp ghen gì ghen tới 20 năm sau vậy!” Lần đó nghe đâu chú Hải lên tra khảo, cô Năm và mấy cô chú trong nhà. Ý chú Hải là: “Sao mấy người lại toa rập bao che để cô Tư đi thăm người yêu cũ.” Thế là chú Hải la toáng lên gây lộn mấy cô em vợ xong là giận một mạch từ đó đến giờ.
    Nhưng có ai nói gì chú Hải là Cô Tư cũng bênh chú chằm chặp à! Cô Bảo vậy chứ thương cô Tư lắm. Cô Tư đòi gì cũng mua, đi đâu cũng chở đi. Áo dài cái 2 triệu rưỡi cô nói mua là chú chở cô đi mua liền không chần chừ gì ráo. Cô Tư bảo: “Ổng ghen vậy chứ ổng tốt lắm”.
    À thì hóa ra đôi khi người ta có những hờn dỗi, ghen tương, những khúc mắc nho nhỏ vậy cho tình yêu thêm gia vị. Chứ họ dính nhau như sam, có cãi nhau cũng không rời nhau được bởi vậy mới nói nói dù khắc nhau vẫn cần nhau và vẫn bên nhau đến già. Cô Tư tôi năm nay đã ngoài 70, chú Hải thì 78 tuổi. Con cái đã trưởng thành và đã định cư ở hải ngoại, nhà chỉ còn hai ông bà già. Con gái bảo lãnh rồi nhưng chú Hải không chịu đi, chú thích ở nhà nuôi chó chơi và nhậu với mấy người bạn tâm giao đâu đó hoặc với xóm giềng.
    Mấy người tiếp tục chọc cô là: nay 70 mà tướng tá còn ngon, huống gì cách nay 20 năm mới 50 tuổi đi thăm người yêu cũ bị chồng ghen là đúng rồi. Cô Tư nheo mắt cười khùng khục. Cô còn kể là tao có viết một bài với tựa: Người Tình Không Chân Dung, viết xong để đâu đó, chú Hải đọc được, chú lại ghen nữa. Cô Năm bảo: “Viết gì có chữ người Tình thì lo mà xé đi chứ ai lại sơ suất cho chồng thấy”.
    Cô Tư bảo: “Tao viết ra mắc chi tao xé!” À có vẻ cũng chọc chơi ông Hải đây, “trơ gan cùng tuế nguyệt" ra phết!
    Tư lại cười, nụ cười hạnh phúc luôn đọng trên môi.

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.