Hôm nay,  

50 Năm Hòa Ước Paris, Nghe Lại Bình Ca Phạm Duy

22/12/202300:00:00(Xem: 4195)

binh ca
Vào những ngày cuối năm 2023, khi mà người Mỹ bắt đầu chuẩn bị cho những bữa tiệc Giáng Sinh, năm mới, bàn tán chuyện mua sắm, thì chiến sự giữa Isarel và Hamas chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Trên vùng đất thánh của cả ba tôn giáo lớn, những kiếp người lầm than chỉ mong có một ngày hòa bình, một ngày không bom đạn.

Cũng vào những ngày cuối năm 2023, người Mỹ bắt đầu nhìn thấy một viễn cảnh Ukraine bị bỏ rơi, phải chấp nhận đổi đất lấy hòa bình. Nhiều người Việt cho rằng Ukraine sắp là một Việt Nam Cộng Hòa khác, một đồng minh bị Mỹ bỏ rơi, nhưng sau một thời gian có thể nhanh hơn nhiều.

Năm 2023 cũng đánh dấu kỷ niệm 50 năm ngày hiệp định Paris được ký kết, đem lại một niềm hy vọng hoà bình cho hàng triệu người Việt Nam. Nhưng nhiều người tiên đoán trước rằng đây chỉ là một nền hòa bình giả tạo, để Mỹ phủi tay với Miền Nam, bắt tay với Tàu, tạo điều kiện cho Miền Bắc thôn tính Miền Nam chỉ hai năm sau đó.

50 năm nhìn lại một cột mốc lịch sử đáng buồn như vậy, hỏi ai còn nhớ điều gì vui? Xin thưa rằng vẫn có. Thí dụ như nghe lại 10 bài Bình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy. Niềm hy vọng về hòa bình của muôn triệu người Việt được ghi lại thành những ca khúc tuyệt diệu, nhưng nhiều người yêu nhạc thuộc thế hệ trẻ có thể chưa biết đến.

Ngay cả những người yêu nhạc Phạm Duy từ trước 1975 cũng có thể khám phá ra một vài điều mới về Bình Ca. Là một chứng nhân lịch sử của Việt Nam trong thời hiện đại, hiểu thời cuộc, Phạm Duy không hy vọng hão huyền về nền hòa bình do hòa ước Paris đem lại vào đầu năm 1973. Trên trang mạng www.phamduy.com, ông viết: “…Bình Ca ra đời vào năm 1972, không xưng tụng nền hoà bình mà Hội Nghị Paris đạt được sau các vụ đi đêm và ký kết giữa các phe nhóm. Trong bình ca, không phải vì lý do có ký kết hoà bình mà nói tới chuyện tương lai, với sự trùng tu xứ xở, xây lại nhà máy, cầu cống v.v... Nó nói nhiều tới chuyện lấy lại sự bình thường, bình dị của dân tộc ta, bị mất đi sau mấy chục năm chiến tranh…”

Bình Ca là một chương khúc gồm 10 ca khúc, một hình thức được nhạc sĩ Phạm Duy thực hiện một cách xuất sắc với Đạo Ca, Tâm Ca trước đó. Bài Bình Ca 10, Ngày Sẽ Tới, được sáng tác mãi từ năm 1959, như một lời réo gọi hoà bình. Cùng với chín bài hát mới viết vào năm 1972, Bình Ca không hẳn là những bài hát nói tới hoà bình trên đất nước, mà là hoà bình trong lòng người. Tại sao vậy? Bởi vì chính Phạm Duy không tin là sẽ có hoà bình sau khi hòa ước ký kết! Điều này đã được chứng minh tại Miền Nam ngay trong những ngày cuối tháng Giêng 1973, khi mà tờ hòa ước Paris còn chưa ráo giấy mực.

Điều gì là nét độc đáo riêng của Bình Ca? Sự bình dị từ giai điệu đến ca từ. Thứ bình dị nhưng sâu sắc, đi thẳng vào lòng người thường thấy trong ca khúc Phạm Duy. Nó bình dị, chân thành, đầy cảm xúc rất thực của những người Việt luôn mơ về một ngày hòa bình.

Hãy cùng nghe và hát lại Bình Ca 1:


Trong một giai điệu đơn giản của thể nhạc cộng đồng, hát chung, bức họa về hòa bình được phát thảo tuyệt đẹp từ những điều hết sức đơn giản trong đời sống hằng ngày. Những con chim sau bao năm bị tiếng súng làm im tiếng nay hót trở lại. Những chú trâu già nay có thể thảnh thơi nhai cỏ, để nhường công việc đồng áng lại cho những chiếc máy cày, tượng trưng cho sự thịnh vượng của một đất nước VIệt Nam hòa bình:

Này em con chim lười, Nhiều năm chim đau phổi
Buổi sáng vắng tiếng chim cười vui
Này em con chim gầy, Chiều nay chim đứng dậy
Và nó hát líu lo thật dài
Cũng vì Hoà Bình đã về đây…
Này em con trâu già, Nhiều năm trâu vất vả
Cùng với bác xã nơi đồng quê
Này em con trâu già, Nằm chơi trâu nhai cỏ
Nhìn những chiếc máy đang cầy bừa.
Trâu đừng buồn vì máy cầy nghe…

Rồi hình ảnh trại giam cũ biến thành trường học… Rồi tiếng nổ khi sang xuân nay không phải là tiếng đạn bom, mà là tiếng pháo vui… Cảm động nhất là trong phiên khúc sau cùng, hình ảnh người lính già trở về, kể lại chuyện buồn vui thời chiến cho đám con trẻ:

…Này em anh đã già, Tuổi cao thiếu sức khoẻ
Dù sống với trái tim cằn khô
Này em anh đã về, Thì xin nghe anh kể
Chuyện mới, cũ, khóc vui tràn chề
Những chuyện hoà bình có người nghe…

Những hình ảnh giản dị mà xúc động về hòa bình, chỉ có thấy trong ca khúc Phạm Duy…
 
Sự mộc mạc của Bình Ca thể hiện rõ nhất trong Bình Ca 7, Lời Chào Bình Yên:


Người nghe có thể tưởng tượng ra hình ảnh một bác nông dân Miền Nam chất phác, vui vì hòa bình đến mà mặc khăn áo chỉnh tề, đứng ra đường cúi chào tất cả mọi người:

Mang giầy giớ tốt, mang khăn áo lành
Tôi chào đất nước tôi nay thái bình
Tôi cúi lưng xin chào anh, Tôi đứng lên, tôi chào em
 Tôi vói lên cao, chào Đức Tin
 Tôi chào sáng sớm, ban trưa, xế chiều
 Đêm về vẫn cứ chưa thôi cúi chào
 Tôi thấy trong tôi mừng reo, Tôi thấy chung quanh chào nhau
 Tôi cũng không quên chào đứa tôi đâu.
 Lời... lời chào bình yên… Lời... lời chào bình yên

Chào mừng một Việt Nam hòa bình, tại sao không thể mơ về một thế giới cũng hòa bình, nơi mà con người có thể chia sẻ cho nhau mọi thứ:

…Tôi chào trái đất xinh xinh giữa trời
Tôi chào thế giới chung nhau giống người
Chia với nhau dăm biển to, Dăm núi cao băng lạnh co
Hay mấy khu sa mạc nắng khô
Tôi chào ý nghĩ chia vui chúng mình
Chia buồn, sẽ sống chung nhau thái bình
Chia nước ngon, chia hột cơm, Chia áo khăn, chia mảnh tôn
Ta bắt tay nhau chào tiếng hân hoan.
Lời... lời chào bình yên... Lời... lời chào bình yên

Đó là giấc mơ lớn nhất của nhân loại, nhưng có lẽ sẽ không bao giờ trở thành sự thật. Nhưng đâu có ai ngăn được người nghệ sĩ mơ những điều tốt đẹp. Giống như Beethoven đã từng mơ và viết lên Hoan Khúc bất tử trong Bản Giao Hưởng Số 9 cách đây ba thế kỷ…

Sau những mùa xuân máu lửa, thù hận như Tết Mậu Thân, người Việt nay mơ đến một muà xuân hiền hòa, thanh bình. Bình Ca số 5, Xuân Hiền, với giai điệu rộn ràng mùa xuân là một mùa xuân cổ kính, với các từ Hán Việt như : Xuân Huy, Xuân Phong, Xuân Tiêu, Xuân Miên... để nói tới ánh sáng mùa Xuân, gió Xuân, đêm Xuân và giấc mộng đêm Xuân:

Xuân huy chan hoà trên khắp quê hương
Nắng chói gia đình huyền bí trăm con
Năm mươi người xuống, Năm mươi người lên
Đến lúc gặp chỗ hàn huyên
Xuân phong đem về tin tức vui chung
Gió mát cho lòng rộng rãi thong dong
Chung nhau cuộc sống, Chung nhau cuộc chết
Và quyết định cưới Xuân liền !
 À ạ ơi ! À ạ ơi !...
Và khi tâm người nhạc sĩ phơi phới với mùa xuân hòa bình, Phạm Duy hướng tới một mùa xuân vĩnh cữu trong lòng người; thứ mùa xuân trong cõi tâm mà tác giả từng nhắc đến trong Xuân Ca, Tâm Xuân, Xuân Hành:
…Xuân non, Xuân già, Xuân vẫn Xuân quen
Mới biết Xuân là cuộc tái sinh duyên
Thu, Đông, Hạ chết, Nhưng Xuân còn nguyên
Khuyến khích dòng máu về tim
Xuân không lên đường, Xuân đứng êm êm
Đứng mãi trong đời để cõng ta lên
Yêu Xuân đằm thắm, Yêu Xuân một phen
 Và sống cùng với Xuân hiền...
 À ạ ơi ! À ạ ơi !...
Bình Ca có đến hai ca khúc lấy tình yêu Thiên Chúa để nói lên tình yêu của nhân loại đối với hòa bình. Trong Bình ca 4, Xin Tình Yêu Giáng Sinh (thơ Trụ Vũ), hòa bình như tình yêu Giáng Sinh, đem lại cho quê hương Việt Nam sự hồi sinh:

     
Xin tình yêu giáng sinh, Trên quê hương cằn cỗi
Xin tình yêu giáng sinh, Trên địa cầu tăm tối
    Xin tình yêu giáng sinh, Trong lòng người hấp hối
    Xin tình yêu giáng sinh, Trên cuộc đời lầy lội…
    …Xin tình yêu giáng sinh, Cho một lần hoa nở
    Xin tình yêu giáng sinh, Cho một lần ngực thở
    Xin tình yêu giáng sinh, Cho một lần cửa mở
    Xin tình yêu giáng sinh, Tình yêu của chúng mình…
Đặc biệt hơn nữa, trong Bình Ca  9, Phạm Duy muốn được nhìn Chúa Giê Su như một con người của hoà bình, một con người có khả năng kiến tạo hòa bình bằng những hành động minh triết:

Nếu có ai giận dữ, Nếu có ai bất hoà
Nếu có ai lầm lỡ, Rồi sinh ra khắt khe
Sẽ đánh tôi một cái, Tát tôi nơi má này
Sẽ thấy tôi lặng lẽ, Chìa luôn ngay má kia !
Lạy Chúa ! Lạy Chúa tôi ! Nhân ái ban xuống đời
Lạy Chúa ! Lạy Chúa tôi ! Cho hiếu hoà khắp nơi...
Hay là cách Chúa đã bảo vệ người phụ nữ mang tội bán thân khỏi hình phạt bị ném đá trước công chúng:
…Đã chót mang tội gốc, Gái hư thân não nùng
Khóc giữa nơi quần chúng, Nằm cho viên đá quăng
Hỡi những ai ở đó! Sẽ đóng vai phán toà
Nếu tự thấy không tội lỗi, Thì quăng viên đá coi.
Lạy Chúa ! Lạy Chúa tôi ! Thương sót cho giống người
…Lạy Chúa ! Lạy Chúa tôi ! Không xét người ! Xét tôi !...
 
Như đã nói trên, bài Bình Ca 10, Ngày Sẽ Tới, viết từ 1959 được dùng để kết thúc Bình Ca. Có lẽ vì định mệnh, mà ca khúc cho hòa bình này lại viết ở tông thứ, với lời mở đầu và kết thúc giống như một tiếng kêu van hơn là một tiếng reo vui đón chào hòa bình: “…này hỡi, hỡi Hòa Bình…”


Này hỡi, hỡi Hoà Bình ! Này hỡi, hỡi Hoà Bình !
Ngày sẽ tới, biết bao nhiêu mừng vui
Mừng biết mấy chiến tranh đã tàn phai
Quê hương ta xưa nay đã đẹp rồi
Thêm xinh tươi, thêm vui, thêm tuyệt vời !
Này hỡi, hỡi Hoà Bình ! Này hỡi, hỡi Hoà Bình!...

Mà định mệnh của đất nước Việt Nam buồn thật! Nền hòa bình từ hòa ước 1973 chỉ là giả tạo. Và ngay cả khi đất nước ngưng tiếng súng vào năm 1975, quê hương vẫn đầy hận thù, bạo lực, vẫn chưa bao giờ thực sự tươi sáng cho đến tận nửa thế kỷ sau...

Vận mệnh của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đầy đen tối trong những những ngày cuối năm 2023, Isarel-Palestine, Nga-Ukraine… Có lẽ nhân loại luôn có những dân tộc chỉ thèm khát một ngày hòa bình. Trong một thế giới chiến tranh, hận thù, những ca khúc như Bình Ca giúp nuôi dưỡng niềm hy vọng về một ngày mai tốt đẹp hơn. Cho dù ở Việt Nam, hay ở Ukraine, hay ở Palestine, và ngay cả ở Mỹ, chỉ có Chân- Thiện-Mỹ mới có thể đưa con người đến gần nhau hơn. Hòa Bình trong mỗi con người hy vọng sẽ góp phần xây dựng nên Hòa Bình cho một quốc gia, cho toàn thế giới.

Doãn Hưng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.