Hôm nọ tôi có dịp chạy về khu neighbourhood cũ, đi ngang qua căn nhà cũ mà bồi hồi xuyến xao bao nhiêu kỷ niệm. Lúc ấy gia đình chúng tôi mới từ thủ đô Ottawa chuyển về thành phố này, các con còn bé nên việc tìm một căn nhà có đủ tiêu chuẩn gần trường học, gần nhà thờ, gần chợ Việt chợ Tây cũng hơi khó. Cuối cùng thì căn nhà tạm ưng ý được chúng tôi lựa chọn vì mới được xây, dù là ở dưới phố khá ồn ào chen chúc.
Ngôi nhà của hơn mười năm, từ khi các con còn học tiểu học ở trường St.Catherine. Nhớ những buổi sớm réo gọi cả nhà thức dậy, tôi tất bật lo bữa sáng cho mọi người, chuẩn bị backpacks cho tụi nhỏ, gói các lunh boxes, lôi ra áo quần giày dép trong khi chúng ngồi ăn, rồi lại tất bật đẩy con ra cửa chờ xe yellow bus đi học, và vợ chồng tôi cũng lần lượt rời nhà đi làm, mỗi người một hướng.
Nhớ những lần mấy mẹ con đi bộ trong xóm, băng qua cây cầu đá, đến Library để con gái lựa sách Fairy Tales như Cinderella mỗi tối ôm lên giường say sưa theo từng trang sách đẹp như giấc mơ tuổi thơ, ghé Fire Station vì thằng con trai mê mẩn bồ độ đồng phục oai dũng của các chàng Firemen. Thấy chúng tôi lấp ló ngoài cửa là các chàng firemen vui vẻ mời vào, đưa con trai tôi vào tận xe, ngồi tập “lái thử” y như thiệt.
Nhớ những lần đưa các con đi học bơi, học vẽ, học đàn piano theo “phong trào” của các gia đình Việt Nam hải ngoại là cho các con “học đủ thứ”, rồi có nên cơm cháo gì không cũng không quan trọng. Những buổi chiều tôi vừa nấu cơm vừa nghe con gái tập đờn piano bài “Dòng Sông Xanh” theo yêu cầu của tôi mà mơ mộng nó sắp thành … nghệ sĩ danh cầm nổi tiếng thế giới.
Nhớ những đêm khuya vắng từ phòng ngủ trên lầu, tôi nhìn qua khung cửa sổ khi những bông tuyết đầu mùa phơ phất đến rồi tìm vần thơ, nhớ những những kỷ niệm thanh xuân còn bỏ lại nơi quê nhà xa xôi.
Căn nhà này, cũng đã đón tiếp nhiều chuyến viếng thăm của người thân hai bên nội ngoại từ Mỹ và Canada, những buổi BBQ nơi sân sau với bạn bè, những buổi birthday parties của các thành viên trong gia đình, những ngày mưa Thu ngắm lá rụng dưới cội táo già, nhìn dòng xe nối tiếp nhau giờ tan tầm bên ngoài cửa sổ, cảm nhận niềm hạnh phúc bình yên nơi phòng khách ấm cúng với ly trà nóng thơm mùi peppermint.
Giờ đây mọi ký ức như bừng sống lại, thời gian như cơn gió vô tình, các con đã lớn, chúng tôi cũng không còn trẻ nữa, mà ngôi nhà cũ vẫn còn đây, chất chứa biết bao niềm thương nỗi nhớ dạt dào mỗi khi đi ngang về chốn xưa.
Thật ra, căn nhà này vẫn là của tôi. Gia đình tôi dọn nhà qua khu mới, phía Bắc thành phố, và cho người ta mướn căn nhà cũ, nên thỉnh thoảng tôi vẫn được ghé qua, đi vào nhà khi có việc cần theo yêu cầu của người mướn nhà.
Bước vào nhà, mọi thứ thay đổi, cách trang trí sắp đặt các vật dụng hoàn toàn khác, nhưng tôi vẫn đứng ngẩn ngơ ngay giữa căn bếp, hiện về trong tâm trí bao nhiêu lần tôi đã đứng nơi đây, làm những bữa cơm cho cả nhà.
Cũng giống như nhiều gia đình Việt Nam khác bên hải ngoại, tôi tin là như thế, máy rửa chén nhà tôi cũng chỉ dùng để… đựng chén dĩa muỗng nĩa cho khô ráo, và chỉ sử dụng máy thi thoảng khi nhà nấu thức ăn nhiều, có khách, hoặc khi mệt mỏi.
Và vì tôi rất say mê, yêu thích rửa chén, nên trong sự phân chia nhân sự và công việc nhà, phần “rửa chén” đã thuộc… về tôi. Chỗ đứng rửa chén nhà tôi nhìn thẳng ra khung cửa sổ sau vườn nhà, không phải cái cửa sổ be bé mà là ba cái cửa sổ lớn nối liền nhau, và đó là một bức tranh thiên nhiên bốn mùa cho tôi thong thả nhìn ngắm mỗi khi rửa chén.
Mùa Xuân và mùa Hè, gió nhẹ đong đưa những cành cây dưới màu nắng tươi, nghe cả tiếng ong vo ve hút mật trên những chùm hoa táo màu trắng toả hương thơm vương vấn. Mùa Thu, hàng cây cao của vườn sau nhà kế hàng rào chuyển sang một màu vàng lãng mạn, mỗi cơn gió đến làm những chiếc lá vàng rơi lả lơi trên không gian và rải lác đác trên sân cỏ nhà tôi (một màu Thu rất đẹp và cũng rất buồn, đôi khi!). Mùa Đông, đó là một bức tranh màu xám của mây trời và tuyết trắng, nhưng được chấm phá bằng những nét màu nâu, đen sinh động của những nhành cây khẳng khiu, cuối chiều tà có con chim lẻ bạn lạc loài đang ngơ ngác tìm đường về tổ.
Khi rửa chén, vừa ngắm “bức tranh cửa sổ” tôi vừa mở nhạc du dương, cũng có khi có những âm thanh của tivi ngay phòng khách hoặc tiếng ồn ào khác trên lầu của các thành viên khác trong nhà. Cũng có khi rất im lặng chỉ mình tôi thả hồn, nghĩ suy về một bài viết hay một câu thơ…
Với tôi, rửa chén cũng là một phương pháp tập thể dục, thân thể thả lỏng, relaxing, trí óc bay bổng nhẹ nhàng và là phương pháp “thiền” rất thú vị. (Có mâu thuẫn không, khi tôi không biết nấu ăn, không đam mê bếp núc, nhưng lại yêu… rửa chén?)
Tạm biệt căn nhà cũ, lái xe trở về căn nhà hiện tại, tôi vẫn còn lâng lâng cảm xúc buồn vui, năm nay tuyết đã đến sớm từ đầu tháng 11, tháng tận năm cùng rồi còn gì, lại sắp bước qua một năm mới, hỏi sao không bâng khuâng?
Ông xã nghe tôi kể nguyên do nỗi buồn “có tên và không tên” bèn châm chọc cho tôi vui, cái câu muôn thuở tôi nghe cả trăm lần:
- Trời ơi, em cứ yếu đuối đa sầu đa cảm, tâm tình sáng nắng chiều mưa như thế thì không bao giờ làm chủ cả, làm boss được đâu nhé.
-Em có bao giờ mơ ước làm boss làm chủ ai đâu chớ! Trong căn nhà chỉ có bốn người này, em còn đứng thư tư nữa mà!
Biết tôi còn đang cảm xúc chưa nguôi, chồng tôi bỏ lên lầu, kẻo tôi lại mất hứng nấu cơm chiều thì coi như đói rã họng, lại phải ăn cơm nguội với mì gói.
Đó là câu chuyện thật. Còn sau đây là… chuyện bịa:
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn.
Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.
Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.
Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”
Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.
Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.
Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.
We use cookies to help us understand ease of use and relevance of content. This ensures that we can give you the best experience on our website. If you continue, we'll assume that you are happy to receive cookies for this purpose.