Hôm nay,  

Lại Nhớ Anh Sáu Giáng.

10/27/202300:00:00(View: 5785)

 

buigiang-ky-hoa-khanh-truong
Bùi Giáng - ký họa Khánh Trường

1

Bùi Giáng qua đời tại Sài-gòn tháng 10-1998, tới tháng 10 năm này, 2023, đúng là 25 năm, một phần tư thế kỷ “Vắng bóng người Điên giữa kinh thành”.
Trong tất cả các bút hiệu của Bùi Giáng, Sáu Giáng là tên hiệu dễ thương với mọi người, Bùi Giáng lại thích “anh Sáu Giáng” nhất; bởi/từ cái gốc gác quê mùa, đồi sim, ruộng lúa, tiếng gà trưa, con cò bãi nước xa, cái nền nhà lát gạch hoa, đứa con thứ sáu trong gia đình tộc Bùi, thằng bé Giáng tập bò tập đi.

Con người càng bao năm càng cao dần, nhưng chẳng cao bằng cây mít cây tre trong vườn. Anh Sáu rời vườn xưa ra đi, vẫn mang hình bóng tre mít trong lòng, nhưng tre mít chẳng bao giờ biết trong vuờn quê này từng có Sáu Giáng. Sáu Giáng là ai? Chính anh cũng mơ màng, trôi dạt, đến nhớ nhung chính mình.

“Lên đường gõ cửa nhà ma
Kêu thằng Bùi Giáng bước ra tao chào”

2

Tháng 10 năm nay, 2023, nghe râm ran qua mạng rằng các nơi, Sàigòn. Đà Nẵng, Huế, cả Hà Nội đều có lễ giổ, tưởng niệm Bùi Giáng. Cuộc đồng loạt mở lòng tưởng nhớ này rất đúng tầm lễ nghĩa. Nhưng cũng ngặt cho anh Sáu.

Hẳn là sẽ có hương trầm chuông mõ, lời tưởng niệm, diễn văn, hoặc ai đó đọc bài thơ tặng Bùi Giáng. Có một lần ở Hà Nội, mần lễ tưởng niệm Bùi Giáng, rất nhiều phát biểu yêu thơ ca Bùi Giáng, bao nhiêu người nhận đã từng gặp Bùi Giáng chuyện trò, nhưng tấm hình chân dung Bùi Giáng to đùng treo trong hội trường là hình của…họa sĩ Th. H. Vị này, đang sống nhăn, già, nghèo, sống nhờ tại chùa Nghệ sĩ, một hình thức nhà cứu tế dưỡng lão, tại Gò Vấp.

Gập ghềnh, gian truân hơn, nhân dịp này, Bùi Giáng có thể được tưởng thưởng cái huy chương Lao động hạng Nhứt; được nhận giải văn chương.

Rất khiêm nhượng, Bùi Giáng cũng như bao người có thực tài, khi cầm bút chẳng ai nghĩ mình đang lao động. Mặc dù có động -- động não; và có lao – lao tâm lao trí, cần cù mới có tác phẩm, nhưng nó không nằm trong hai từ lao động thường hằng như cày bừa bửa củi.

Trong văn chương thi họa, bọn người ấy cũng mang một xác thân lấm đầy những bụi trần gian, lẫn lộn đời thường. Nhưng họ có thêm một riêng Cõi để chan hòa. Giữa khung trời huyền vi, viễn mộng, chẳng ai trong họ thấy nơi xa xa có treo lơ lửng một cục tiền, tấm huy chương, cái bằng danh dự, trả giá. Họ ẩn mình, lánh xa đám đông, những trò đời làm vẩn đục sự tinh khiết của tâm hồn.

Bùi Giáng cũng minh triết tự biết mình, cô đơn như người trăm năm cũ. 

Nguyễn Du từng tự hỏi:

“Văn tự hà tằng vi ngã dụng – chữ nghĩa ta dùng giúp được gì cho ta”
Nguyễn Khuyến cũng từa tựa Nguyễn Du thuở kia, “Sách vở ích gì cho buổi ấy!”

Tan Đà đau đớn hơn :

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo”.

3

Tôi chưa hề khen thơ Bùi Giáng hay. Thơ không phải chén mắm tôm, kẻ mê tơi, người bịt mũi.

Đến với anh Sáu Giáng là đến với một nơi chốn có cái để nhìn ngắm, có nắng ngoài kia, bóng mát dưới tầng lá này, có bốn mùa ấm lạnh cây kia đứng một mình.

Bùi điên, Bùi cô đơn, nhưng Bùi rất thân ái với cuộc đời, yêu cả những chủng loài vô danh nhỏ bé, bọn này chẳng dính dấp chi tới diễn văn, tưởng thưởng.

Xin yêu mãi và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.
 Bùi đầy lòng quyến luyến, biết ơn trần gian:
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
Bùi kỹ lưỡng, thầm trách cả chim chóc thiếu tình giả biệt:
Bay về tổ chín từng cao,
con chim vĩnh biệt quên chào mái hiên
Bùi Giáng thông tuệ, linh ứng, tiên tri chính xác, cả ngày mình xa ngái bầy trẻ con thân mến:

bui giang
Ông chào các con,
Ông từ viễn mộng tương lai
Về trong hiện tại ngàn mai giậy giàng
Mậu Dần mật thể thênh thang
Ông về chín suối đá vàng chào con
 
Năm 1998 là năm Mậu Dần, bổn mạng Thành Đầu Thổ. Bùi Giáng mất đúng ngày 7 tháng 10 năm ấy.
 
 4
Không những gởi lời tạ từ, Sáu Giáng còn uống chung rượu với em, tâm tình rất mực. Em đây, em gái Huế dịu dàng, em châu thổ thênh thang thang Châu Đốc Long Xuyên, em hưu nai ngã Bảy Ngã Ba phố thị, em Mọi từng than thở cùng Marilyn Monroe, nàng tài danh này tự tử bất ngờ khi minh tinh màn bạc hãy còn rực rỡ tháng ngày:
 
Mọi nhỏ – Tại sao chị tự tử?
 Monroe – Tại vì chị là người da trắng. Huống hồ nữa là...
 Mọi nhỏ – Là sao huống nữa?
 Monroe – huống nữa là màu da trắng của chị còn trắng hơn tất cả màu da của mọi người da trắng khác.
Monroe – Chị tự tử đã đành. Sao em cũng tự tử? Em ở trong rừng mát mẻ, em tự tử làm gì cho phí mất màu da bồ quân bánh mật của em như thế?
Mọi nhỏ – Em đâu có tự tử. Chính là thật ra cái hòn đạn nó tự tử em.

Sài-gòn vẫn sáng ửng nắng vàng để rong chơi, “Đi lên đi xuống đã đời du côn”, nhưng Bùi Giáng tự biết ngã đường chia biệt:

Uống với em trước giờ giã biệt.
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên.
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà
Em còn ở với sơn hà
Anh còn mất hút gần xa mất hoài
[Uống rượu] 

Viết về Bùi Giáng, lòng ta rưng rưng.
Như, cái buổi sáng đầu tiên thức giấc, sau một khuya khoắt người thân yêu của ta vừa qua đời.
 
5
Với Bùi Giáng, Thơ và Sống là một. Ông có bước qua nhiều lĩnh vực chữ nghĩa, biên khảo, dịch thuật, triết luận, nhưng tựu trung dù quánh đặc hay phiêu bồng, luôn không rời khỏi cái hồn và phong vận thi ca nơi ông.

Bùi Giáng là thoát ngoài, một Tâm vô sở trú, nhưng ông không là một người hư vô chủ nghĩa. Ông ở trong cõi đời thân mật và đầy trách nhiệm, một kẻ dấn thân. Ông xúi giục một cách nhiệt tình cuộc vào đời, tuy  ngôn ngữ trầm tư, ẩn mật:

“Muốn suy tư đúng lối không thể không lên đường dâu biển mấy cuộc trải qua, giấn mình vào sinh ra tử, mấy lần đọ mặt vi lá cỏ hư không vắng lặng đọan trường”.

Từ tư thế này Bùi Giáng luôn là một kẻ “Sống thật”, qua cái nhìn trực diện vào hố thẳm địa cầu. Lời Bùi Giáng:

“Những người làm văn nghệ hoặc không làm văn nghệ, nhưng có dở sống d chết trong bi kịch thi đại đều nghe rõ tiếng kêu của Weil, của Einstein. Khoa học giết người, triết học giết người. Khoa học giết người, ta nhìn thấy rõ. Triết học giết người, ta nhìn không thấy rõ… Khoa học đã hồn nhiên gây bóng tối. Nhưng cái ghê tm nhất là cái bóng tối t ở giữa lòng triết học tỏa ra.”

Bùi Giáng là một nhân phận trọn đời hiến tế cho thi ca. Tận hiến ấy thể hiện một thiên tài rực rỡ và kỳ vĩ, nhưng ông không trong khoảnh vùng hạn hẹp, trong cái gọi rằng thời thế, thời cuộc, được định vị qua lịch sử chính trị. Ông là một tự do. Là thể điệu vĩnh trường, trọn một đời không để mình bị một định chế nào trói buộc.

Cõi thơ Bùi Giáng rộng tỏa qua mọi thể điệu, mọi nếp gấp nhưng ông không, và chưa hề hô hào cho một thể chế trị nước đương quyền nào, một chủ nghĩa tư tưởng, ý thức hệ chính trị nào. Với ông, không phải bận rộn, cực nhọc moi móc, tìm kiếm những hận thù để hô hào con đường lửa máu cho đấu tranh, giải thoát. Nơi Bùi Giáng là cõi an nhiên tự tại. Và, thừa trí huệ để hiểu ra sự sa đọa, cuộc đoạn trường điêu linh như một đương nhiên, chúng ta không hề và chẳng thể rên rỉ mà thoát ra ngoài.

Từ vị trí này, trần gian chỉ còn là một hí trường – chỉ là nơi chốn bày ra trò vui buồn của tạo hóa; hay chỉ là một giấc Nam kha – một giấc ngủ trưa ngắn ngủi, thức giấc lúc nồi kê chưa chín, đã thấy trọn/suốt cuộc hành trình đời mình trong một cơn mơ thoáng chốc, trong ấy  đã thấy ngay mình đưa tang mình; cũng vậy, trong mơ trần thế, Trang Tử đã thấy mình hóa bướm; hoặc, rất có thể trần gian ấy, là một “lò cừ nung nấu”, cách nói của Nguyễn Gia Thiều - mỗi phận người được số mệnh trau chút qua những nỗi đau, buồn thẳm, đọa đày.

6

Có rất nhiều nhận xét, cho rằng Việt Nam chỉ có hai nhà thơ lớn, Nguyễn Du và Bùi Giáng. Đúng sai hạ hồi phân giải, nhưng đây không là câu nói qua đường. Dịch giả Bửu Ý có một tập sách viết về Bùi Giáng, tựa đề, Bùi Giáng truyền nhân của Nguyễn Du.

Cảm hoài về nhân thế có chỗ giống nhau, thực tế về tự thân giữa hai thiên tài Nguyễn Du và Bùi Giáng lại rất đổi khác nhau.

Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Vua Gia Long với một nỗi lòng đau. Bậc sĩ phu, kẻ nghĩa liệt không ai làm bầy tôi, thờ hai vua – Trung thần bất sự nhị quân, một trung thần không thể làm quan dưới hai vua. Vua cuối cùng của triều trước [tiên triều] và vị vua đầu của triều kế tiếp. Không kể Vua Quang Trung, triều Lê mới là tiên triều với dòng họ Nguyễn Du. Thân phụ Nguyễn Du, Nguyễn Nghiễm là đại thần của Nhà Lê. Nổi đau này là một Đoạn trường, một tiếng thét Tân Thanh, nơi Nguyễn Du. Nàng Kiều là biểu kiến của nổi trôi, phận bạc.  

Bùi Giáng khác hơn. Không có một tiểu sử bị nắng mưa đời dày xéo như Nguyễn Du.

Bùi Giáng, cõi tự tại, thong dong rất mực.

Lý Bạch xưa đã từng uống rượu của triều đình, Đào Tiềm đã lỡ ra làm quan sau mới “Qui khứ lai từ”;  Bùi Giáng không hẳn đã hơn Đào Tiềm, Lý Bạch nhưng ông xuất xử không như thế.

Khuất Nguyên giải quyết bế tắt qua buông mình xuống dòng Mịch La, Bùi Giáng cũng thấy ra là đời đời, mãi mãi nơi nao, cũng chỉ là “Địa địa xứ xứ giai Mịch La”- khắp chốn nơi, đâu cũng là chốn nên nhảy ùm tự vẩn. Nhưng ông thanh thản rong chơi; kịch liệt đùa rỡn, luôn thông thái đổi mới cách chơi ngày ngày; nguy nga tạo dựng một nhân sinh quan rộng tỏa trên mọi nẻo đường tư tưởng; mãi tràn lan cuộc vui cùng nhân gian tháng rộng năm dài.

7
Ghê thật, Bùi Giáng đỉnh cao. Bùi siêu nhiên viễn mộng. Có thật như rứa không? Giỡn chơi hoài. Bùi Giáng có những chuyện vui ít ai ngờ. Ngộ là chàng Khờ, anh Ngố, chẳng sai.

Hai chuyện này vui.

- Năm 1971, anh em xúi Bùi Giáng gởi thơ dự thi Giải thưởng Toàn quốc, lấy tiền uống rượu chơi. Bùi Giáng gom nhặt một mớ, không phải nguyên một tập thơ nào. Nộp. Không được giải nào, thậm chí giải khuyến khích! Hà Thượng Nhân, một giám khảo phê, ‘Thơ cà rỡn, thiếu nghiêm túc, khó hiểu”.

- Vào giữa thập niên 90 thế kỷ trước, trong nước, anh Nguyễn. Đg. Tr. một nhà thơ trẻ, đang chủ trương một nguyệt san văn chương. Vốn yêu mến và kính trọng những nhà văn nhà thơ tiền bối, anh có lòng mần một số báo đặc biệt về Bùi Giáng. Anh khéo nói làm sao Bùi Giáng mê tơi, không những đồng ý, mà còn hăng hái, tự tay viết một lá thư vui vầy, ký ngay tên Sáu Giáng cuối thư. Lá thư được trình trọng in ngay trang đầu số báo.

Số báo ra đời, in khá đẹp. Sáu Giáng vác một cái chuỗi chà đi tìm nhà thơ chủ nhiệm báo.

Trong số báo này, anh bạn trẻ khá vô ý, đăng những bài viết, kể lễ ba chuyện trà dư tửu hậu không đáng, những giai thoại về Bùi Giáng, hư cấu, vẽ vời, quá dung tục.

Gặp nhau, quán nhậu 81 đường Trần Quốc Thảo, Sáu Giáng chửi “Thèng tồ lô, đồ bôi boác” [giọng Quảng Nam, dịch nghĩa, “Thằng tào lao, đồ bôi bác”].
Cô Dung mang ra ba chai bia, ba cái ly bự. Bùi Giáng bảo Dung, “Không bỏ đóa”. Dung vô tình, thuận tay bỏ luôn cục nước đá vào ly anh Sáu. Bất ngờ, mặt hầm hầm, Bùi Giáng thò ngay bàn tay bụi bẩn vào ly móc cục nước đá, nạt “Tổ choa mi tau bổ không bỏ nước đóa sô mi bỏ”. Dung sợ khiếp đứng yên, chưa kịp phản ứng gì. Chỉ một vài giây đồng hồ, vẫn cục nước tổ bự trong lòng tay, ông lại nạt Dung, “Tau ném chết cha mi sô mi còn đứng đó, không chạy đi”.

Bùi Giáng là vậy. Cơn giận dỗi lơ lửng như cái hoa vàng trên dòng nước nhẹ trôi.

Một trời dâu bể, một đời thơ. Hai mươi lăm năm qua, vẫn như là ngày vừa qua, “Có phải anh Sáu đó không?”

Giữa con đường Nguyên Xuân:

“Xin chào nhau giữa con đường,
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau”.
 
Lão Xá,
Gác đền Rao, tháng 10 – 2023.
  

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.