Hôm nay,  

Thơ -- Ghi lên đá

26/08/202309:28:00(Xem: 3997)

War arts

Ghi lên đá

 

Ngó lên núi thấy thân mình hắt bóng

Nỗi cực cùng vò xé những mầm xanh

Treo lơ lửng đầu cành ngày nóng bỏng

Mộng ban đầu tiêu tán, mong manh

 

Ngó xuống biển loài san hô bạch tuộc

Ngoi đầu lên hớp hắc khí nặng nề

Mưa thấm đất rắc đôi bờ nhật nguyệt

Cùng sương mờ che khuất bãi sơn khê

 

Tháng tư về nhớ tháng tư hung hãn

Hàng hàng người như kiến giữa chảo rang

Lặn ngụp giữa muôn trùng trùng vây khốn

Núi non nào ghi khắc đá giải oan

 

Ghi lên đá ngày năm xưa vật vã

Để đời sau nhớ mãi tháng tư nào

Cái ảo vọng của lợi danh lắng xuống

Còn lại mình tịnh độ giữa lao xao


*


Xa chỗ em nằm

 

Dù cũng biết tháng ngày qua là gió

Là mây trôi mải miết phía đồi xa

Nhưng có lúc lòng bừng cơn dị mộng

Em đâu rồi một thuở đã lìa xa

 

Thảng thốt nhớ những ngày êm dịu ấy

Lắng sâu vào tâm thức những ngày xanh

Cái hạnh phúc nhỏ nhoi mà, có lẽ

Suốt một đời ta ngóng, rất mong manh

 

Như gió thoảng mây bay về phía núi

Cùng em trôi theo mãi tháng năm rồi

Cũng đã mấy năm ròng không nhìn thấy

Em bây chừ cũng trở bạc như vôi

 

Thấy thấp thoáng mù sương em ngày cũ

Giấc nồng phai hơi hướm lúc em còn

Dan díu với những ngày tình ấm áp

Còn hương hoa, còn bụi đỏ em qua

 

Cơn đồng thiếp giấc mơ ân ái cũ

Đã xa rồi phế tích suốt trăm năm

Hương quanh quất như là em hội ngộ

Bến bờ xa đã rời chỗ em nằm

 

Trở lại đây trên bãi sông vọng nguyệt

Một lần thôi hồn phách có quay về

Xin hãy giữ niềm yêu thương tận tuyệt

Suốt một đời ngó mãi bến trời quê.


*


quạnh hiu tôi

 

Quạnh hiu quá ngày em từ bỏ tôi

Đi xa như về phía chân trời

Mây bay trên núi chừng ngưng lại

Tôi lại mồ côi em xa khơi

 

Cũng như vết lửa khô nứt nẻ

Xước bầm cô quạnh phía không em

Thì ra em chính là đao phủ

Chém xuống đời ta những vết đau

 

Để lại trong ta hiu quạnh lớn

Trăm năm không biết có mờ phai

Như bóng chim trời bay lởn vởn

Một đời nhỏ lệ cơn mưa mau

 

Em còn trong ta hơi hướng hương

Mưa còn ướt cả lối đoạn trường

Ta cố lật từng trang cổ sử

"Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"

(Tiền Xích Bích phú của Tô Đông Pha)

 
-- Trần Yên Hòa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Chúng ta sẽ đứng lại trên mảnh đất này, Và không bỏ rơi người xa lạ giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhớ những tên người đã chết Trên đường phố Minneapolis.”
ashington bước vào mùa đông năm nay với âm thanh đứt quãng của một khúc giao hưởng chưa thành. Sau sáu năm thai nghén, bản Giao hưởng số 15 của Philip Glass — nhà soạn nhạc Hoa Kỳ được xem là người có công đưa ngôn ngữ tối giản vào đời sống âm nhạc đương đại — đáng lẽ phải vang lên tại Kennedy Center, như lời chào mừng kỷ niệm bán thế kỷ của trung tâm nghệ thuật danh tiếng này. Nhưng chỉ ít tháng trước buổi công diễn, nhạc sĩ 88 tuổi ấy tuyên bố rút tác phẩm. “Những giá trị mà Kennedy Center hôm nay biểu trưng không còn phù hợp với tinh thần của Abraham Lincoln,” ông viết, như hồi chuông cảnh tỉnh giữa một bầu không khí vốn đã nhiều sấm sét. Sự rút lui của Glass không chỉ là một “biến cố âm nhạc”; nó là một tín hiệu thời đại. Từ khi Tổng thống Trump trở lại quyền lực và đặt tên mình bên cạnh John F. Kennedy trên mặt tiền trung tâm — giới nghệ thuật thủ đô Hoa Thịnh đã không khỏi phân tâm. Một bên là danh dự nghề nghiệp, một bên là cảm thức công dân.
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.