Hôm nay,  

Trang Thơ -- Ngày Lễ Cha

17/06/202321:05:00(Xem: 2038)
Fog 48x48 2006
Tranh Nguyên Khai.



Từ “Cha” chỉ là một tên gọi khác của lòng yêu thương. (Fanny Fern)


Vâng, Yêu Thương. Hai chiều ưu ái của tình phụ tử, lời cha dạy dỗ con, lời con kính ái thương nhớ đến cha, qua thơ của các tác giả Louise Glück, Phạm Thiên Thư, Đỗ Hồng Ngọc, Thành Tôn, Nguyễn Hồi Thủ, Ngu Yên, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Thị Khánh Minh, Ko Un, như một quà tặng gửi đến tất cả những người Cha trên quả đất này nhân dịp Father’s Day. (NTKM)

 

***

 

LOUISE GLÜCK

 

Hóa Thân

 

1. Đêm

 

Thiên thần cõi chết bay

la đà trên giường của cha tôi.

Chỉ mẹ tôi nhìn thấy. Mẹ và cha

đang ở riêng cùng nhau trong phòng.

 

Bà cúi xuống để chạm vào

tay ông, trán ông. Bà đã

quá quen với việc làm mẹ

đến nỗi giờ đây bà vuốt ve xác thân ông

như bà vuốt ve những đứa con khác,

đầu tiên thật nhẹ nhàng, rồi

dần quen với đớn đau.

 

Chẳng có chi khác biệt.

Ngay cả cái đốm đen trên phổi

đã luôn luôn ở đó.

 

2. Hoá thân

 

Cha đã quên tôi

trong cơn phấn khích về nỗi chết.

Giống như một đứa trẻ bỏ ăn,

ông không còn nhận biết bất cứ điều gì nữa.

 

Tôi ngồi bên mép giường của ông

trong lúc sự sống xoay vòng quanh chúng tôi

như vô vàn gốc cây bị đốn hạ.

 

Một lần, trong một sát-na

nhỏ nhất, tôi ngỡ

ông đã hồi sinh;

rồi ông nhìn tôi

như một người mù nhìn chòng chọc

vào vầng dương kia, bởi

bất cứ điều gì nó có thể làm cho ông

đã an bài tất thảy.

Rồi khuôn mặt bừng đỏ của ông

quay lưng lại với giao ước.

 

3. Cho cha

 

Con sẽ sống mà không có cha

như con đã một lần

sống mà không có mẹ.

Cha nghĩ con không nhớ điều đó ư?

Con dành cả đời này để khắc cốt ghi tâm.

 

Giờ đây, sau quá nhiều đơn độc,

cái chết không còn làm con sợ hãi,

chẳng phải cái chết của cha, cũng chẳng phải của con.

Và mấy từ đó, lần cuối cùng,

chẳng còn sức nặng gì với con. Con biết

yêu thương mãnh liệt luôn dẫn về đớn thống.

 

Xin hãy một lần, xác thân cha đừng làm con khiếp sợ.

Thảng hoặc, tay con khẽ lướt trên mặt cha,

như một chiếc khăn lau bụi.

Giờ đây điều gì còn có thể khiến con bàng hoàng? Con cảm thấy

không lạnh lẽo nào là không thể cắt nghĩa.

Áp vào má cha, bàn tay con ấm áp

và tràn nỗi dịu dàng.

 

Linh Văn dịch.“Metamorphosis” – Từ tập thơ “The Triumph of Achilles” (1985)

(Vanviet.info)

 

*

 

NGU YÊN

 

Trên cành mộc lan

 

Cây Mộc Lan hoa trắng trước nhà nở ra tổ chim, một bầy nhụy kêu ríu rít.

Cha bay mây sớm, mẹ bay nắng trưa, thay nhau mang mồi về xây dựng phiền hà hạnh phúc.

Tất cả thực tế đều giống huyền thoại khi không thể đến gần.

Dù những chiều mưa không như nhau, nhưng nỗi buồn sẽ ướt cánh chim nhỏ.

Sao hoa Mộc Lan không đỏ?

Lớn gấp chục lần hoa ổi mẹ trồng

nhưng không có trái ăn.

Mẹ rỉa lông mỗi ngày mỗi rụng, dành dụm thành giường êm cho con nằm.

Cha nhìn trứng chưa nở có bao giờ tự hỏi mai này mưa hay nắng?

Hương Mộc Lan thơm nồng nàn.

Mẹ đẹp nhăn dần theo hoa rụng.

Ai chẳng muốn con mau lớn khôn?

Rồi thương xót khi con khôn lớn.

 

Đó là một buổi xế chiều:

Mặt trời thường xuyên cô độc cảm thấy cô đơn.

Chim già trở về tổ

mồi dở dang

không còn nhụy nào mừng rỡ.

Nắng tàn vốn đã buồn

sao trời lại thêm mưa?

 

Cây Mộc Lan lại nở hoa trắng.

Thời gian đục tổ chim những lỗ hổng tả tơi.

Những lỗ trống nhìn thấy trời xanh

mà bên trong chồng chất nhiều thương khó.

 

*

 

THÀNH TÔN

 

Nói Với Con Gái

 

1.

Con thức dậy cùng con chim sẻ non hé mồm trên mái hiên
Con nhện rề rà chăng lưới dưới chiếc nôi đung đưa
Bóng tối thẹn thùng giấu mặt
Nước đái con tinh khiết chan hòa
Con thức dậy cùng lúc con mèo thì thầm cùng con chuột nhắt
Con chó con đùa bỡn với chiếc đũa bếp
Bà nội đang vo nước gạo trong xanh vào lòng thau trắng
Mẹ nhóm đốm lửa hồng cho một ngày rực rỡ.

         

2.

Con thức dậy với đôi mắt dịu dàng của tuổi thơ cha không có
Đôi má mũm mĩm của ấu thời mẹ đánh rơi
đôi môi hồng hào ngọt dịu của thiên thần bỏ quên đêm hợp cẩn
đôi tay hào hoa vẽ vào chân không vùng trời ảo tưởng
đôi chân son thì thào gió sớm
Con thức dậy và nằm đó cùng mặt trời
Con hãy khóc lên cùng với ngày rạng rỡ
Con hãy cười cùng ánh sáng ngụy hình
hãy khóc, hãy cười cùng bà, cùng mẹ đi con.

           

3.

Cha cũng thức dậy trên chiếc giường đung đưa của bệnh xá
Trong khi những người bạn chuyền tay cây súng lạnh vọng canh ngoài
Đúng lúc tiếng súng ì ầm cùng với đất
Cha thức dậy cùng quê hương ta chan hòa máu đỏ.

         

4.

Con thức dậy cùng cha
Thức dậy cùng cha
Thức dậy để quê hương ta cùng thức.

 

*

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Những bài thơ về La Ngà

 

La Ngà 1

 

Ba không mê tín dị đoan
Không tin đồng tin bóng
Con hãy hiện hồn về
trong vi tính
Để trò chuyện cùng ba
Giữa đêm thanh vắng…

 

La Ngà 2

Ba viết trăm lần lý lịch
Cứ mỗi lần viết đến tên con
Ba lại ngẩn ngơ
Như một kẻ mất hồn
Biết trả lời sao
Câu hỏi
Hiện con đang làm gì?
Ở đâu?

 

La Ngà 3

 

Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…

 

La Ngà 4

 

Ba vun gốc trường sanh
Mẹ đặt chùm vạn thọ
Lên mộ con
Giữa ngày Mùng Một Tết

 

La Ngà 5

 

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

 

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con:

Nỗi mất!

 

(La Ngà, cô con gái yểu mệnh của nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc).

 

*

 

NGUYỄN HỒI THỦ

 

Thơ viết bên hồ

(Trích đoạn 11)

 

Đi trên đê La Thành

Dưới hàng cây xanh

Tôi nhớ đứa con vừa tròn mười bốn tháng

Ở bên kia trái đất

Con tôi đang tập nói:

Con chó con mèo

Cái bánh cái kẹo

Và những thứ ngôn ngữ riêng của nó

Tôi bế nó lên ngực

Nó hay lấy tay chỉ vào chỗ quả tim tôi

Gọi “bố”

Tôi ước ao được bế con tôi

Đi trên đê La Thành

Đi mãi mãi dưới hàng cây xanh

Như một cái gì còn sót lại

Của cuộc đời vừa đánh mất

*

 

PHẠM CAO HOÀNG

 

Cha Tôi

 

và bài thơ tôi viết đêm nay

là bài thơ sau bốn mươi năm

kể từ hôm vượt đèo Ngoạn Mục xuống Sông Pha

chạy ra Tuy Hòa

trở vô Sài Gòn

và nhận tin cha tôi đã chết

ông qua đời khi chiến tranh kết thúc

để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi  

để lại đàn con trên quê hương tan tác   

để lại trong tôi vết thương mang theo suốt cuộc đời

 

bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!

ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng

ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa

những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương

rồi mùa thu cha đưa con đến trường

con thương ngọn gió nồm

mát rượi tuổi thơ những ngày đầu đi học

đi ngang qua Duồng Buồng (*) bọn nhỏ trong thôn vẫn thường trêu chọc:

chiều chiều ngọn gió thổi lên

học trò Thầy Bốn chẳng nên đứa nào

thương cha một đời lận đận lao đao

cầm lấy chiếc cày để tay con được cầm cuốn sách

thương chiếc áo cha một đời thơm mùi đất

thương đất quê mình thơm mãi mùi hương

rồi mùa thu cha đưa con đến trường

con thương những con đường

cha đã dẫn con đi về phía trước

con vẫn còn đi sao cha đành dừng bước

bốn mươi năm trời con thương nhớ, cha ơi!

 

(*) Duồng Buồng: tên một lối đi trong thôn Phú Thứ (Tuy Hòa, Phú Yên).

 

*

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

 

Nhớ Cha

 

Một mình. Đọc kinh đêm nay

Tiếng chân cha ở cuối ngày âm vang

Ngồi đây lắng hết đêm tàn

Con nghe cả nỗi dặm ngàn. Cha đi…

 

*

 

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

 

Cha

 

Khi những làn sương muối,

Pha màu trên tóc Cha,

Như ngàn cơn sóng bạc,

Trườn lên miền biển cả.

Khi thời gian đọng lại,

Nếp chùng gương mặt Cha,

Như nẻo đường thơ ấu,

Một thời con đi qua.

Là khi con lớn lên,

trong niềm tin nguyên vẹn,

lòng bâng khuâng hò hẹn,

cùng mơ mộng không tên.

Nhưng đời như lưới nhện,

giăng từ buổi ban sơ,

Nhưng đời như mũi tên,

chờ con tự bao giờ…

 

Làm sao đau đòn roi,

Cha cho con tuổi nhỏ.

Làm sao buồn cơn giận,

Cha cho con ngày thơ.

Khi lưng con đã hằn,

ngọn roi đời khôn nguôi.

Và khi con mất hẳn,

lòng bao dung của người.

 

Ôi! Lời Cha sớm trưa,

vang lừng trong trí nhớ.

Xưa ghi vào trang vở,

nay ghi vào nắng mưa…

Khi bao điều nghĩa nhân,

chỉ là ngôn ngữ lạ.

Khi bao người biển lận,

hóa thân là thiên thần!

 

Dù thời gian qua mau,

con mãi là trẻ nhỏ,

con mãi là ngọn cỏ,

làm sao choàng núi cao.

Con mãi là chim non,

làm sao qua hết biển.

Con muôn đời bé mọn,

làm sao vào Vô biên …

 

(Tuyển Thơ Chân Dung)

 

*

 

PHẠM THIÊN THƯ

 

Động Hoa Vàng

(Trích đoạn 95)

 

Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

 

*

 

KO UN

 

Đêm Thu

 

Cha ơi

Cha ơi

 

Một con dế đang hát…

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.