Hôm nay,  

Tính dân tộc trong âm nhạc Lê Văn Khoa

11/06/202308:40:00(Xem: 3302)
003
Từ trái: MC Diệu Quyên, Ca sĩ Ngọc Hà (phu nhân NS Lê Văn Khoa), Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, MC Nguyễn Kim-Ngân, MC Thụy Vy trong buổi Vinh Danh và Mừng Thượng Thọ 90 tuổi của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa tại Orange County, California, hôm 10 tháng 6 năm 2023.


Trước hết, xin gửi lời chúc mừng đến Giáo sư Lê Văn Khoa nhân ngày lễ mừng thượng thọ, sinh nhật thứ 90 của ông.
 
Kính thưa quý vị:
 
Lê Văn Khoa là một tên tuổi không xa lạ trong cộng đồng Việt Nam chúng ta bởi những hoạt động văn hoá-giáo dục của ông trải dài liên tục suốt mấy thập niên từ trước 1975 ở miền Nam Việt Nam cho đến tận ngày nay ở hải ngoại. Ông là một nghệ sĩ lớn, một người đa tài, đa năng, đa diện, một nhà văn hoá, một nhà giáo dục, một người yêu nước, một người mà quý vị cũng như tôi hằng kính phục và kính trọng. Kính phục bởi tài năng của ông và kính trọng bởi nhân cách của ông. Thật là một vinh hạnh lớn lao cho tôi được đứng đây chiều nay nhân ngày mừng thượng thọ và vinh danh ông trước một cử toạ chọn lọc để nói đôi điều về một khía cạnh mà tôi cho là khá quan trọng và nổi bật trong suốt quá trình sáng tác âm nhạc của Lê Văn Khoa. Đó là: “Tính dân tộc trong âm nhạc Lê Văn Khoa.”
 
Theo định nghĩa thông thường thì tính dân tộc trong âm nhạc là “sự chú trọng và sử dụng các yếu tố dân tộc như nhạc điệu, vũ điệu dân gian hoặc những đề tài liên quan đến lịch sử quốc gia, dân tộc trong quá trình sáng tác âm nhạc.” Nếu đồng ý như thế thì chúng ta thấy rõ âm nhạc Lê Văn Khoa đã lấy bản sắc và lịch sử của dân tộc Việt Nam làm trọng tâm trong sáng tạo nghệ thuật. Thật ra nó là giấc mơ mà ông suốt đời miệt mài theo đuổi để biến thành hiện thực, giấc mơ làm thế nào để nhạc Việt có thể đi sâu vào dòng chính của âm nhạc thế giới, làm thế nào để nhạc Việt vang vọng – và lấp lánh qua đó là bản sắc văn hoá Việt – từ các đại thính đường trang trọng khắp nơi. Với niềm tin tưởng bền bỉ, sâu sắc vào tiềm năng của nhạc Việt, ông bỏ công lao tìm tòi, nghiên cứu, san định, hệ thống hoá, tìm hiểu phần tinh tuý cốt lõi của nhạc Việt để từ đó có thể chắt lọc dùng làm chất liệu sáng tác. Ông hiểu ưu, khuyết điểm của nó. Và trên hết, lòng yêu quê hương, tình cảm đậm đà tha thiết với đất Mẹ, đã khiến ông luôn luôn gắn bó với âm nhạc dân tộc. Đối với ông, nó chính là hồn phách của đất nước Việt Nam. Ông từng có lần tâm sự như sau:

Mục đích của tôi là muốn dùng những nét nhạc hết sức đơn sơ của Việt Nam mà mình có thể biến hoá để người nước ngoài có thể dùng được. Bằng cách đó, mình đưa nhạc Việt đi xa hơn để hoà vào dòng nhạc thế giới.”
 
Bản sắc Việt hiển lộ trong hầu hết những khúc nhạc dài ngắn khác nhau của ông, từ đại tấu khúc giao hưởng “Symphony Viet Nam 1975” mà ông đã bỏ ra mười năm trời ròng rã mới hoàn tất, cho đến tấu khúc ngăn ngắn dễ thương “Con chuồn chuồn” ông viết cho piano solo. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa quả đã có những đóng góp to tát cho nền âm nhạc Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XX, nửa đầu thế kỷ XXI này. Ảnh hưởng của ông đến các thế hệ tương lai chắc chắn là không nhỏ. Lịch sử âm nhạc Việt Nam sẽ không toàn vẹn nếu không nhắc đến ông.
 
Đại tấu khúc giao hưởng Việt Nam 1975 của ông hiện nay được tàng trữ trong Bảo tàng viện Quốc gia Úc. Hiển nhiên, nó đã trở thành gia sản văn hoá nhân loại. Nhạc của ông được đón nhận nồng nhiệt tại nhiều nơi trên thế giới kể cả kinh đô âm nhạc Vienna, nơi lần đầu tiên nhạc piano của một nhà soạn nhạc Việt Nam được trình diễn. Mối giao tình tốt đẹp giữa ông và giàn nhạc giao hưởng thành phố Kyiv quốc gia Ukraine cũng là chất xúc tác để ông cho ra đời những tấu khúc với nhạc đề là những bài dân ca Việt Nam như “Cái Trống Cơm”, “Se Chỉ Luồn Kim”, “Lý Ngựa Ô” viết cho đàn bandura – một nhạc cụ cổ truyền của dân tộc Ukraine – và giàn nhạc giao hưởng. Tên tuổi ông đi vào lịch sử âm nhạc đất nước này.
 
Trên đây chỉ là một vài thành tựu tiêu biểu của Lê Văn Khoa, nhưng cũng đủ cho người Việt chúng ta hãnh diện với thế giới. Hãnh diện nhưng cùng lúc thấy buồn cho đất nước Việt Nam, bởi vì, thật là oái oăm, một người yêu quê hương như ông lại không được sinh sống trên mảnh đất nơi mình chôn nhau cắt rốn. Bởi không chấp nhận một chế độ độc tài toàn trị, ông đành phải chọn cuộc sống lưu vong. Và, điều đó có nghĩa là ngày nay người Việt Nam trong nước không ai có cơ hội thưởng thức nhạc của ông. Không có những chương trình hoà nhạc Lê Văn Khoa tại các thính đường Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Cần Thơ. Không có những buổi nói chuyện, trao đổi giữa Lê Văn Khoa và sinh viên các nhạc viện khắp nơi trên đất nước. Có ai nghĩ đấy là một thiệt thòi lớn cho dân Việt không? Riêng tôi, tôi nghĩ thế. Nhưng lịch sử của dân tộc cho thấy là không một triều đại hoặc một thể chế chính trị nào tồn tại mãi mãi, những tranh chấp phân liệt dù tàn bạo đến đâu chăng nữa cuối cùng cũng phải nhường chỗ cho lẽ phải và tình thương. Nghệ thuật – không phải chính trị – mới là cái gì trường tồn, lưu lại mãi mãi trong suốt chiều dài lịch sử và tôi tin tưởng một ngày không xa những nghệ phẩm của Lê Văn Khoa sẽ trở về kho tàng văn hoá dân tộc.

 

Xin cảm ơn quý vị.

 

– Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.