Hôm nay,  

Tháng Tư, kể chuyện trại tỵ nạn

06/04/202308:21:00(Xem: 4451)
Truyện

IMG_5057

NGHÈO MÀ VUI

 

Bữa đó, vừa mới nhập trại Panatnikhom được vài ngày, bốn đứa chúng tôi đang nằm tán dóc trong nhà thì nghe tiếng bước chân rầm rầm ngoài cửa. Chúng tôi nhìn ra thì thấy bác nhà trưởng và một số người khác đứng lố nhố, những bộ mặt vô cùng nghiêm trọng, nặng nề còn hơn trong “Cái Đêm Hôm Ấy, Đêm Gì?”  của Phùng Gia Lộc. Họ nhìn quanh “nhà” rồi nhìn chúng tôi như “đánh giá, tìm hiểu, dò xét”, rồi một người lên tiếng:
      – Đây có phải là nhà cô Hảo, trước đây bán thịt heo ở chợ Xóm Mới không?
      Úi trời ơi, sao mà giống như công an khu vực đi khám hộ khẩu tạm trú tạm vắng, hỏi cung lý lịch thời cộng sản thế? Đây là trại tỵ nạn mà! Chẳng lẽ vượt biên tới trại mà vẫn chưa thoát sao? Chúng tôi xanh mặt, lắp bắp:
      – Dạ... dạ... đúng! Có việc gì không mấy chú?
      Bấy giờ chú nhà trưởng mới nhoẻn miệng cười:
      – Mấy cô làm gì mà … căng thẳng thế? Chả là hôm nay trại phát thịt heo, nhờ cô Hảo ra chia thịt giùm lô mình, được không?
      Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm:
      – Trời! Vậy mà mấy chú làm tụi con hết hồn à, cứ tưởng mình đang bị “đánh tư sản” năm 1979 hoặc sắp bị “đấu tố” như thời Cải Cách Ruộng Đất chết tiệt ấy chớ!
      – Tự mấy cô ám ảnh, chớ ai làm gì đâu nà! Mà cô Hảo có giúp chia thịt cho lô mình được không?
      – Dạ được, mà ủa, vậy trước đây khi tụi con chưa nhập trại thì ai lo phần chia thịt?
      – Thì tui là nhà trưởng tui phải làm. Nhưng không có tay nghề, thành ra thịt bị nát bấy, chả ra đâu vào đâu, nhờ cô vui lòng giúp.
      Chị Hảo đứng lên, chúng tôi bước theo sau. Không biết các bà bán thịt heo khác thì sao, chứ chị Hảo có dáng đi rất từ tốn, thong thả và đĩnh đạc. Ra tới giữa lô nhà, đám đông vây quanh tảng thịt tự động dãn ra, nhường lối cho chị Hảo tiến vào với những cặp mắt đầy ngưỡng mộ.
Bác nhà trưởng trịnh trọng trao cho chị Hảo con dao phay, chị đón lấy và ngồi xuống thao tác. Dân trong nghề có khác, chỉ một loáng là thịt ra đủ loại, từ chân giò, móng, ba rọi, sườn non, nạc dăm… chia đều cho mấy chục phần. Còn dư một mớ xương heo, bác nhà trưởng hăng hái nhảy ra giữa lô thông báo:
      – Tui thấy bịch xương này không đủ chia cho cả lô, thôi thì xin tặng cho nhóm cô Hảo vì đã giúp chúng ta, bà con thấy sao?
      Đám đông vui vẻ vỗ tay đồng ý. Tôi sung sướng nghĩ đến nồi canh xương chiều nay, thì chị Hảo chờ dứt tiếng vỗ tay mới chậm rãi mỉm cười:
       – Thưa bà con cô bác, bốn đứa chúng cháu còn trẻ tuổi, sức dài vai rộng, lại có thân nhân nước ngoài tiếp tế, nên xin được nhường phần xương này cho bác nào lớn tuổi neo đơn, hoặc gia đình nào có con nhỏ mà không có thân nhân viện trợ. Quyết định vậy đi nhe!
       Chẳng chờ mọi người phản ứng, chị bước đi về, ba đứa chúng tôi nối đuôi theo chị, hình như mặt mũi nở ra “đầy tự hào” trong khi mọi người còn ngơ ngác, chưa nói được lời cảm ơn.
Tôi chẳng tiếc nồi canh xương nữa, (dù biết bữa cơm chiều nay vẫn là cơm Cao Uỷ với mì gói vì chưa liên lạc được thân nhân nước ngoài), nhưng trong lòng bỗng vui dạt dào, đời tỵ nạn “nghèo mà có chút ... máu điên” thật là tuyệt vời!
 
CHUYỆN ĐỘNG TRỜI… GIỜ MỚI KỂ
 
Bỗng một hôm, cách vài lô nhà nơi tôi ở, xuất hiện một “căn nhà khủng” được bao bọc kín mít, cửa sổ cửa cái không bao giờ mở. Gọi đó là “căn nhà khủng” vì bình thường một lô nhà được chia cho khoảng 40–50 dân tỵ nạn, rồi mạnh ai mua miếng nilon về ngăn riêng ra mà ở, nhưng lô đất đó chỉ có một căn, bên trong chứa mấy người, họ là ai (chả lẽ ở trại tỵ nạn cũng có ... đại gia nữa sao?), chẳng ai biết được!!!
      Sáng hôm đó, rất tình cờ, tôi vừa đi ngang qua căn nhà ấy thì cánh cửa bỗng hé mở, một chàng thanh niên đeo máy chụp hình bước ra, đụng mặt tôi, anh ta hơi khựng lại, nhìn tôi mỉm cười. Tôi thấy nụ cười thân thiện, dễ mến nên tiến đến ngay cửa căn nhà (vốn bản tính tò mò, nhiều chuyện... chưa bỏ được), rồi nhìn vào trong nhà (rất nhanh như chớp, nên anh ta không kịp cản). Tôi thấy một người đàn ông đứng tuổi, cỡ xấp xỉ 60, tóc muối tiêu, đeo cặp kiếng trắng. Trong nhà, chỉ có cái giường gỗ, cái bàn gỗ và mấy thùng cạc tông chứa đồ còn dán đầy băng keo, chưa khui. Thấy tôi, người đàn ông hơi sững sờ, lúng túng, nhưng cũng mau chóng đổi thái độ, gật đầu chào. Người thanh niên lúc ấy vội vàng nói: “Ba tôi đó” rồi kéo tôi bước ra đường cái, bắt chuyện:
      – Nhà cô ở khu nào?
      – Khu này chớ đâu, tôi đang trên đường đi làm thiện nguyện ở bưu điện ngay đầu lô này nè. Còn nhóm tàu của anh nhập trại lúc nào mà im ru vậy, nhìn mặt anh lạ hoắc, chắc là anh chưa lên bưu điện lãnh thư? và số PST (căn cước tị nạn) số mấy?
      Anh ta ngập ngừng:
      – Tôi… tôi... chưa có số PST.
      – Vậy anh đến từ trại nhỏ nào?
       Anh ta ngạc nhiên:
      – Trại nhỏ là sao?
      – Anh ngây thơ thiệt không đó? Dân mình đi vượt biên, cập bờ biển nào thì được lính Thái hay cảnh sát Thái vùng đó giam giữ vài tuần, chờ làm thủ tục giấy tờ với Cao Uỷ rồi mới được chuyển lên trại Panatnikhom này. Nơi đầu tiên mình đến là trại nhỏ, anh hiểu chưa? Hổng lẽ anh từ trên trời rơi xuống đây hả?
      Anh ta hiểu ra, bật cười, rồi lại ấp úng:
      – Ừ… tôi từ trên trời xuống đó. Tôi đến đây từ Bangkok!
      Nói xong, biết đã lỡ lời, anh ta chuyển ngay đề tài:
      – Cô à, tôi đang tập chụp hình, mà chưa tìm được người mẫu, nếu cô đồng ý tôi sẽ chụp hình cho cô. Bữa nào tôi và cô đến khu đất đẹp nhất gần cổng trại để chụp nha, gọi là thực tập miễn phí, đôi bên cùng có lợi, chịu không?
      – Miễn phí thì… chịu! Chắc chắn tôi sẽ đi mượn vài bộ đồ đẹp, và trang điểm sơ sơ, chớ ai lại chụp hình với bộ đồ Cao Uỷ này?!
      – Đồng ý, khi nào cô sẵn sàng thì cho tôi biết.
      – Nhưng nhà của anh "kín cổng cao tường" quá, làm sao tôi với tới, í lộn, làm sao để gặp anh?
      – Ừ thì mỗi sáng tôi sẽ đứng đây đợi cô, nếu không thấy, tôi sẽ đi loanh quanh, trại nhỏ xíu mà.
      – À mà nè, tôi qua trại với ba cô bạn thân, chúng tôi ở chung nhà, vậy anh chụp luôn cho bốn đứa, được không?
      Anh ta bật cười, xua tay:
      – Í, đâu dễ dàng như vậy được, tôi và cô chỉ mới ký "hợp đồng" chụp một mình cô thôi mà! Thôi cứ chụp cô trước, rồi sau đó tính tiếp.
      – Anh hứa rồi đó!
      – Nhưng cô nhớ đừng để tôi chờ lâu nhé, cái máy này tôi mới mua ở Bangkok, cô sẽ là người... khai máy đầu tiên!
      Tôi mắc cỡ cười duyên trong khi anh ta giơ máy chụp hình về phía ánh nắng hừng đông vừa lấp ló ngoài hàng rào trại rồi nháy mắt nhìn tôi cười vui vẻ:
      – Máy đã sẵn sàng rồi đấy, chỉ còn chờ người mẫu thôi.
      Câu chuyện tới đó thì đứt ngang, vì hình như có tiếng gọi của ba anh ta từ trong nhà vọng ra, anh ta liền chào tạm biệt tôi, cả hai chưa kịp hỏi tên nhau.
      Bỗng nhiên, vài hôm sau, tôi ngỡ ngàng phát hiện ra căn nhà đó đã biến mất, cũng im ru bà rù như khi nó xuất hiện, như chưa từng có mặt nơi này. Mọi thứ đã được dọn đi, chỉ còn trơ lại lô đất xi măng trống trọi. 
      Tôi đem chuyện này tường thuật tỉ mỉ cho mấy anh cùng làm chung trên bưu điện. Nối kết những chi tiết của tôi kể, và các tin tức mà một anh trong bưu điện nghe rỉ tai từ một người làm trong Ban An Ninh trại, chúng tôi đã tìm ra sự thật.
      Những người trong căn nhà đó, hay nói đúng hơn là người bố của chàng thanh niên, là một “tội phạm kinh tế” trong vụ đại án “Nước Hoa Thanh Thương” của đại gia Nguyễn Văn Mười Hai đang rúng động cả Sài Gòn. Chẳng hiểu thế lực nào đã giúp họ bay qua Bangkok, mua chuộc được Bộ Nội Vụ Thailand, rồi được đưa vào trại tỵ nạn Panatnikhom, là nơi ẩn náu hợp pháp và an toàn, để trốn lệnh truy nã của nhà cầm quyền Việt Nam? Rồi họ sẽ được đậu thanh lọc (có tiền mua tiên còn được, nói gì chuyện đậu thanh lọc) và sẽ đường hoàng lên máy bay định cư một nước thứ ba nào đó, sạch tội ngon ơ!
      Tự dưng tôi bỗng rùng mình. Chẳng lẽ nào vì cái tật “tò mò nhiều chuyện” của tôi khiến gia đình họ cảm thấy bị bại lộ tông tích nên đã vội vã di chuyển đến một nơi khác an toàn hơn, không xui xẻo gặp mấy... “bà Tám” như tôi?
      Tôi chợt nhớ lại thái độ bối rối, hơi khó chịu và nụ cười gượng gạo của ông bố khi bất ngờ nhìn thấy tôi lấp ló ngoài cửa. Mấy anh đồng nghiệp trên bưu điện bảo đảm với tôi rằng, hẳn là sau đó chàng thanh niên đã bị bố mắng cho một trận, vì giữa lúc chạy trốn lệnh truy nã đầy "nguy nan", "dầu sôi lửa bỏng" mà còn... mê gái!
      Nghĩ tới đó, mồ hôi hột của tôi vã ra như tắm. May mà tôi là “bà tám nhiều chuyện” ở trại tỵ nạn Thailand, chứ nếu xảy ra tại Việt Nam, sớm muộn gì tôi cũng bị thủ tiêu để bịt đầu mối, ví dụ như một vụ đụng xe hay biết đâu là một vụ… té lầu chớ chẳng chơi.

      Hú hồn!

 

Kim Loan

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.