Hôm nay,  

Tôi có tội không?

16/03/202318:18:00(Xem: 2219)

Truyện dịch

Wind


Luật sư biện hộ cho đây là do bệnh tâm thần gây nên. Có cách nào khác để giải thích cuộc mưu sát kỳ lạ này không?

 

Một buổi sáng, gần Chatou, người ta tìm thấy hai cái xác đang ôm nhau, trong đám lau sậy, một nam và một nữ, hai người có tiếng trong xã hội, giàu có, họ cũng khá lớn tuổi, mới cưới nhau năm ngoái, người đàn bà vừa góa bụa ba năm nay. Họ sống bình thường, không có người nào thù ghét họ, và họ đã không bị cướp. Có vẻ như thủ phạm đã ném họ từ bờ xuống dòng sông, sau khi đã đánh đập họ bằng một cây sắt dài.

Cuộc điều tra không khám phá được điều gì. Khi thẩm vấn những người đánh cá ở nhánh sông, họ đều trả lời là không biết gì; các cảnh sát viên đang tính ngưng cuộc điều tra thì một người thợ mộc trẻ ở làng bên cạnh, tên là Georges Louis, thường được gọi là "Trưởng Giả", tự động đến đầu thú.

 

Khi được hỏi nhiều câu, và nhiều lần, anh ấy chỉ trả lời:

 

– Tôi quen người đàn ông này được hai năm, người phụ nữ được sáu tháng. Họ thường đến nhờ tôi sửa bàn ghế cũ hư vì tôi rất khéo tay trong nghề này.

 

Và khi được hỏi: 

 

– Tại sao anh lại giết họ?

 

Anh trả lời một cách ngoan cố:

 

– Tôi giết họ vì tôi muốn giết họ.

 

Cảnh sát không thể biết thêm được bất cứ điều gì khác. Người này khi còn bé có lẽ là một đứa trẻ ngoài giá thú, trước đây được gởi cho vú nuôi ở nông thôn, rồi sau đó bị bỏ rơi. Anh ta chỉ có một tên là Georges Louis, nhưng khi lớn lên, anh ta trở nên thông minh khác thường, với phong cách và sự tinh tế bẩm sinh không tìm thấy ở các bạn bè cùng trang lứa trong làng, nên họ đặt biệt danh cho anh là: “Trưởng Giả", và mọi người chỉ gọi anh ta bằng tên ấy thôi. Anh ta được xem là rất khéo léo trong nghề thợ mộc mà anh đã theo học.

 

Thậm chí anh đã làm một số tượng điêu khắc. Anh cũng được cho là rất nhiệt tình, là người ủng hộ các học thuyết cộng sản và cả chủ nghĩa hư vô, một độc giả đam mê tiểu thuyết phiêu lưu, và tiểu thuyết có tình tiết đẫm máu, một cử tri có uy thế và diễn giả tài ba trong các cuộc họp của thợ thuyền hoặc nông dân.

 

Luật sư cho rằng việc đó xuất phát từ bệnh tâm thần của anh.

Thật vậy, làm sao có thể chấp nhận rằng người thợ này đã giết những khách hàng vào bậc nhất của mình, những người giàu có và hào phóng (anh ta thừa nhận điều đó), họ đã trả những ba ngàn đồng trong hai năm qua (sổ sách của anh đã chứng minh điều ấy).

 

Chỉ có một lời giải thích duy nhất: trong một lúc anh không tự chủ được mình, và định kiến của kẻ không thuộc vào đẳng cấp nào của xã hội, muốn trả thù hai người tư sản của tất cả bọn tư sản; và viên luật sư khéo léo ám chỉ đến cái biệt hiệu “Trưởng Giả” mà người trong làng đặt cho kẻ bị bỏ rơi này; ông ấy can thiệp:

 

– Thật là một điều trớ trêu, và lại thêm một động lực cho cậu bé bất hạnh không cha cũng không mẹ kia! Anh là một đảng viên Cộng hòa, đảng mà đơn giản đốt nhà là một nguyên tắc và giết người là một phương tiện.

 

Những luận thuyết đau buồn ấy giờ đây đã được đón nhận trong những buổi hội họp, đã khiến cho người bạn đây mất phương hướng. Anh ta đã nghe những phụ nữ, vâng chính những phụ nữ muốn đòi nợ máu nào là ông Gambetta này, ông Grevy nọ; đầu óc bệnh hoạn của anh đã chao đảo; anh chỉ muốn đòi nợ máu của giới trưởng giả!

 

Kẻ bị buộc tội không phải là anh ta, thưa quý tòa, mà chính là Cộng đồng!

 

Dưới cử tọa râm ran tiếng tán thành lập luận của luật sư. Có vẻ như ông ta đã thắng kiện.

 

Công tố viên không có phản ứng gì.

 

Quan toà liền đặt câu hỏi thường tình:

 

–  Bị cáo, anh có thêm gì để bào chữa không?

 

Anh ta người nhỏ thó, tóc vàng ươm, đôi mắt trong xám, ánh mắt nghiêm nghị. Vừa nghe thấy anh cất tiếng nói là những ý nghĩ không tốt về anh tan biến mất. Giọng anh to và chững chạc, dùng lời lẽ có vẻ hoa mỹ nhưng rất rõ ràng đến cuối căn phòng rộng lớn người ta cũng có thể nghe được:

 

– Thưa quan toà, tôi không muốn vào nhà thương điên, tôi muốn bị treo cổ hơn, nên tôi sẽ khai tất cả sự thật. Tôi đã giết người đàn ông và người phụ nữ ấy bởi vì họ là cha mẹ của tôi.

Bây giờ, xin hãy nghe và phán xét tôi. Một người đàn bà sinh ra một bé trai và gởi nó đi một nơi xa giao cho vú nuôi. Bà ấy có biết rằng người a tòng với bà đã đem sinh vật nhỏ bé vô tội kia đi đâu, sống một cuộc sống đốn mạt như thế nào, lý do là sự nhơ nhuốc của một đứa con không hợp lệ, và còn tệ hơn thế nữa: nó gần kề với cái chết, bởi vì nó đã bị bỏ rơi, người vú nuôi không còn nhận được phụ cấp, để cho nó chết mòn, đói khát, không ai chăm sóc? Người phụ nữ nuôi tôi thật sự là một người tốt, thật sự tốt, cao cả, có đức tính phụ nữ, có tình mẫu tử hơn người đã sinh ra tôi, người mẹ của tôi. Bà ấy đã nuôi nấng tôi; bà ấy đã sai khi làm bổn phận của bà. Có lẽ tốt hơn là nên để cho những kẻ khốn cùng như tôi tiêu tùng, bị ném đến những ngôi làng ở ngoài thành, y như người ta vứt rác ra ngoài bìa rừng.

 

Tôi lớn lên với cảm giác mơ hồ là tôi mang một nỗi nhục nào đó. Một hôm các bạn gọi tôi là “con hoang”. Chúng không hiểu từ đó có nghĩa gì, một đứa nào đã nghe ba mẹ nó nói; tôi cũng không hiểu rõ, nhưng tôi cảm nhận được.

 

Tôi có thể nói cho quý vị biết tôi là một trong những học trò thông minh nhất trong làng. Thưa quan tòa, tôi có thể là một người lương thiện, một con người cao thượng, nếu như cha mẹ tôi không phạm trọng tội là bỏ tôi. Trọng tội ấy, chính họ đã phạm với tôi; tôi là nạn nhân, họ là thủ phạm. Tôi không được bảo vệ, còn họ thì không có được sự tha thứ.

 

Đáng lý ra họ phải thương yêu tôi: đằng này họ đã ruồng bỏ tôi. Tôi có được cuộc sống là nhờ họ, nhưng cuộc sống có phải là món quà không? Đối với tôi, dù sao đi nữa, cuộc sống chỉ là tai họa. Sau khi bị họ bỏ rơi một cách nhục nhã, điều mà tôi chỉ có thể đáp lại là trả thù… Và với tôi, họ đã thực hiện hành động vô nhân đạo nhất, kinh khủng nhất, bỉ ổi nhất đối với một sinh vật.

 

Tôi đã bị cướp, bị lừa dối, bị đọa đày, bị xúc phạm, bị sỉ nhục, hơn tất cả những người mà quý vị có thể du di tha thứ được.

Tôi đã trả thù, tôi đã giết. Đó là quyền hợp lý của tôi. Tôi đã lấy đi cuộc sống hạnh phúc của họ để bù lại cuộc sống khủng khiếp mà họ đã buộc tôi phải sống.

 

Quý vị cho tôi là phạm tội giết cha mẹ ư! Họ có phải là cha mẹ tôi không, hay tôi chỉ là một gánh nặng ghê tởm, một nỗi kinh hoàng, một vết nhơ nhớp; sự ra đời của tôi là một tai họa, và cuộc sống của tôi là một mối đe dọa cho họ? Họ chỉ biết lòng ích kỷ; họ đã có một đứa con không mong đợi. Họ vứt bỏ đứa trẻ. Bây giờ đến lượt tôi cũng làm như vậy đối với họ.

Quý vị biết không, ngay cả thời gian gần đây tôi cũng có cảm tình với họ. Cách đây hai năm, người đàn ông ấy, lần đầu tiên cha tôi đến nơi tôi làm việc. Tôi không nghi ngờ điều gì, ông đặt làm hai cái tủ. Sau đó tôi biết được qua cha xứ rằng ông ấy đã lần mò tìm ra tin tức của tôi. Rồi ông ấy trở lại vài lần, và trả tiền rất khá cho tôi, có khi nói chuyện này nọ, và tôi thấy mình có cảm tình với ông. Rồi sau đó ông đem vợ của ông đến, bà mẹ của tôi. Khi bà mới bước vào cửa, bà ấy run rẩy dữ dội làm tôi tưởng bà ấy lên cơn bịnh thần kinh. Rồi bà ngồi, và uống nước, và trả lời không đầu đuôi mỗi khi ông ấy hỏi điều gì. Khi họ ra về, tôi nghĩ bà ấy có vẻ lẩn thẩn rồi.

 

Sau đó họ trở lại vài lần.Tôi cũng không đoán biết điều gì; nhưng bỗng một hôm bà ấy hỏi về cuộc sống của tôi, về tuổi thơ, về cha mẹ của tôi. Tôi trả lời: “Thưa bà, cha mẹ tôi là những kẻ khốn nạn đã bỏ rơi tôi!” Vừa nghe như thế, bà ấy ngã ra bất tỉnh. Tôi liền biết ngay đây là mẹ của mình, nhưng bề ngoài tôi không lộ vẻ gì khác thường. Tôi muốn bà ấy sẽ trở lại.

 

Về phần tôi, tôi đi hỏi thăm đây đó và biết rằng họ mới cưới nhau vào tháng bảy vừa rồi, bà ấy mới trở nên góa bụa từ ba năm nay. Người làng bàn tán rằng hai người này đã đi với nhau từ lúc người chồng trước của bà còn sống, nhưng không ai có bằng chứng. Chính tôi là bằng chứng, một bằng chứng mà lúc đầu người ta giấu nhẹm đi, rồi sau đó hy vọng sẽ tiêu huỷ.

 

Tôi đợi chờ. 

 

Một buổi tối, bà ấy đến, và cha tôi cũng đi cùng. Hôm ấy bà có vẻ xúc động hơn thường ngày, tôi không hiểu tại sao. Lúc ra về, bà nói: “Ta muốn cho chú mày sống tốt, vì chú mày có vẻ lương thiện và siêng năng; một ngày nào đó chú em sẽ cưới vợ, và ta sẽ giúp chú em tìm một cô gái thích hợp với chú, một lần ta đã bị ép gả cho một người mà ta không thích, và ta đã biết thế nào là đau khổ. Bây giờ ta giàu có, và không có con. Ta tặng chú món tiền để làm vốn”. Bà đưa cho tôi một bì thư lớn có niêm phong. Tôi nhìn bà chằm chằm và hỏi: “Bà là mẹ tôi phải không?” Bà bước lùi ra xa và lấy tay che mặt để khỏi nhìn thấy tôi. Còn ông ấy, người cha của tôi, vịn đỡ bà và la lên: “Mày điên rồi à!” Tôi trả lời: “Tôi không hề điên chút nào, thưa ông. Tôi biết rõ ông bà chính là cha mẹ của tôi. Không dễ lừa tôi đâu. Hãy thú thật điều đó, và tôi sẽ giữ bí mật, tôi không làm gì ông bà đâu; tôi vẫn là một người thợ mộc như hiện nay, sẽ không có gì thay đổi”.

 

Ông ấy thụt lùi phía cửa, vẫn ôm bà vợ đang khóc. Tôi liền chạy đến khóa trái cửa lại, cất chìa vào túi quần, và nói tiếp:  “Hãy nhìn bà ta đi và tiếp tục chối rằng bà không phải là mẹ của tôi”. Ông ấy liền nổi giận, mặt mày xanh lét, kinh hoàng vì nghĩ rằng việc im lặng từ xưa nay bây giờ có thể bùng phát tai tiếng, và trong một thoáng thì danh dự của họ sẽ bị tan nát, ông ấy lắp bắp: “Mày chỉ là đồ vô lại, mày muốn làm tiền phải không?” Mẹ tôi thì cuống cuồng không ngớt la lên: “Thôi ta hãy đi thôi, đi về nào!” Rồi khi thấy cửa đã bị khóa, ông ấy hét lên: “Nếu mày không mở cửa ra, tao sẽ cho tống mày vào tù về tội đe dọa và bạo lực!” Tôi mở cửa ra và họ liền lao vào trong đêm tối.

 

Và bỗng dưng tôi cảm thấy mình vừa mới bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị ném vào cống rãnh. Một cảm giác u buồn não nề, chen lẫn hận thù ghê tởm, xâm chiếm lấy tôi; trong tôi bỗng dấy lên sự đòi hỏi về công lý, chính nghĩa, danh dự, khi tình cảm bị từ chối.

 

Tôi chạy nhanh theo dọc bờ sông Seine vì họ phải theo con đường ấy để đến nhà ga. Chẳng mấy chốc tôi đã đuổi theo kịp họ.

 

Bây giờ màn đêm đã trở nên dày đặc.

 

Tôi bước đi nhè nhẹ, rón rén trên cỏ để họ không nghe thấy. Mẹ tôi vẫn khóc nức nở. Cha tôi thì nói: “Lỗi của em đó. Tại sao em cứ nằng nặc đòi đến thăm nó? Với tình trạng hiện nay của chúng ta, đó là một việc điên rồ. Chúng ta có thể lo cho nó mà không cần phải chường mặt đến như thế. Chúng ta không thể nào nhận nó làm con một cách chính thức, tại sao phải dấn thân vô những việc nguy hiểm như thế?” Nghe đến đây, tôi liền lao đến trước mặt họ, dáng điệu cầu khẩn. Và tôi lắp bắp:

“Thấy chưa, ông bà thật sự là cha mẹ của tôi rồi. Trước đây các người đã vứt bỏ tôi, bây giờ các người còn muốn hắt hủi tôi nữa sao?” Thế rồi, dạ thưa quan toà, ông ấy đã giương cao cánh tay lên, tôi xin lấy danh dự mà thề, trên luật pháp, trên chính quyền, thưa quý vị, và ông giáng xuống người tôi. Vâng ông ấy đã đánh tôi, và khi tôi nắm lấy cổ áo ông ta, ông rút khẩu súng lục từ túi ra.

 

Tôi nhìn thấy màu đỏ, tôi cũng không biết nữa, tôi liền lấy cái com-pa trong túi ra; rồi tôi cứ thế mà đâm vào ông ta, đâm và đâm liên tục, hết sức mình. Thế rồi mẹ tôi la toáng lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với! Giết người!” vừa nắm lấy râu cằm của tôi. Rồi hình như là tôi cũng đã giết bà ấy.

 

Trời ơi, lúc đó tôi còn biết tôi đã làm gì hở trời?

 

Sau đó, khi nhìn thấy cả hai đều nằm bất động, tôi đã mang họ ném xuống sông Seine, không nghĩ ngợi gì nữa…

 

Sự việc là như thế đó. Bây giờ, xin hãy phán xử tôi đi.

 

Bị cáo ngồi xuống. Sau khi nghe lời thú tội như thế, phiên tòa được dời lại vào hôm sau. Và tòa sẽ xét xử thôi.

 

Đối với một vụ án như thế, nếu chúng ta là quan tòa, hoặc trong ban hội thẩm, thì chúng ta sẽ xử như thế nào đây?

 

– Guy de Maupassant

tháilan dịch

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.