Hôm nay,  

Tôi có tội không?

16/03/202318:18:00(Xem: 3693)

Truyện dịch

Wind


Luật sư biện hộ cho đây là do bệnh tâm thần gây nên. Có cách nào khác để giải thích cuộc mưu sát kỳ lạ này không?

 

Một buổi sáng, gần Chatou, người ta tìm thấy hai cái xác đang ôm nhau, trong đám lau sậy, một nam và một nữ, hai người có tiếng trong xã hội, giàu có, họ cũng khá lớn tuổi, mới cưới nhau năm ngoái, người đàn bà vừa góa bụa ba năm nay. Họ sống bình thường, không có người nào thù ghét họ, và họ đã không bị cướp. Có vẻ như thủ phạm đã ném họ từ bờ xuống dòng sông, sau khi đã đánh đập họ bằng một cây sắt dài.

Cuộc điều tra không khám phá được điều gì. Khi thẩm vấn những người đánh cá ở nhánh sông, họ đều trả lời là không biết gì; các cảnh sát viên đang tính ngưng cuộc điều tra thì một người thợ mộc trẻ ở làng bên cạnh, tên là Georges Louis, thường được gọi là "Trưởng Giả", tự động đến đầu thú.

 

Khi được hỏi nhiều câu, và nhiều lần, anh ấy chỉ trả lời:

 

– Tôi quen người đàn ông này được hai năm, người phụ nữ được sáu tháng. Họ thường đến nhờ tôi sửa bàn ghế cũ hư vì tôi rất khéo tay trong nghề này.

 

Và khi được hỏi: 

 

– Tại sao anh lại giết họ?

 

Anh trả lời một cách ngoan cố:

 

– Tôi giết họ vì tôi muốn giết họ.

 

Cảnh sát không thể biết thêm được bất cứ điều gì khác. Người này khi còn bé có lẽ là một đứa trẻ ngoài giá thú, trước đây được gởi cho vú nuôi ở nông thôn, rồi sau đó bị bỏ rơi. Anh ta chỉ có một tên là Georges Louis, nhưng khi lớn lên, anh ta trở nên thông minh khác thường, với phong cách và sự tinh tế bẩm sinh không tìm thấy ở các bạn bè cùng trang lứa trong làng, nên họ đặt biệt danh cho anh là: “Trưởng Giả", và mọi người chỉ gọi anh ta bằng tên ấy thôi. Anh ta được xem là rất khéo léo trong nghề thợ mộc mà anh đã theo học.

 

Thậm chí anh đã làm một số tượng điêu khắc. Anh cũng được cho là rất nhiệt tình, là người ủng hộ các học thuyết cộng sản và cả chủ nghĩa hư vô, một độc giả đam mê tiểu thuyết phiêu lưu, và tiểu thuyết có tình tiết đẫm máu, một cử tri có uy thế và diễn giả tài ba trong các cuộc họp của thợ thuyền hoặc nông dân.

 

Luật sư cho rằng việc đó xuất phát từ bệnh tâm thần của anh.

Thật vậy, làm sao có thể chấp nhận rằng người thợ này đã giết những khách hàng vào bậc nhất của mình, những người giàu có và hào phóng (anh ta thừa nhận điều đó), họ đã trả những ba ngàn đồng trong hai năm qua (sổ sách của anh đã chứng minh điều ấy).

 

Chỉ có một lời giải thích duy nhất: trong một lúc anh không tự chủ được mình, và định kiến của kẻ không thuộc vào đẳng cấp nào của xã hội, muốn trả thù hai người tư sản của tất cả bọn tư sản; và viên luật sư khéo léo ám chỉ đến cái biệt hiệu “Trưởng Giả” mà người trong làng đặt cho kẻ bị bỏ rơi này; ông ấy can thiệp:

 

– Thật là một điều trớ trêu, và lại thêm một động lực cho cậu bé bất hạnh không cha cũng không mẹ kia! Anh là một đảng viên Cộng hòa, đảng mà đơn giản đốt nhà là một nguyên tắc và giết người là một phương tiện.

 

Những luận thuyết đau buồn ấy giờ đây đã được đón nhận trong những buổi hội họp, đã khiến cho người bạn đây mất phương hướng. Anh ta đã nghe những phụ nữ, vâng chính những phụ nữ muốn đòi nợ máu nào là ông Gambetta này, ông Grevy nọ; đầu óc bệnh hoạn của anh đã chao đảo; anh chỉ muốn đòi nợ máu của giới trưởng giả!

 

Kẻ bị buộc tội không phải là anh ta, thưa quý tòa, mà chính là Cộng đồng!

 

Dưới cử tọa râm ran tiếng tán thành lập luận của luật sư. Có vẻ như ông ta đã thắng kiện.

 

Công tố viên không có phản ứng gì.

 

Quan toà liền đặt câu hỏi thường tình:

 

–  Bị cáo, anh có thêm gì để bào chữa không?

 

Anh ta người nhỏ thó, tóc vàng ươm, đôi mắt trong xám, ánh mắt nghiêm nghị. Vừa nghe thấy anh cất tiếng nói là những ý nghĩ không tốt về anh tan biến mất. Giọng anh to và chững chạc, dùng lời lẽ có vẻ hoa mỹ nhưng rất rõ ràng đến cuối căn phòng rộng lớn người ta cũng có thể nghe được:

 

– Thưa quan toà, tôi không muốn vào nhà thương điên, tôi muốn bị treo cổ hơn, nên tôi sẽ khai tất cả sự thật. Tôi đã giết người đàn ông và người phụ nữ ấy bởi vì họ là cha mẹ của tôi.

Bây giờ, xin hãy nghe và phán xét tôi. Một người đàn bà sinh ra một bé trai và gởi nó đi một nơi xa giao cho vú nuôi. Bà ấy có biết rằng người a tòng với bà đã đem sinh vật nhỏ bé vô tội kia đi đâu, sống một cuộc sống đốn mạt như thế nào, lý do là sự nhơ nhuốc của một đứa con không hợp lệ, và còn tệ hơn thế nữa: nó gần kề với cái chết, bởi vì nó đã bị bỏ rơi, người vú nuôi không còn nhận được phụ cấp, để cho nó chết mòn, đói khát, không ai chăm sóc? Người phụ nữ nuôi tôi thật sự là một người tốt, thật sự tốt, cao cả, có đức tính phụ nữ, có tình mẫu tử hơn người đã sinh ra tôi, người mẹ của tôi. Bà ấy đã nuôi nấng tôi; bà ấy đã sai khi làm bổn phận của bà. Có lẽ tốt hơn là nên để cho những kẻ khốn cùng như tôi tiêu tùng, bị ném đến những ngôi làng ở ngoài thành, y như người ta vứt rác ra ngoài bìa rừng.

 

Tôi lớn lên với cảm giác mơ hồ là tôi mang một nỗi nhục nào đó. Một hôm các bạn gọi tôi là “con hoang”. Chúng không hiểu từ đó có nghĩa gì, một đứa nào đã nghe ba mẹ nó nói; tôi cũng không hiểu rõ, nhưng tôi cảm nhận được.

 

Tôi có thể nói cho quý vị biết tôi là một trong những học trò thông minh nhất trong làng. Thưa quan tòa, tôi có thể là một người lương thiện, một con người cao thượng, nếu như cha mẹ tôi không phạm trọng tội là bỏ tôi. Trọng tội ấy, chính họ đã phạm với tôi; tôi là nạn nhân, họ là thủ phạm. Tôi không được bảo vệ, còn họ thì không có được sự tha thứ.

 

Đáng lý ra họ phải thương yêu tôi: đằng này họ đã ruồng bỏ tôi. Tôi có được cuộc sống là nhờ họ, nhưng cuộc sống có phải là món quà không? Đối với tôi, dù sao đi nữa, cuộc sống chỉ là tai họa. Sau khi bị họ bỏ rơi một cách nhục nhã, điều mà tôi chỉ có thể đáp lại là trả thù… Và với tôi, họ đã thực hiện hành động vô nhân đạo nhất, kinh khủng nhất, bỉ ổi nhất đối với một sinh vật.

 

Tôi đã bị cướp, bị lừa dối, bị đọa đày, bị xúc phạm, bị sỉ nhục, hơn tất cả những người mà quý vị có thể du di tha thứ được.

Tôi đã trả thù, tôi đã giết. Đó là quyền hợp lý của tôi. Tôi đã lấy đi cuộc sống hạnh phúc của họ để bù lại cuộc sống khủng khiếp mà họ đã buộc tôi phải sống.

 

Quý vị cho tôi là phạm tội giết cha mẹ ư! Họ có phải là cha mẹ tôi không, hay tôi chỉ là một gánh nặng ghê tởm, một nỗi kinh hoàng, một vết nhơ nhớp; sự ra đời của tôi là một tai họa, và cuộc sống của tôi là một mối đe dọa cho họ? Họ chỉ biết lòng ích kỷ; họ đã có một đứa con không mong đợi. Họ vứt bỏ đứa trẻ. Bây giờ đến lượt tôi cũng làm như vậy đối với họ.

Quý vị biết không, ngay cả thời gian gần đây tôi cũng có cảm tình với họ. Cách đây hai năm, người đàn ông ấy, lần đầu tiên cha tôi đến nơi tôi làm việc. Tôi không nghi ngờ điều gì, ông đặt làm hai cái tủ. Sau đó tôi biết được qua cha xứ rằng ông ấy đã lần mò tìm ra tin tức của tôi. Rồi ông ấy trở lại vài lần, và trả tiền rất khá cho tôi, có khi nói chuyện này nọ, và tôi thấy mình có cảm tình với ông. Rồi sau đó ông đem vợ của ông đến, bà mẹ của tôi. Khi bà mới bước vào cửa, bà ấy run rẩy dữ dội làm tôi tưởng bà ấy lên cơn bịnh thần kinh. Rồi bà ngồi, và uống nước, và trả lời không đầu đuôi mỗi khi ông ấy hỏi điều gì. Khi họ ra về, tôi nghĩ bà ấy có vẻ lẩn thẩn rồi.

 

Sau đó họ trở lại vài lần.Tôi cũng không đoán biết điều gì; nhưng bỗng một hôm bà ấy hỏi về cuộc sống của tôi, về tuổi thơ, về cha mẹ của tôi. Tôi trả lời: “Thưa bà, cha mẹ tôi là những kẻ khốn nạn đã bỏ rơi tôi!” Vừa nghe như thế, bà ấy ngã ra bất tỉnh. Tôi liền biết ngay đây là mẹ của mình, nhưng bề ngoài tôi không lộ vẻ gì khác thường. Tôi muốn bà ấy sẽ trở lại.

 

Về phần tôi, tôi đi hỏi thăm đây đó và biết rằng họ mới cưới nhau vào tháng bảy vừa rồi, bà ấy mới trở nên góa bụa từ ba năm nay. Người làng bàn tán rằng hai người này đã đi với nhau từ lúc người chồng trước của bà còn sống, nhưng không ai có bằng chứng. Chính tôi là bằng chứng, một bằng chứng mà lúc đầu người ta giấu nhẹm đi, rồi sau đó hy vọng sẽ tiêu huỷ.

 

Tôi đợi chờ. 

 

Một buổi tối, bà ấy đến, và cha tôi cũng đi cùng. Hôm ấy bà có vẻ xúc động hơn thường ngày, tôi không hiểu tại sao. Lúc ra về, bà nói: “Ta muốn cho chú mày sống tốt, vì chú mày có vẻ lương thiện và siêng năng; một ngày nào đó chú em sẽ cưới vợ, và ta sẽ giúp chú em tìm một cô gái thích hợp với chú, một lần ta đã bị ép gả cho một người mà ta không thích, và ta đã biết thế nào là đau khổ. Bây giờ ta giàu có, và không có con. Ta tặng chú món tiền để làm vốn”. Bà đưa cho tôi một bì thư lớn có niêm phong. Tôi nhìn bà chằm chằm và hỏi: “Bà là mẹ tôi phải không?” Bà bước lùi ra xa và lấy tay che mặt để khỏi nhìn thấy tôi. Còn ông ấy, người cha của tôi, vịn đỡ bà và la lên: “Mày điên rồi à!” Tôi trả lời: “Tôi không hề điên chút nào, thưa ông. Tôi biết rõ ông bà chính là cha mẹ của tôi. Không dễ lừa tôi đâu. Hãy thú thật điều đó, và tôi sẽ giữ bí mật, tôi không làm gì ông bà đâu; tôi vẫn là một người thợ mộc như hiện nay, sẽ không có gì thay đổi”.

 

Ông ấy thụt lùi phía cửa, vẫn ôm bà vợ đang khóc. Tôi liền chạy đến khóa trái cửa lại, cất chìa vào túi quần, và nói tiếp:  “Hãy nhìn bà ta đi và tiếp tục chối rằng bà không phải là mẹ của tôi”. Ông ấy liền nổi giận, mặt mày xanh lét, kinh hoàng vì nghĩ rằng việc im lặng từ xưa nay bây giờ có thể bùng phát tai tiếng, và trong một thoáng thì danh dự của họ sẽ bị tan nát, ông ấy lắp bắp: “Mày chỉ là đồ vô lại, mày muốn làm tiền phải không?” Mẹ tôi thì cuống cuồng không ngớt la lên: “Thôi ta hãy đi thôi, đi về nào!” Rồi khi thấy cửa đã bị khóa, ông ấy hét lên: “Nếu mày không mở cửa ra, tao sẽ cho tống mày vào tù về tội đe dọa và bạo lực!” Tôi mở cửa ra và họ liền lao vào trong đêm tối.

 

Và bỗng dưng tôi cảm thấy mình vừa mới bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị ném vào cống rãnh. Một cảm giác u buồn não nề, chen lẫn hận thù ghê tởm, xâm chiếm lấy tôi; trong tôi bỗng dấy lên sự đòi hỏi về công lý, chính nghĩa, danh dự, khi tình cảm bị từ chối.

 

Tôi chạy nhanh theo dọc bờ sông Seine vì họ phải theo con đường ấy để đến nhà ga. Chẳng mấy chốc tôi đã đuổi theo kịp họ.

 

Bây giờ màn đêm đã trở nên dày đặc.

 

Tôi bước đi nhè nhẹ, rón rén trên cỏ để họ không nghe thấy. Mẹ tôi vẫn khóc nức nở. Cha tôi thì nói: “Lỗi của em đó. Tại sao em cứ nằng nặc đòi đến thăm nó? Với tình trạng hiện nay của chúng ta, đó là một việc điên rồ. Chúng ta có thể lo cho nó mà không cần phải chường mặt đến như thế. Chúng ta không thể nào nhận nó làm con một cách chính thức, tại sao phải dấn thân vô những việc nguy hiểm như thế?” Nghe đến đây, tôi liền lao đến trước mặt họ, dáng điệu cầu khẩn. Và tôi lắp bắp:

“Thấy chưa, ông bà thật sự là cha mẹ của tôi rồi. Trước đây các người đã vứt bỏ tôi, bây giờ các người còn muốn hắt hủi tôi nữa sao?” Thế rồi, dạ thưa quan toà, ông ấy đã giương cao cánh tay lên, tôi xin lấy danh dự mà thề, trên luật pháp, trên chính quyền, thưa quý vị, và ông giáng xuống người tôi. Vâng ông ấy đã đánh tôi, và khi tôi nắm lấy cổ áo ông ta, ông rút khẩu súng lục từ túi ra.

 

Tôi nhìn thấy màu đỏ, tôi cũng không biết nữa, tôi liền lấy cái com-pa trong túi ra; rồi tôi cứ thế mà đâm vào ông ta, đâm và đâm liên tục, hết sức mình. Thế rồi mẹ tôi la toáng lên: “Cứu tôi với! Cứu tôi với! Giết người!” vừa nắm lấy râu cằm của tôi. Rồi hình như là tôi cũng đã giết bà ấy.

 

Trời ơi, lúc đó tôi còn biết tôi đã làm gì hở trời?

 

Sau đó, khi nhìn thấy cả hai đều nằm bất động, tôi đã mang họ ném xuống sông Seine, không nghĩ ngợi gì nữa…

 

Sự việc là như thế đó. Bây giờ, xin hãy phán xử tôi đi.

 

Bị cáo ngồi xuống. Sau khi nghe lời thú tội như thế, phiên tòa được dời lại vào hôm sau. Và tòa sẽ xét xử thôi.

 

Đối với một vụ án như thế, nếu chúng ta là quan tòa, hoặc trong ban hội thẩm, thì chúng ta sẽ xử như thế nào đây?

 

– Guy de Maupassant

tháilan dịch

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.