Hôm nay,  

Tháng Ba lại về

11/03/202321:17:00(Xem: 2120)
Tùy bút

Hoa


Tháng ba lại về, mùa xuân đang ngấp nghé bên thềm. Tuần trước những nụ hoa đào còn bé như hạt tiêu, ấy vậy mà giờ này lớn bằng đầu ngón út, những nụ hoa chi chít trên cành, có một số đã nở sớm phơn phớt sắc hồng trong nắng vàng ban mai dưới bầu trời xanh biếc.

 

Đất trời vốn thênh thang, giờ xuân lại về càng thêm phong quang rạng rỡ. Muôn hoa tô điểm cho đời, sắc hương nào chỉ để vui mắt, sắc hương còn là quả ngọt trái sai của mùa sau. Thiên hạ cứ bảo bướm ong lẳng lơ, ừ thì lẳng lơ nhưng không có bướm ong thì cũng không có mùa màng đâu nhé! Thiên hạ có không ít kẻ cười cợt bọn du tử mần thơ viết văn, cho là vô tích sự, tuy nhiên đời mà không có văn chương nghệ thuật thì con người chỉ có ăn, ở, mần tình hóa ra không khác gì con vật ư? hay chỉ là lũ người máy vô hồn? Bọn du tử chính là những tấm gương phản chiếu lại phong quang của trời đất, ghi nhận sắc hương của muôn hoa, vẽ nên bướm ong của thiên nhiên và cũng là của chính bản thân mình. Bướm ong thụ phấn cho mùa màng bội thu, bọn du tử “thụ phấn”cho những tác phẩm văn thơ ra đời để phục vụ sự hưởng thụ về mặt tinh thần của con người.

 

Mùa xuân về em vui trẩy hội, xúng xính áo xiêm, trai thanh gái lịch, đời vất vả nhọc nhằn nhưng cũng có lúc đẹp như mơ. Đời vô thường tử sanh liên lỉ nhưng những giây phút hiện tại ở nơi này hoan hỷ biết bao! Mùa xuân hải ngoại tận góc bể chân trời nhưng vẫn mang âm hưởng quê hương vì xuân trong tâm hóa hiện ra. Tiếng pháo đì đùng, tiếng pháo giòn tan, tiếng pháo rộn rã làm nao nức lòng người. Mùi thuốc pháo hăng hăng, mùi thuốc pháo nồng nồng. Khói thuốc pháo mù mịt chợt nhiên làm liên tưởng đến thuốc pháo làm sạm đen áo bào của đại đế Quang Trung trong mùa xuân Kỷ Dậu.

 

Đất trời phương ngoại phóng khoáng, tự do. Mùa xuân dường như bất tận, hoa nở bạt ngàn trên thảo nguyên, trên triền đồi, trên sườn núi… thảm hoa như kéo dài đến tận chân trời. Hoa dọc xa lộ, bên những cung đường quê. Hoa trên đường phố, trong sân vườn, bên thềm, trên bậu cửa... Thật khó có thể dùng bút mực để mô tả hoa xuân cũng như nỗi hân hoan của những gã du tử mê hoa. Thật sự thì đất trời phương ngoại mùa nào cũng có hoa, tuy nhiên khi xuân về thì mới tràn trề và viên mãn như thế này!

Đất trời tràn ngập hương sắc hoa, mùa xuân là mùa của muôn hoa, mùa của hồi sinh và mùa xuân cũng là biểu tượng của tuổi trẻ và hy vọng. Có gã du tử ngơ ngẩn trong đời vì mê hoa mà đã có lần khẩn khoản van nài chúa xuân:” nàng hãy ở lại đây, hãy ngự trị vĩnh viễn ở nơi này!”. Chúa xuân mỉn cười rạng rỡ thì thầm như gió thoảng mây bay:” Thế gian vô thường, vạn vật sanh diệt là lẽ tự nhiên, bốn mùa luân phiên thay đổi. Một khi ta ở lại nơi này vĩnh viễn thì nơi kia sẽ thế nào? Liệu có còn ý nghĩa mùa xuân? Và thiên hạ sao biết được cảm giác hân hoan khi xuân sang?” Chao ơi, gã du tử khờ khạo quá, vì chưng yêu thương mà sanh ra mê mẩn tâm thần nên mới van nài chúa xuân ở lại vĩnh viễn ở nơi này! Gã du tử đã quên mất tông chỉ mà sư phụ năm xưa đã nhắn nhủ:” Cầu không phải, không cầu cũng không phải, tự nhiên vốn là thế, chớ có cưỡng cầu!” Gã du tử còn ngẩn ngơ giữa cung đường xuân thì chúa xuân gởi lời trong gió thoảng hương xuân:” Một khi ta ở lại vĩnh viễn nơi này thì ta có còn là chúa xuân nữa không?”

 

Xuân của đất trời phong quang khiến lòng người hân hoan. Mùa xuân phương đông, mùa xuân phương tây có khác gì nhau chăng? Làm sao có chuyện ấy được! Ấy chỉ là mê của lòng người. Đất rộng trời cao, vũ trụ không ngằn mé, thiên nhiên vốn không hai… phân biệt, chẻ chia ấy là tại lòng người. Mùa xuân muôn đời tươi trẻ, mùa xuân bát ngát sắc hương hoa, bởi thế mà năm xưa thiền sư Mãn Giác đã bảo:” Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận”. Hãy nhớ nằm lòng nhé em! Làm sao mà hết xuân hết hoa cho được và cũng chớ bao giờ cho là hoa rụng khi xuân tàn. Xuân ý, xuân lòng, xuân tâm, xuân tưởng vốn vô tận kia mà! Đời hiện đại cũng có gã du tử tập tễnh mần thơ:

 

Xuân đất trời bây giờ mới đến

Trong lòng tôi xuân vốn đã lâu rồi.

 

Nói lời này e rằng cũng mê mất đi thôi! Làm gì có đến có đi, may mà còn chút vớt vát dường như ngấp nghé bờ mép nên mới thấy xuân từ lâu.

 

Người ta bảo xứ Phù Tang lấy hoa đào làm biểu tượng, ở đấy hoa đào đẹp lắm, chẳng biết có phải vì hoa đào mà má phấn phụ nữ xứ ấy tựa như hoa đào? Hay là hoa đào đẹp tựa má phấn gái xuân xanh?

Thành Ất Lăng này cũng là xứ sở của hoa đào, hoa đào có khắp mọi nơi từ núi rừng cho đến đồng quê, phố xá. Cứ mỗi mùa xuân, hoa đào bừng lên sắc thắm làm cả không gian hồng hào dưới nắng vàng trời xanh. Cánh hoa đào bay bay trong gió, rơi rơi trên thảm cỏ xanh. Những cánh hoa đào phơn phớt hồng và mịn màng như đôi má của những cô gái xuân thì, đẹp đến mê mẩn tâm thần. Văn chương thơ phú làm sao tả được đây? nét đẹp của cánh hoa đào, cái đẹp cùa má đào gái xuân xanh thì mỗi người tự cảm nhận chứ vô phương miêu tả.

 

Tháng ba lại về, chúa xuân không cần con người tụng ca, ngôn ngữ thế gian làm sao đủ để tôn vinh xuân? Ngay cả thanh âm và sắc màu của con người cũng không thể nào tả hết được cái đẹp, nét hân hoan và rạng rỡ của nàng xuân. Làm sao có thể dùng cái hữu hạn để nói cái vô hạn? khổ nỗi con người chỉ có chừng ấy thôi nên đành tạm mượn ngữ ngôn để tỏ chút tình hoài.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0323)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.