Hôm nay,  

Trầm Cảm Có Thể Không Do Mất Cân Bằng Hóa Học Trong Não

29/07/202200:00:00(Xem: 3191)

depression
Hình minh họa


Nghiên cứu mới nhất cho thấy có bằng chứng rằng trầm cảm không phải là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin.

Trong suốt ba thập niên, mọi người đã bị “nhồi sọ” rằng trầm cảm là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff (Giáo Sư lâm sàng cao cấp, Khoa tâm thần học xã hội và phê bình, UCL) và Mark Horowitz (Nghiên cứu lâm sàng về Tâm thần học, UCL) cho thấy có bằng chứng không hỗ trợ điều đó. Nghiên cứu được đăng trên trang TheConversation.

Dù được đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1960, mãi tới những năm 1990, lý thuyết về chất serotonin và trầm cảm mới bắt đầu được ngành dược phẩm quảng bá rộng rãi cùng với nỗ lực tiếp thị một loạt thuốc chống trầm cảm mới, được gọi là chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc hoặc gọi tắt là SSRI (selective serotonin-reuptake inhibitors). Ý tưởng này cũng đã được xác nhận bởi các tổ chức chính thức như Hiệp Hội Tâm Thần Hoa Kỳ, cho tới nay vẫn nói với công chúng rằng “sự khác biệt về một số chất hóa học trong não có thể góp phần gây ra các triệu chứng trầm cảm.”

Vô số các bác sĩ đã lặp đi lặp lại thông điệp này trên toàn thế giới, trong các ca phẫu thuật riêng cũng như trên các phương tiện truyền thông. Mọi người thì chấp nhận những gì họ được nghe. Và nhiều người bắt đầu sử dụng thuốc chống trầm cảm vì tin rằng có vấn đề gì đó với bộ não của mình, và cần phải có thuốc chống trầm cảm để giải quyết. Trong giai đoạn thúc đẩy tiếp thị này, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm đã tăng lên đáng kể, và chúng hiện được kê toa cho 1/6 dân số trưởng thành ở Anh.

Trong một thời gian dài, một số học giả, bao gồm cả một số bác sĩ tâm thần hàng đầu, cho rằng không có bằng chứng thỏa đáng để chứng minh rằng trầm cảm là kết quả của lượng serotonin thấp hoặc không hoạt động một cách bất thường. Những người khác vẫn tiếp tục tán thành lý thuyết thiếu cân bằng về chất serotonin này. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có đánh giá toàn diện nào đối với nghiên cứu về serotonin và trầm cảm mà có thể đưa ra kết luận chắc chắn theo cách nào đó.

Thoạt tiên, thực tế là thuốc chống trầm cảm loại SSRI hoạt động trên hệ thống serotonin có vẻ như hỗ trợ cho lý thuyết về serotonin và bệnh trầm cảm. SSRI tạm thời làm tăng sự sẵn có của serotonin trong não bộ, nhưng điều này không nhất thiết ngụ ý rằng trầm cảm là do tác động ngược lại với ảnh hưởng này.

Có những giải thích khác về tác dụng của thuốc chống trầm cảm. Thực tế, các thử nghiệm thuốc cho thấy thuốc chống trầm cảm hầu như không thể phân biệt được với giả dược khi điều trị trầm cảm. Ngoài ra, thuốc chống trầm cảm dường như có tác dụng làm tê liệt cảm xúc tổng quát, có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của người sử dụng, mặc dù chưa rõ tác dụng này được tạo ra như thế nào và cũng chưa có nhiều thông tin về nó.

Đánh giá toàn diện đầu tiên

Đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống serotonin từ những năm 1990, nhưng nó lại không được thu thập một cách có hệ thống trước đó. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một đánh giá “ô dù” liên quan đến việc xác định và đối chiếu một cách có hệ thống những cái nhìn tổng quan hiện có về bằng chứng từ mỗi lĩnh vực nghiên cứu chính về serotonin và trầm cảm. Mặc dù đã có những đánh giá có hệ thống về các lĩnh vực riêng lẻ trước đây, nhưng không có đánh giá nào kết hợp bằng chứng từ tất cả các lĩnh vực khác nhau theo cách tiếp cận này.

Có một lĩnh vực nghiên cứu được bao gồm là nghiên cứu so sánh mức độ serotonin và các sản phẩm phân hủy của nó trong máu hoặc dịch não. Nhìn chung, nghiên cứu này không cho thấy sự khác biệt giữa những người bị trầm cảm và những người không bị trầm cảm.

Một lĩnh vực nghiên cứu khác thì tập trung vào các thụ thể serotonin, là các protein ở đầu tận cùng của các dây thần kinh liên kết với serotonin và có thể truyền hoặc ức chế tác dụng của serotonin. Nghiên cứu về thụ thể serotonin được khảo sát phổ biến nhất cho thấy không có sự khác biệt giữa những người bị trầm cảm và những người không bị trầm cảm, hoặc hoạt động của serotonin thực sự tăng lên ở những người bị trầm cảm - điều ngược lại với dự đoán của lý thuyết về serotonin.


Nghiên cứu về “chất vận chuyển” serotonin, tức là protein giúp ức chế tác dụng của serotonin (đây là protein mà SSRIs hoạt động), cũng cho thấy rằng, nếu có thì hoạt động serotonin tăng lên ở những người bị trầm cảm. Tuy nhiên, phát hiện này có thể được giải thích là do nhiều người tham gia nghiên cứu đã sử dụng hoặc đang sử dụng thuốc chống trầm cảm.

Các nhà nghiên cứu cũng đã xem xét một nghiên cứu về việc liệu giả vờ hạ thấp mức serotonin (ở những người tình nguyện tham gia nghiên cứu) thì có thể gây ra trầm cảm hay không. Hai đánh giá tổng quan từ năm 2006 và 2007 và một mẫu của mười nghiên cứu gần đây nhất cho thấy rằng việc giảm serotonin không gây ra trầm cảm ở hàng trăm tình nguyện viên tham gia nghiên cứu, họ là những người khỏe mạnh bình thường. Một trong hai đánh giá tổng quan trên cho thấy bằng chứng rất yếu về tác dụng trong một nhóm nhỏ những người mà gia đình họ có tiền sử bị trầm cảm, nhưng cũng chỉ liên quan đến 75 người tham gia.

Các nghiên cứu lớn với hàng chục nghìn bệnh nhân đã xem xét đến sự biến đổi gen, bao gồm cả loại gen hướng dẫn tạo ra chất vận chuyển serotonin. Họ không tìm thấy sự khác biệt nào về tần số xuất hiện của các loại gen này giữa những người bị trầm cảm và những người khỏe mạnh.

Mặc dù một nghiên cứu nổi tiếng từ ban đầu cho thấy mối quan hệ giữa gen vận chuyển serotonin và các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống, các nghiên cứu lớn hơn, toàn diện hơn, lại cho thấy mối quan hệ này không tồn tại. Tuy nhiên, các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống có tác động mạnh mẽ đến nguy cơ phát triển bệnh trầm cảm về sau.

Một số nghiên cứu khác bao gồm những người đang sử dụng hoặc trước đó có sử dụng thuốc chống trầm cảm cho thấy bằng chứng rằng thuốc chống trầm cảm thực sự có thể làm giảm nồng độ hoặc hoạt động của serotonin.

Không có bằng chứng hỗ trợ

Lý thuyết về serotonin và bệnh trầm cảm là một trong những lý thuyết sinh học có ảnh hưởng nhất và được nghiên cứu rộng rãi nhất về nguồn gốc của bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff và Mark Horowitz cho thấy rằng quan điểm này không được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học. Nó cũng đặt ra câu hỏi về cơ sở cho việc sử dụng thuốc chống trầm cảm.

Hầu hết các loại thuốc chống trầm cảm đang được sử dụng hiện nay được cho là hoạt động thông qua tác dụng của chúng đối với serotonin. Một số cũng ảnh hưởng đến chất noradrenaline trong não. Nhưng bằng chứng về sự liên quan của noradrenaline trong bệnh trầm cảm còn yếu hơn so với serotonin.
Không có cơ chế dược lý nào khác được chấp nhận về cách thuốc chống trầm cảm có thể ảnh hưởng đến bệnh trầm cảm. Nếu thuốc chống trầm cảm phát huy tác dụng của chúng như giả dược, hoặc bằng cách làm tê liệt cảm xúc, thì có lẽ cần xem xét lại là chúng có hiệu quả tốt nhiều hơn hay tác hại nhiều hơn.

Mặc dù xem trầm cảm là một chứng rối loạn sinh học có thể sẽ làm giảm sự kỳ thị, nhưng trên thực tế, nghiên cứu đã chỉ ra điều ngược lại, và những người tin rằng bệnh trầm cảm của họ là do mất cân bằng hóa học trong não thường bi quan hơn về cơ hội phục hồi.

Điều quan trọng mọi người cần nắm rõ là ý tưởng trầm cảm là kết quả của sự “mất cân bằng hóa học” chỉ là một giả thuyết. Hiện nay chúng ta vẫn chưa thể hiểu chắc chắn điều gì làm serotonin tăng tạm thời hoặc những thay đổi sinh hóa khác do thuốc chống trầm cảm tạo ra đối với não bộ. Nên có thể kết luận rằng, không thể nói việc sử dụng thuốc chống trầm cảm SSRI là hoàn toàn có hiệu quả trị bệnh trầm cảm, hoặc thậm chí hoàn toàn an toàn.

Nếu quý vị đang sử dụng thuốc chống trầm cảm, thì quý vị không được tự ý ngừng sử dụng thuốc mà không nói chuyện với bác sĩ trước. Nhưng mọi người cần biết tất cả thông tin này để có thể sáng suốt đưa ra quyết định có nên sử dụng những loại thuốc đó hay không.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh tật và các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, đối với 1/10 người và đa số là phụ nữ, hệ thống miễn dịch gặp trục trặc và tấn công các tế bào của cơ thể, gây ra hơn 80 loại bệnh tự miễn dịch, chẳng hạn như lupus, đa xơ cứng (multiple sclerosis) và bệnh phong thấp (rheumatoid arthritis). Một số nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ thường mắc các bệnh tự miễn dịch nhiều hơn nam giới; nguyên nhân có thể là do có một cơ chế bị lỗi, khiến quá trình tắt nhiễm sắc thể (NST) X trong tế bào diễn ra không đúng cách. Trong các tế bào của phụ nữ, một trong hai NST X được tắt bớt hoạt động. Nếu quá trình này không diễn ra đúng cách, có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch và góp phần vào sự phát triển của các bệnh tự miễn dịch.
Cảm giác từ việc bẻ các khớp ngón tay cho kêu rôm rốp có thể rất khác nhau tùy theo từng người. Có người thấy rất ‘đã,’ thậm chí là bị ghiền, cũng có người thấy khó chịu hoặc sợ hãi. Dù việc bẻ khớp thường được nhiều người coi là một thói quen không tốt, nhưng nếu có thể hiểu được cơ chế hoạt động đằng sau việc bẻ khớp, ta sẽ hiểu tại sao lại có nhiều người ‘ghiền’ đến vậy.
Cael là một thiếu niên 15 tuổi bình thường – cho đến khi cậu được phát hiện có cột sống bị cong vẹo bất thường. “Em cảm thấy mình giống như Thằng Gù ở Nhà thờ Đức Bà vậy đó,” Cael nói với CBC News, nhớ lại quãng thời gian hai năm chờ đợi để được phẫu thuật cột sống, đầy cảm xúc và khốc liệt, và trong thời gian đó, đường cong cột sống của cậu đã phát triển lên tới 108 độ.
Dave Lovos là một nhạc sĩ và nghệ nhân làm đàn guitar, và đã quá quen với những âm thanh ồn ào. Trong năm nay, có một đêm Lovos bất ngờ nghe thấy tiếng nổ mạnh trong đầu khi đang lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Tiếng nổ bất ngờ khiến ông tỉnh ngủ hẳn. Lovos kể lại: “Tôi nghe thấy một âm thanh rất lớn trong đầu, gần vùng đỉnh hộp sọ,” và cùng với tiếng nổ chói tai, hình ảnh một vụ tông xe vụt qua trong não. “Cả hai thứ xảy ra gần như là đồng thời.”
Mổ cườm mắt (Cataract, bệnh đục thủy tinh thể, hay còn gọi là Đục nhãn mắt, Cườm mắt) là một trong những loại phẫu thuật phổ biến và được thực hiện nhiều nhất trên thế giới. Đa số bệnh nhân sau khi mổ đều có kết quả tích cực và ít bị biến chứng. Ở Hoa Kỳ, hơn một nửa số người cao niên dưới 80 tuổi bị cườm mắt, và có gần 4 triệu ca phẫu thuật được thực hiện mỗi năm.
Vào những năm 1990, sau khi tốt nghiệp trung học ở Bồ Đào Nha, công việc đầu tiên của Ricardo Da Costa là vận động viên ba môn phối hợp (triathlete) chuyên nghiệp – bao gồm bơi lội, đạp xe, và điền kinh. Trong quá trình tham gia các cuộc thi, một trong những vấn đề lớn nhất mà anh và các vận động viên khác phải đối mặt là các vấn đề về tiêu hóa, nhưng không có ai để tâm hoặc tìm cách giải quyết vấn đề này.
Aspirin nổi tiếng với khả năng giảm đau từ các cơn đau cơ và đau đầu; giúp giảm sốt; và liều lượng thấp có thể làm loãng máu, giảm nguy cơ đông máu gây đột quỵ và đau tim. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới phát hiện ra rằng Aspirin cũng có thể giúp ngăn chặn sự phát triển của ung thư ruột kết
Tháng 4 năm 2024, một phụ nữ ở Sacramento, California, Mỹ bị ngộ độc chì nghiêm trọng và tử vong sau khi sử dụng thuốc mỡ trị trĩ của Việt Nam có tên “Cao Bôi Trĩ Cây Thầu Dầu”. Thử nghiệm thuốc mỡ bôi trĩ này cho thấy nó chứa 4% chì (cứ 100 gram thuốc thì có 4 gram chì), đây là lượng rất nguy hiểm. Chì là một chất kim loại nặng độc hại cho cơ thể. Tiếp xúc với bất kỳ lượng chì nào cũng có thể gây hại cho sức khỏe.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.