Hôm nay,  

Ngựa kéo xe

17/07/202209:37:00(Xem: 2716)

Truyện ngắn

ngua

 

Con sông xanh vào mùa khô chỉ còn một dòng nhỏ chảy sát mé hữu, cả dòng sông giờ là một bãi cát rộng mênh mông chi địa. Mỗi buổi tan trường, học sinh trường Bồ Đề tỏa ra chơi bời chạy nhảy đã đời luôn. Tụi thằng Danh, thằng Hiển, con Hoa, con Lợi… thường kéo đến bơi lội ở quãng trước nhà máy nước, dòng sông khô cạn nhưng duy chỉ khúc này nước tạo thành một vực sâu và rộng, làn nước trong xanh mát lạnh, những hàng cây bên bờ rủ bóng, những cây cừa nước chìa cành ra sát mặt sông.

 

Thường mỗi chiều bác Hữu dắt con ngựa ra bãi sông này cho nó tắm và chải lông. Con ngựa tên Gia Minh, nó rất đẹp, to, cao, lông màu mật mía và mướt rượt. Bọn học sinh xúm xít quanh nó để rờ mó vuốt ve. Bác Hữu nhắc nhở:

 

– Mấy con đứng hai bên hông, đừng đứng phía sau, rủi nó đá bất thần là bể mặt!

Bác Hữu là người lái xe thổ mộ, nhà sát trường Bồ Đề. Có lẽ bác là người duy nhất còn chạy xe ngựa trong thị trấn. Chiếc xe ngựa có hai cái bánh to vào cao hơn ngực tụi học trò, trong thùng xe ngồi chừng tám người, phía sau thùng xe có mấy cái móc để treo quang gánh hoặc đôi nừng của mấy bà đem hàng ra chợ. Bác Hữu chạy xe ngựa chở các bà các cô đi chợ Gò, chọ Quán và chợ Huyện. Cái lộ trình bao nhiêu năm nay khép kín một vòng như thế. Cứ mỗi bốn giờ sáng là người trong thị trấn đã nghe tiếng vó ngựa lộp cộp trên đường, dòng đi mang hàng xén đi bán ở các chợ quê và dòng về thì mang theo rau, củ, hoa quả… nói chung là nông sản. Tiếng vó ngựa lộp cộp trên đường suốt mấy mươi năm in sâu vào tâm khảm không biết bao nhiêu thế hệ rồi. Con Gia Minh bị hai miếng da che mắt, nó chỉ được nhìn về phía trước để thẳng đường chạy theo ý muốn của bác Hữu mà thôi, đời ngựa kéo xe nặng nhọc, khổ sở và chỉ được nhìn một quãng ngắn phía trước trên một lộ trình khép kín. Thế giới của Gia Minh bị buộc vào hàm thiếc, càng xe và hai miếng da che mắt. Nó kéo xe sùi bọt mép trong sự câm lặng và roi vọt, cũng nhờ cỗ xe ngựa ấy mà bác Hữu nuôi nổi hai đứa con ăn học tới nơi tới chốn. Thằng Danh tốt nghiệp khoa sử trường sư phạm, con Hoa ra trường với mảnh bằng cử nhân văn. Bác Hữu nhờ người quen chạy chọt nên cũng xin được cho con Hoa một chân dạy ở trường cấp hai gần nhà, đến thằng Danh thì không còn tiền, chấp nhận đi dạy ở huyện miền núi xa nhà.

 

Thời buổi công nghệ thông tin bùng nổ, mạng xã hội và Internet đã chọc thủng bức màn sắt, qua những thông tin và kiến thức từ bên ngoài. Thằng Danh và con Hoa đều nhận ra những cái mình học toàn là xạo sự, những điều người ta nhét vào đầu mình từ hồi nào đến giờ toàn là giả trá. Cả hai vật vã nhưng không biết nói cùng ai, tâm sự nặng nề, có đôi khi thố lộ gần xa trên mạng xã hội thì lập tức bị bề hội đồng như đấu tố thời xưa. Cả thầy Danh và cô Hoa đều bí bách, bức bối và bất an. Ngày thầy Danh về phép chơi, cả nhà 1o bữa cơm quây quần khá đầm ấm, tuy nhiên Danh và Hoa vẫn có những nét khác lạ làm cho bác Hữu cũng thấy lo nhưng không biết làm sao giúp con mình, ngoài những lời động viên khuyên bảo vốn đã như là một công thức quen thuộc. Cả hai cũng dạ dạ cho bác Hữu an lòng. Thầy Danh nói trổng trơ nhưng rõ ràng có ý với Hoa:

 

– Con ngựa của tía bị bịt mắt bằng hai miếng da, nó chẳng thấy được gì, ngoài cái tầm chạy định sẵn phía trước. Mình là người nhưng cũng chỉ chạy được một cung đường nhất định, không được phép lạng quạng vượt rào.

 

Cô Hoa Chua chát:

 

– Con ngựa bị bịt mắt nhưng tai còn nghe ngóng được, tuy nhiên nó bị khớp hàm thiếc, cột vào càng xe nên đành chịu phép. Mình không chỉ bị bịt mắt mà còn bưng cả tai, khớp cả miệng. Lộ trình mình cũng quanh quẩn trong vòng ràng buộc bởi biên chế và những thiết chế xã hội đặt ra. Con ngựa của ba chệch một tí là ăn roi ngay, còn mình chệch một chút là… chết!

 

– Mấy năm nay nhờ có mạng NET nên mới nhìn ra bên ngoài được một tí, tuy nhiên tường lửa cũng ngăn chặn liền. Dù sao cũng nhờ có NET mình mới biết mình không khác gì con ngựa kéo xe của tía.

 

– Con ngựa bị khớp miệng, buộc vào càng xe, che mắt và chạy theo cái lộ trình nhất định. Nó không thể nhìn xung quanh, không được ăn cỏ tươi ven đường, thậm chí không được làm cái việc mà giống đực vẫn làm. Tía đặt tên cho nó là Gia Minh nhưng đời nó tối đen chứ chẳng sáng tí nào, nó lầm lũi kéo xe theo hướng tía giật dây cương, hễ nó bướng là bị tía quất roi liền. Trước mắt nó là con lộ nhỏ bé xám đen, nó không thể thấy đồng loại hay hoa cỏ hai bên đường. Trọn đời nó trong bộ hàm thiếc, dây cương và cột vào càng xe, cứ thế kéo xe đến khi không còn kéo xe được nữa thì tía bán nó cho lò mổ. Thỉnh thoảng tía đưa nó ra sông tắm những tưởng là tự do lắm nhưng nó cũng không thể làm gì theo ý muốn, vẫn luôn nghe theo lịnh và cái roi của tía.

 

– Mình đi học cũng thế, người ta nhét vào đầu mình những gì họ muốn, rồi ra trường đi dạy cũng cứ thế mà lập lại như con vẹt. Thầy của mình, mình và học trò của mình cứ thế mà đi theo hướng người ta buộc mình phải đi. Con ngựa còn có đích đến là chợ nhưng mình thì chẳng biết đi về đâu, cái đích ở đâu và bao giờ tới chỉ có trời biết!

 

Cứ thế hai chị em nói toàn những lời đâu đâu không đầu không cuối, người nhà nghe cũng ngờ ngợ hiểu nhưng chẳng biết rành rọt gì. Cả tía lẫn má cứ cầu an bảo:

 

– Chuyện đâu còn có đó, người ta sao mình vậy, đừng có bày đặt cầm đèn bão chạy trước xe hơi chi cho mệt xác mà còn mang hoạ.

 

Cô Hoa và thầy Danh nhìn nhau cười, cả hai ngầm hiểu nên dừng ở đây, nói thêm nữa chỉ làm cho tía má lo âu. Bữa cơm cũng xong, hôm sau cả nhà cùng với anh em họ quây quần một bữa vui nữa để rồi mai thầy Danh lại lên miền núi xa xôi kia đi tiếp tục cái lộ trình định sẵn và cô Hoa cũng thế, dù dạy gần nhà nhưng cũng phải đi theo con lộ người ta bảo mình phải đi, còn con Gia Minh vẫn cứ kéo xe cho tía.

 

Một ngày kia vì quá căm phẫn hải quân Tàu giết ngư dân Việt, cướp lấy Hoàng Sa và Trường Sa, thầy Danh lên mạng xã hội đăng một cái tin ngắn vốn nhiều người biết:

– Hoàng Sa, Trường Sa của ta, lưỡi bò phi pháp. Người Phi Líp Pin đã kiện ra tòa án quốc tế La hay và tòa phán xử thắng!

 

Cái tin vừa đăng chẳng mấy chốc lũ tiểu yêu nhào vô đấu tố ném đá một cách điên cuồng, bọn chúng chửi rủa với tất cả ngôn từ mất dạy và bẩn thỉu nhất mà tâm trí chúng có được. Thầy Danh thầy nóng mặt nhưng biết không thể dùng lời phải trái để phân bua với chúng, nói chuyện thị phi với chúng thà nói với đầu gối của mình còn có lý hơn. Đồng nghiệp thầy Danh cũng ngán ngẩm, họ e sợ liên lụy nên tránh ra mặt, chẳng một ai dám lên tiếng bênh vực. Thật sự ra thì nhiều đồng nghiệp đã tránh thầy Danh  họ sợ liên lụy, nhất là từ sau cái vụ thầy Danh dám đăng lên mạng xã hội chuyện bà Hai Hóa bị mất cả mấy mẫu đất vườn mà người ta chỉ bồi thường có chút xíu tiền không đủ mua cục đất chọi chim. Thầy danh còn đăng nhiều vụ người này mất nhà, người kia bị trấn tiền mãi lộ, hoặc mấy cái vụ xả thải làm ô nhiễm môi trường…Chính vì những lời thật này mà đám tiểu yêu luôn rình rập bề hội đồng, giờ thầy Danh đăng cái tin này nữa kể như cao điểm.

Ngày hôm sau thầy Danh được gọi lên văn phòng hiệu trưởng, có cả một toán cán bộ văn hóa, an ninh, mặt trận của huyện về. Sau khi bị chụp mũ những điều hết sức vô lý, thầy Danh đứng dậy toan nói phải quấy nhưng bọn họ không cho thầy Danh nói. Mấy cánh tay lực lưỡng đứng bên ấn thầy Danh ngồi xuống ghế, nhìn những bộ mặt hung tợn đằng đằng sát khí biết chúng sẵn sàng động thủ tay chân nên đành ngồi yên mặc tình nghe chúng buộc những cái tội trời ơi đất hỡi và cũng ngay hôm ấy hiệu trưởng tống cho thầy Danh cái giấy buộc nghỉ dạy. Thế là thầy Danh mất dạy vì dám nhìn thấy những gì ngoài hai tấm da bịt mắt, dám nói những gì không được nói, dám chệch ra khỏi lộ trình đã định hướng.

 

Gói ghém tém gọn vài món đồ hành trang cá nhân ít ỏi của mình để quay lại ngôi nhà cũ bên sông, chiều chiều thầy Danh thay tía dắt con Gia Minh ra sông tắm. Thầy Danh cũng chẳng buồn vì mất dạy mà buồn vì bạn bè sao sứa quá, chỉ có nhiêu đó mà đã dạt giãn ra cả rồi. Nằm trên bãi cát của con sông, nhìn mây trắng trôi lang thang trên bầu trời mà lòng cảm khái chi đâu. Thầy ước ao hóa đám mây trắng ấy mà bay bốn phương chẳng còn phải bận tâm việc người đời. Con Gia Minh đã mấy nay quen với sự ve vuốt chải lông của thầy Danh nên nó cũng tỏ vẻ quyến luyến cứ lăn lộn trên bãi cát cạnh thầy. Thầy Danh nhìn nó, đưa bàn tay vỗ vỗ vào trán nó:

 

– Cuộc đời kéo xe của mày vậy mà an toàn, mày sẽ kéo xe cho đến ngày cuối đời mà không lo mất việc miễn là mày chịu đeo hai mảnh da che mắt, miệng buộc hàm thiếc, thân cột vào chiếc xe thổ mộ kia.

 

Con Gia Minh có hiểu chi không thầy Danh không biết, chỉ thấy nó nằm ngửa tung cả bốn vó lên trời và hí một tràng nghe cảm khái làm sao.

 

Thầy Danh gầy gò, lúc nào cũng áo sơ mi trắng bỏ trong quần, đi đứng từ tốn, nói năng nhỏ nhẹ, cặp mắt kiếng cận dày cộp mà bạn bè cứ ghẹo là nhìn đời qua hai miếng đít chai. Thầy lên mạng suốt những lúc rảnh rỗi, tìm đọc đủ thứ tài liệu, những trang nào bị tường lửa thì tìm cách vượt qua mà đọc, có lẽ vì thế mà tên thầy Danh nằm trong danh sách đen của lực lượng an ninh mạng và cả trong danh sách của lũ tiểu yêu côn đồ mạng. Ngày thầy Danh bị buộc mất dạy và trục xuất khỏi địa phương, những người bạn cùng trong dãy tập thể đều đóng cửa phòng hoặc giả bệnh, chẳng ai tiễn hay nói một lời chia tay. Thầy vốn hiểu tình đời nhưng không ngờ con người ta là yếu bóng vía đến như thế. Cả ngàn người bạn trên mạng cũng im hơi lặng tiếng, thậm chí có người còn huỷ kết bạn với thầy để tránh những rắc rối mà họ sợ sẽ xảy ra. Thầy danh gầy gò như câu tre miễu mọc lẻ loi bên bờ sông, vậy mà bão tố quăng quật chỉ làm xơ xác lá chứ chẳng thể làm ngã được. Cả nhà thương và xót lắm, tía má cứ giục thầy Danh cưới vợ rồi lo làm ăn, chuyện thiên hạ cứ để đấy có người khác lo. Chị Tư Bông vốn là bạn học ngày trước, chị thương thầy Danh quá trời luôn, đi đâu, làm gì cũng ghé qua nhà thăm tía má. Chị bán hàng xén ngoài chợ huyện. Cả nhà xúi vô:” Con Tư Bông hiền lành, chăm chỉ, đẹp người đẹp nết...” Thầy Danh chỉ cười qua quýt không ừ mà cũng không phản đối. Chỉ có cô Hoa là hiểu nỗi lòng anh trai mình, nhân lúc nhà vắng, cổ nói:

 

– Không phải ngựa nào sanh ra cũng bị kéo xe, có những con ngựa kiểng đẹp lắm, được ăn uống và chăm sóc kỹ càng, không phải bị bịt mắt, đeo hàm thiếc, kéo xe thổ mộ.

 

Thầy Danh cười:

 

– Những con ngựa kiểng thì nói làm gì, được mấy mống như thế? Đại đa số vẫn phải bị bịt mắt kéo xe.

 

– Anh tính xa quá mệt người, thôi thì người ta sao mình vậy.

 

– Nghĩa là đời ngựa cứ bị bịt mắt kéo xe, rồi ngựa sanh ra lại tiếp tục như vậy sao?

 

– Biết sao được giờ? Ai cũng phải sống, phải sanh con đẻ cái, không lẽ sợ bịt mắt kéo xe mà để tuyệt tự?

 

– Thật tình anh cũng chẳng biết làm sao, nhưng anh lấy vợ về e làm khổ người ta.

 

Cô Hoa không biết nói gì thêm, ngồi bó gối im lặng.

 

Phần chị Tư Bông chờ hoài mà hổng thấy thầy Danh đá động gì, đời con gái xuân thì ngắn ngủi, bông búp hổng bán bông tàn bán ai mua. Phần tía má cổ ép quá nên đành lòng lấy anh Sáu Bang, một người buôn chuyến đường xa, lâu nay vẫn thích chị Tư Bông nhưng ngặt vì chị thương thầy Danh nên hổng tán được. Nghe chị Tư Bông lên xe hoa, thầy Danh miệng cười nhưng hai đuôi mắt hắt hiu quá chừng.

 

Mấy tháng đã qua, kể từ ngày thầy Danh bị mất dạy. Cô Hoa thường nấu món này món kia cho anh hai ăn,  làm nhiều cách cho thầy Danh vui. Một hôm hai anh em ra bờ sông để lội. Cô Hoa nói:

 

– Con Gia Minh kéo xe cho tía cả đời, mắt nó bị che bởi hai tấm da, thân nó bị xích trong cỗ xe, tuy cùn mòn đời nhưng thế mà yên ổn. Con ngựa chiến sa trường có vẻ dõng mãnh anh hùng nhưng bị tên bay đạn lạc, đôi khi còn bị xẻ thịt lột da để gói xác ông tướng tử trận. Con Gia Minh sẽ kéo xe cho tới khi hết kéo nổi, không lo mất việc. Anh mất dạy vì dám gỡ hai cái miếng da bịt mắt, muốn tháo cái hàm thiếc khỏi miệng, gỡ bỏ cái ách khỏi cỗ xe.

 

Thầy Danh lấy cành tre quẹt quẹt trên cát, mắt nhìn xa xa, nói với em gái mà như tự nhủ lòng:

 

– Anh không phải là con ngựa, tuy nhiên muốn gỡ cái miếng da bịt mắt quả là khó khăn lắm, ấy là chưa muốn nói rất nguy hiểm. Con Gia Minh nó an toàn kéo xe cũng vì hai miếng da ấy, đời nó chỉ thế thôi! Mà nào chỉ mình nó, tất cả những con ngựa kéo xe đều thế cả, sáng đi chợ huyện trưa về bị nhốt trong chuồng với nắm cỏ rơm khô. Đời ngựa kéo xe chẳng có chút chi nguy hiểm, cứ lầm lũi với ngày tháng, chúng quên béng mất tổ tiên từng tự do chạy nhảy trên thảo nguyên xanh mênh mông. Chúng không biết rằng bạn bè đồng trang lứa của chúng nơi rừng xanh, sa mạc vẫn tung hoành ngang dọc dưới bầu trời xanh vô tận. Đời ngựa hoang cũng có lúc hiểm nguy khi phải đối diện với cọp, beo, sư tử hay bọn thợ săn. Tuy nhiên chúng sống và chết với tất cả tự do kiếp ngựa, chúng hòan toàn thõa mãn cái ước vọng tự do, chúng chưa bao giờ biết hay có thể hình dung ra cái miếng da che mắt hay cái hàm thiếc rọ mõm. Thỉnh thoảng có những con ngựa hoang bị bọn thợ săn bắt được và bọn họ cố gắng tra hàm thiếc vào miệng chúng. Những con ngựa hoang bất hạnh ấy vùng vẫy chiến đấu với tất cả sức lực mà chúng có được. Tổ tiên con Gia Minh ngày xưa cũng từ thảo nguyên xanh ngút tầm mắt kia, từ khi bị bọn người bắt được và tròng vào mình chúng cái gọng xe, tra hàm thiếc vào miệng, dùng miếng da bịt hai bên mắt. Từ đó dòng họ của Gia Minh đời đời gắn với chiếc xe thổ mộ này. Gia Minh cũng được sinh ra từ trong chuồng ngựa của tía, nối tiếp dòng họ nó kéo xe, nhiều lúc máu hoang dã trong người nó khởi lên, nó tung cả hai chân trước lên đứng hẳn bằng hai chân sau, tiếng hí của nó nghe vang động thảm thiết cả ráng chiều bên sông.

 

Cô Hoa im lặng nghe mà không chen ngang vào, mặc cho dòng tư tưởng của thầy Danh mặc sức tuôn ra khỏi miệng, có lẽ đã lâu chưa bao giờ được nói một cách khái cảm như thế. Thầy Danh lúc này như con ngựa đã được tháo mảnh da che mắt, gỡ hàm thiếc khỏi miệng, tự do chạy rông trên bãi sông. Ngưng một lúc, dường như thấu nỗi đau của Gia Minh, thông cảm với kiếp ngựa kéo xe của nó. Thầy Danh tiếp tục tâm sự:

 

 – Nhiều lúc anh muốn thả nó về với đại ngàn nhưng ở giữa thị trấn này biết đại ngàn ở đâu? Vả lại thả nó đi rồi thì tía má và cả nhà sẽ sống bằng gì? Nó đã nuôi cả nhà, ngay cả tấm bằng cử nhân của anh và em  cũng nhờ công sức kéo xe của nó. Con Gia Minh cách xa đồng loại đã lâu, chuồng ngựa là nơi quen thuộc vào ra, không biết nó có nhớ gì đồng loại của nó chăng? Nó có thấy cô đơn như anh kể từ khi bị mất dạy?

 

Cô Hoa đứng dậy, kéo anh trai ra mép vũng nước để lội như thể lôi anh ra khỏi cơn mặc tưởng. Cả hai vẫy vùng ở khúc sông đầy sảng khoái, một chút tự do tuyệt đối mà những kẻ không biết bơi chưa bao giờ hưởng và cũng không làm sao hiểu nổi.

 

Thầy Danh mất dạy, chiều chiều đắt ngựa ra sông tắm, người và ngựa vùng vẫy bơi ở cái vũng nước của tuổi thơ ngày xưa.

 

Tháng ngày mòn mỏi chậm chạp trôi qua, tía già cụm rụm, con Gia Minh cũng già rồi chết. Cỗ xe ngựa tháo bung tận dụng được một số bộ phận, những phần không xài được bỏ chỏng chơ ngoài sân, chuồng ngựa cũng dỡ ra để làm nhà kho chứa đồ linh tinh chẳng mấy khi dùng. Thời buổi này đâu còn ai đi xe ngựa nữa, hồn con Gia Minh không biết thác sanh về đâu nhưng ít ra thì bây giờ nó không còn phải bị bịt mắt kéo xe, không còn ngàm thiếc buộc miệng, không cả những làn roi quật trên lưng khi chạy lệch ra mé lộ. Thầy Danh vẫn mất dạy, cô Hoa theo chồng về chợ huyện an phận thủ thường ngày ngày đi dạy, tiếp tục chạy trên con đường vô định với hai hai mảnh da và bộ cương vô hình.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 07/22)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.