Hôm nay,  

Hát: Giả bắc, Tiếng Bắc, Giọng Bắc.

7/8/202200:00:00(View: 7226)

Hát-Chèo-Cổ
Một vở diễn của Nhà Hát Chèo Việt Nam
 
Lúc còn nhỏ, đi theo bà dì và ông cậu xem cải lương. Tôi đã từng say mê cổ nhạc như say mê tân nhạc. Cùng lứa tuổi, Hương Lan trên sân khấu, dưới ánh đèn, thỏ thẻ điệu ca vọng cổ, xàng xàng, lên cao, rồi xuống xề, khiến cậu bé hả miệng suốt buổi, đêm về mộng mơ. Đó cũng là một lý do tôi yêu thích ca khúc Những Ngày Thơ Mộng của Hoàng Thi Thơ. Đúng làm sao: Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ thấy, thấy lòng nhớ thương nhiều. Rồi đêm ta nằm mơ, hồn say ta làm thơ. Ngồi ngâm trách lòng ai hững hờ… Hồi đó, tôi bắt đầu làm thơ Lục Bát.

Chất Bắc Và Chất Nam

Nhưng tôi phát hiện sự khác biệt, khi nghe nghệ sĩ Bích Thuận, Bích Sơn … nổi tiếng từ Bắc vào hát cải lương. Họ hát vọng cổ bằng tiếng bắc và thuần túy giọng bắc. Hồi đó, chưa đủ khả năng thẩm định, nhưng khán giả vỗ tay mỗi khi xuống đèn đỏ, tôi cảm thấy không vừa lòng. Sau này, tôi thường ví như ăn món Mắm và Rau của miền Nam với rau muống.

Ra Hà Nội hát Chèo bằng giọng Nam, nếu không phải là hiện tượng ngộ nghĩnh, thì sẽ bị rượt đuổi khỏi sân khấu. Miền Bắc có hát Chèo, miền Nam có Cải Lương, miền Trung có Hát Bộ,  những đặc sản này có lịch sử gắn liền với sở thích dân gian, lòng yêu chuộng của đám đông, vì vậy, có gì khác lạ, ngược ngạo, lập tức bị chê trách, phản đối. Cũng như: Hát tân nhạc “phải” hát bằng “tiếng” Bắc mới hay. Hát vọng cổ “phải” hát bằng “giọng” Nam, mới chỉnh.
Nhưng rồi: “Nhớ chiều nồ em đếnh them anh. Hưa bên đường phố đõa lên đèn…” Nghe âm sắc giọng Quảng trong ca khúc Mưa Chiều Kỷ Niệm (tác giả: Duy Yên & Quốc Kỳ), ca sĩ Ánh Tuyết khiến tôi kinh ngạc, thích thú, ngưỡng mộ. Một lần nữa, tài hoa làm cho cuộc đời đẹp hơn một chút, trước khi nghe:



Hóa ra điều hay, ý đẹp nằm ở nơi tài hoa phát diễn.

Không biết từ bao giờ, ai nói, hầu hết người thưởng ngoạn tân nhạc đều đồng ý: Hát tân nhạc phải hát bằng tiếng Bắc mới đúng, nghe mới hay.

Việc này do thói quen tạo ra sở thích, rồi sở thích xác định quan niệm, rồi quan niệm trở thành điều gì đáng tin tưởng, dùng làm tiêu chuẩn đo lường và đánh giá. Chất Bắc là nơi phát xuất tân nhạc: những nhạc sĩ sáng lập, những nhạc sĩ nổi tiếng, những ca sĩ thành danh đều là người miền Bắc. Họ viết nhạc bằng chất Bắc và hát bằng giọng Bắc. Cái đẹp lộng lẫy của ca khúc tân nhạc, cái hay vượt bậc của tài năng ca hát, đã chiếm ngự tâm tư thưởng ngoạn từ Bắc vào Nam. Chất Bắc, giọng Bắc, tiếng Bắc, nhạc sĩ Bắc, ca sĩ Bắc là hầu hết dòng nhạc Việt Nam. Rồi lẻ loi, nghệ sĩ Trần Văn Trạch xuất hiện trên sân khấu hát giọng Nam, Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Hay. Lạ. Nhưng chưa thể lay động thói quen cũ. Những ca sĩ về sau muốn hát ca khúc, trước tiên phải tập hát bằng tiếng Bắc. Các nhạc sĩ viết nhạc vô tư, theo thói quen, theo ám ảnh, viết bằng chất Bắc. Phải hát, phải viết như vậy mới hay.
Chất Bắc? Tôi muốn nói về cá tính của khối: văn hóa, văn chương, nghệ thuật và ngôn ngữ ở miền Bắc. Phẩm chất của khối vô hình này ăn sâu, nẩy nở trong tâm trí của những người có gốc rễ với miền này.

cai luong

Sân khấu cải lương đoàn Thanh Minh Thanh Nga theo phương châm "thực và đẹp, khác hẳn với hát bội". Trong hình là tuồng "Tình sử Dương Quý Phi". Ảnh : Huỳnh Công Minh/Màn Ảnh Sân Khấu.


Cảm ơn phong trào nhạc dân gian ra đời, hùng mạnh theo lòng người, dưới lá cờ “Nhạc Sến”, bay phất phới bên cạnh Nhạc Vàng, (đa số là nhạc chất Bắc). Những ca sĩ hát giọng miền Nam cũng được yêu chuộng không kém gì Duy Trác, Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc… Tuy họ xuất hiện gần đây, nhưng ảnh hưởng rộng lớn, chứng tỏ lòng thưởng ngoạn có phần đang chuyển hướng. Tiếc thay, biến cố tháng Tư năm 1975 làm gián đoạn phong trào đang rầm rộ. Mặc dù, mang chất Nam giọng Nam sang hải ngoại, nhưng gió ngoại quốc không thổi lá cờ này bay như một thời quá khứ vàng son.

So sánh điều này không có ý phê phán hoặc định giá nhạc nào hay hơn, lối hát nào đúng hơn, chỉ để minh chứng: Tài hoa có khả năng bắt đầu một thói quen mới. Tuy không có thống kê rõ rệt, nhưng số người thưởng thức nhạc bình dân, (đa số là nhạc chất Nam,) nhiều hơn số người thưởng thức nhạc cao cấp. Và dĩ nhiên, không tránh khỏi, người nghe nhạc “cao” thường coi rẻ khả năng thưởng thức nhạc “thấp”, cho dù đứng sát vào nhau, chưa biết ai cao hơn ai. Thói quen coi rẻ những gì chưa biết rõ là thói quen cần thiết phải xét lại.

Lập luận trên cần phải có thời gian, và nhiều tài hoa khác thường cho giới thưởng ngoạn âm nhạc đạt đến mức độ: nghe hát là nghe ca khúc của ai đó qua tiếng hát của một người, duy nhất, lúc đó, trình bày một sản phẩm nghệ thuật duy nhất, cho người nghe duy nhất, lúc đó. Hay hoặc dở chỉ lúc đó và duy nhất. Cho dù ca khúc được thâu băng, phát lại, mỗi lần đều có cảnh tứ khác biệt, tâm tư khác nhau, mỗi lần không giống nhau. Dù là ăn mì gói Ba Con Cua, mỗi lần ăn, trời nóng trời lạnh, ăn lúc buồn lúc vui, ăn với vợ, ăn với cô láng giềng, bạn có thấy khác chăng?
 
Tiếng Bắc Và Giọng Bắc

Tôi nghĩ, có sự lầm lẫn.

Hát theo tiếng Quảng. Có nghĩa, người hát tập phát âm cho giống người Quảng phát âm. Ví dụ: Một chiều lên đồi em làm thơ (Cỏ Úa, Lam Phương,) phải phát âm: Một chiều lên đầu em làm thơ… mới đúng tiếng Quảng.

Hát theo tiếng Bắc. Có nghĩa, lời hát phải phát âm theo cách đọc của người Bắc, vì tiếng Bắc (Hà Nội xưa) đúng tiêu chuẩn n, ng, c, t,  hỏi, ngã …v…v… chính xác. Người nghe không thể lầm lẫn giữa: gió thổi bạc tóc và gió thổi bạt tóc. Đây là việc học cách phát âm đúng với lợi ích không phát diễn sai ý nghĩa của ca từ.

Nhưng hát theo tiếng Bắc không có nghĩa là hát theo giọng Bắc. Với phong trào Karaoke, trường phái Hát Cho Nhau Nghe, và chủ nghĩa Hát Một Mình Nghe, nhiều người đã nỗ lực hát y hệt người bắc hát, gọi là “giả bắc.” Thậm chí, có cả ca sĩ thành danh cũng hát “giả bắc” như một thông lệ cho vừa lòng người nghe.

“Chất giọng tiếng Bắc” là một tài sản đặc thù của người Bắc. Một thứ tự nhiên kết thành của họ. Họ sinh ra ở miền Bắc, hoặc sinh ra trong gia đình người Bắc, lớn lên, hít thở, nói năng, buồn vui, yêu đương, mất mát, thất vọng, hy vọng, …sống với chất Bắc, tự nhiên, tự động họ sở hữu chất Bắc. Họ sở hữu truyền thống Bắc, lịch sử Bắc, tài hoa Bắc mà những người ở miền khác không thể có trong một thời gian ngắn luyện tập. Ngoại trừ, người đó có khả năng thiên phú về bắt chước. Hầu hết bắt chước hát chất giọng Bắc nghe ra giả. Hễ giả thì tự nhiên khó có cảm xúc thật. Hát mà thiếu cảm xúc vì lo giả, tự nhiên sẽ không đạt được nghệ thuật cao. Nghệ thuật, trước hết, là cảm xúc diễn đạt, bao gồm cảm xúc tâm tình và cảm xúc trí tuệ. Ngược lại, người Bắc có thể hát tiếng Nam, nhưng để thể hiện chất giọng Nam e rằng không có mấy ai? Có ai đã từng nghe người Bắc giả giọng Nam hát cải lương? Còn như dùng giọng bắc để hát vọng cổ thì: Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà!” Hát tiếng Bắc sẽ bị ngậm miệng nghe đứt hơi ở “thọ tiễn”, “vĩnh viễn” vì vần “n”, trong khi hát tiếng Nam sẽ đi luôn một hơi dài biểu diễn (vì thọ tiễng và vĩnh viễng đều không ngắt chữ, mà vẫn hiểu rõ ràng,) rồi kéo dài ở chữ “Thu”, xuống đèn đỏ chữ “Hà”. Vỗ tay đôm đốm.

Bất kỳ là thứ gì “tự nhiên” và “giả tự nhiên” luôn luôn có sự khác biệt. Những người tinh ý về “đẹp và hay,” tức là có trình độ nghệ thuật, sẽ nhận ra sự giả. Nhiều thứ trên cõi đời có thể giả, nhưng nghệ thuật không thể giả. Sở dĩ “thật” có giá trị vì “giả” không có giá trị. Nghệ thuật không cần chân thật, mà cần trung thực. Đó là vì sao, quái kiệt Trần Văn Trạch làm hàng ngàn khán giả say mê “Chiều mưa biên giới.”

Nói một cách khác, hát có thể, hoặc theo ý số đông, “nên” hát phát âm theo tiếng Bắc, nhưng đừng giả giọng bắc.

Đúng không?

Đúng.

Hãy so sánh Tuấn Ngọc và Nguyên Khang. Tôi không có ý nói, ai hát hay hơn ai. Tôi chỉ muốn nói, Tuấn Ngọc sinh ra trong gia đình người Bắc, sở hữu tiếng Bắc, chất giọng Bắc, hát hay quá sức. Nguyên Khang sinh ở miền Nam, Hốc Môn thì phải? Khi hát, anh hát rất chuẩn tiếng Bắc nhưng nghe không có chất giọng Bắc. Nói bình dân hơn, anh phát âm chính xác nhưng không bắc rặt. Nghe biết ngay không phải dân bắc. Và Nguyên Khang cũng hát hay quá sức. Lúc khởi đầu bước vào làng nhạc, có thể nhận thấy Nguyên Khang hao hao giống Tuấn Ngọc về nhiều phương diện trong nghệ thuật ca hát. Lúc đó, chàng chưa hay. Nhưng từ khi Nguyên Khang rời bỏ cái bóng Tuấn Ngọc để đi con đường riêng, tìm ra đúng phẩm chất trung thực của Nguyên Khang, chàng đã đạt được nghệ thuật ca hát. Mỗi người mỗi vẻ. Mỗi lần nghe đều tấm tắc.

Kết luận, hát hay theo đám đông hiện nay, là hát tiếng Bắc nhưng không phải hát chất giọng Bắc.

Chưa kể, nếu đào sâu hơn, chất giọng Bắc nghe hay là chất giọng Bắc Hà Nội ngày xưa, như chất giọng bắc của Duy Trác, Mai Hương, Kim Tước, Lệ Thu, Khánh Ly, …v…v.. Không phải phẩm chất giọng bắc nghe lanh lảnh, khắc nghiệt, như kim châm vào màng nhĩ.

Có lẽ vì sự lầm lẫn giữa hát tiếng Bắc và hát giọng Bắc, nôm na là phát âm tiếng bắc và bắt chước âm sắc tiếng bắc, khiến cho một số người lên mi-crô-phone như con két tài tình. Lúc tôi còn lưu lạc, lang thang ở miền Trung, một anh bạn thân người thượng cho tôi con két, anh nói, nó đã lột lưỡi. Nghĩa là có thể học nói. Phòng trọ tôi thuê gần nhà chính của bà chủ. Ngày nào bà cũng mở máy băng lớn, chạy cuốn băng Tứ Quí triền miên. Bà nghe đến nhão dây băng, nhờ vậy, ngày nào con két cũng kêu la bài của Tuấn Ngọc hát:

Yêu là thêm thương đau
với xót xa lệ tình khôn lau
biết nói sao những khi âu sầu
những khi uá nhầu tâm tư.     
                     (Yêu. Văn Phụng.)

Nó hát tiếng bắc chính xác, nhưng không phải giọng bắc.

Trong thời kỳ di cư, 1954, sức ảnh hưởng tài năng và trí tuệ của người miền Bắc mang vào Nam không chỉ trên lãnh vực ca hát, mà rõ ràng và sâu rộng hơn trong môi trường văn chương. Võ Phiến, nhà văn hàng đầu của miền Bình Định, cũng là một trong số nhà văn nổi bật suốt thời gian 1965 qua đến hải ngoại, đã từng lập luận, muốn viết văn hay phải viết theo lối văn miền Bắc. Điều này chứng tỏ trong truyện ngắn và các bài viết của Võ Phiến, cú pháp và ngữ pháp rất phong thái Bắc kỳ. Trong khi, cùng thời, nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, chữ nghĩa nổi bật với phong thái Nam kỳ, và nhà văn thế hệ sau Võ Phiến, người Bình Định, Nguyễn Mộng Giác, vẫn được ngưỡng mộ qua văn phong của người miền Trung. Tôi nhắc đến chuyện này để chúng ta thấy được áp lực và ám ảnh của khả năng văn học nghệ thuật từ miền Bắc tràn vào Nam. Hầu hết người thưởng ngoạn chấp nhận tinh thần này dễ dàng và tuân phục trong một thời gian dài đủ để xây dựng thành thói quen truyền xuống nhiều thế hệ, cho đến hiện nay.  Một số ít văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, thoát ra ảnh hưởng này, có lẽ, vì họ hiểu được cá tính của văn chương nghệ thuật bao gồm phần lớn là cá tính của tác giả, của người nghệ sĩ sáng tác hoặc trình diễn.

Rap Nguyen Van Hao

Rạp Nguyễn Văn Hảo giới thiệu chương trình của đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga, Sài Gòn, đầu xuân 1961. Ảnh tư liệu của Ngành Mai/Người Việt.


Nhiều người tuy không biết hát, không biết nhạc lý, không biết kỹ thuật thanh nhạc, nhưng trời cho có giọng hát tốt, đôi khi, có giọng hát đặc biệt, hay hơn cả giọng ca sĩ thứ thiệt. Rồi gặp Karaoke như thuyền ra cửa sông, cứ theo chữ mà hát. Hát hoài, hát theo các ca sĩ lớn, hát y hệt. Nhìn hai cái miệng, một trong màn ảnh, một trên con người, nhịp nhàng, mở khép, không khác biệt, không biết ai là người dẫn bài hát. Nghề dạy nghề, tự nhiên hát đúng hơn, hay hơn. Biết nhảy đầm là biết nhịp. Dễ thôi. Keyboard là một nhạc khí điện tử lạ lùng có khả năng bao giàn cả ban nhạc. Nếu gặp phải một nhạc sĩ tài ba điều khiển, keyboard trở thành một dàn nhạc phối khí đáng kính nể. Người hát từ Karaoke lên Hát Cho Nhau Nghe như diều gặp gió. Vấn đề còn lại là hát bắc, hát giả bắc, hoặc hát theo chất giọng của mình với tài năng và cá tính riêng biệt.

Tôi muốn dừng ở đây để phân biệt tài năng và tài hoa. Tài năng hầu hết mọi người đều có, không tài này thì tài kia, nhưng tài hoa ít có người sở hữu. Tài năng cao làm con người giỏi, xuất sắc, nổi bật, tài hoa làm cho tài năng trở thành thứ yếu. Ví dụ, nhiều thi sĩ có tài, làm thơ rất hay, nhưng làm thơ như Bùi Giáng thì phải có tài hoa. Nhiều người hát có tài, ít người hát tài hoa. Tài hoa luôn luôn đến từ trung thực. Khi những ai có ý định giả (trong bất kỳ loại nghệ thuật gì), tài năng giả có thể khiến cho họ nổi tiếng nhưng chỉ có tài hoa mới vượt được thời gian.   

Sau khi đọc bài này, mỗi khi đi đến nơi nào nghe hát, bạn có thể nghiền ngẫm, giám định, ai hát bắc, ai giả bắc. Những suy nghĩ âm thầm, nụ cười tủm tỉm, có khi, sẽ làm buổi nghe nhạc thêm thú vị.
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.