Hôm nay,  

HERMANN HESSE: Ngọn Lửa Nhỏ Ngoài Đêm Bão Lạnh

6/10/202200:00:00(View: 2419)

Herman
Cung Tiến là một tên tuổi lớn của âm nhac Việt Nam, nhưng ông cũng là một tác giả có nhiều đóng góp vào hai mươi năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, Ông đã sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mời đọc lại một bài viết về Hermann Hesse của Thạch Chương, tức nhạc sĩ Cung Tiến.

  

Tâm hồn Đức là một tâm hồn lãng mạn tự bản chất. Lãng mạn và bất kháng cự, và trong sự bất kháng cự đó còn có thể tìm thấy một khoái lạc rất thực sự. Và bởi vậy cũng dễ hiểu cái tình yêu thiên nhiên của mọi tâm hồn Đức, một tình yêu tiêu cực, quên mình, buông thả, một tình yêu của đàn bà – gió thổi qua tóc, nước suối dưới chân, và trăng dội sáng lạnh vào cơ thể, mà ta nằm để mặc cho sao rơi vào mắt, và ta khóc. Cái khóc vô cùng ngây thơ của Schubert trong những khúc lied – chẳng hạn tập Du Hành Mùa Đông, phổ thơ của Muller, kể truyện một người con trai bị tình phụ, bỏ làng ra đi trong mùa đông --: những Gefror’ne Thran’aus (Những giọt lệ thành băng) (1) những Manche Thran’ aus meinen Augen ist gefallen in den Schnee (Biết bao là lệ từ mắt tôi rơi xuống tuyết) trong bản Wasserfluth (Dòng nước chảy).

Và rồi trong bản Letzte Hoffnung (Hy vọng cuối cùng), người con trai nhìn một cánh lá mùa đông , sắp rụng mà chính mình run rẩy, bởi nếu nó rụng thì niềm hy vọng của chàng cũng sẽ rụng theo nó, và rồi wei’n, wei’n auf meiner Hoffnung Grab (khóc, khóc trên nấm mồ hy vọng của tôi)!

Hãy những giọt lệ của Shcumann, của Brahms: ôi những tâm hồn lãng mạn đáng quý đã qua!

Những kẻ thích nhạc lãng mạn Đức (khởi từ Beethoven và cực thịnh ở Wagner) nhất định phải thích Hesse, một tâm hồn Đức điển hình: ưa huyền bí, nhất là cái huyền bí đông phương từ Ấn Độ (Hesse có qua viếng xứ này năm 34 tuổi), yêu thiên nhiên, có thú giang hồ, (người ta còn nhớ những vụ bỏ nhà, bỏ trường ra đi của Hesse hồi nhỏ, và đặc biệt sự từ bỏ tu viện để “vào đời” của Ông (2), có những tình tự của một nhạc sĩ, hồn nhiên, bình thản. Hermann Hesse, thi sĩ hồi thiếu niên, tác giả những truyện ngắn hồi thanh niên (3), còn là một nhà văn nhân bản cổ điển(từ đó, giải Nobel 1946), một ý thức sáng chói (nhưng rồi chỉ le lói qua những cơn giông và thảm kịch thời đại), và, cuối cùng, đã tìm về nơi an nghỉ trong lòng Giáo hội Cơ đốc.

Cái nhân bản chủ nghĩa cổ điển ở Hesse được đặc biệt trình bày trong một truyện dài của Ông mà tôi yêu thích nhất

Der Steppenwolf (Con chó sói vùng hoang nguyên): Nhận rằng có những giá trị thực sự, nhận rằng chúng chỉ tương đối, rồi từ đó chấp nhận phận người, chẳng cần làm Ác Quỷ hay Thiên Thần, hay Thượng Đế, để khỏi phải giết nhân loại với mục đích giải cứu nó, Der Steppenwolf, hiển nhiên, biểu tượng một nhân vật nửa người nửa sói, điển hình của cả thế hệ thanh niên Đức mất hết niềm tin ở mọi giá trị tinh thần, một thế hệ bú mớm hoài nghi – hoài nghi giá trị của trí tuệ, hoài nghi ý niệm về phổ quát, hoài nghi hiệu lực của mọi quy luật. Chỉ còn một điều chắc: xã hội xấu, văn minh là nguồn gốc của đau khổ, cuộc đời là một địa ngục: nhưng Hesse chấp nhận hết thảy, với môi cườ, để, rất bình thường, sống trọn một đời người, Homo humanus!

Nhưng cần phải biết cười mình (một điểm rất không Đức chút nào), quên mình đi, phê phán mình nữa nếu cần: cái ironie dễ thương đó, mà rất hiếm tâm hồn Đức có (4), lại là một bài học trong Steppenwolf: Mozart khuyên Harry Haller là “đừng coi mình quan trọng quá”, “phải tập cười. Nhưng Haller, con người nửa sói nửa người đó, đã không thể làm được như thế.

Cái chủ nghĩa nhân bản cổ điển đó, cùng với sự tôn thờ cá nhân, về sau còn ám ảnh Hesse hoài không thôi: trong truyện ngắn Sự Trở Về của Zarathustra: Sau chiến tranh, giữa thời bạo động, đâu đâu cũng có những nhà hùng biện cho diễn văn, thì nhà tiên tri Zarathustra quay trở về, đứng dựa lưng vào tường lặng yên và khinh bỉ nghe họ. Nhưng ai cũng nghe tin nhà tiên tri này đã trở về và chạy đến tìm, nhưng Zarathustra trả lời rằng ông không có ý thức hệ hay hệ thống nào hết để truyền dạy và do đó không thể chỉ cách cai trị dân chúng ra sao v.v… Nhưng ông chỉ có một lời khuyên: “Hay là chính các ngươi như chính ta đã học làm Zarathustra.” Nhưng cái “biết ngươi” kiểu Socrate đó đã ngầm chứa một sự chấp nhận phận người. Chấp nhận phận người nghĩa là chấp nhận luôn cả đau khổ, bởi đau khổ là bóng mà cuộc đời là hình (5). Đồng thời chấp nhận cả thỏa hiệp (những xung đột nội tâm của nhân vật Demian hoặc của Harry Haller tự chúng đã đòi hỏi một thế quân bình, một thỏa hiệp, một luật tắc, một ý thức sáng suốt về thiện và ác, và từ đó mới không ngã vào hỗn mang, đạo đức cũng như xã hội). Chấp nhận tất cả như thế để thực hiện số phận mình, để giải độc tinh thần, cứu vãn những giá trị tinh thần đang đắm, cứu vãn trí tuệ, để thôi hoài nghi, để tạo dựng một nhân loại mới. Để giải thoát, nói ngắn đi (6).

Trong Narziss und Goldmund, lại một tiểu thuyết khác về sự xung đột giữa tinh thần (Geist) và bản năng (instinkt), cũng vậy. Chán đời, chán thế giới, nhà điêu khác Goldmund tìm một nơi an nghỉ trong một tu viện của Cha Narziss, nhưng không tu, mà đi trốn vào nghệ thuật mình, tạc tượng từ đá, sống với những hình nét muôn đời đó, coi là một tiếng của trí tuệ nó dứt con người ra khỏi những thúc phọc của xác thịt. Nhưng rồi Goldmund lại vào đời, giã từ tu viện, nghĩa là giã từ thúc phọc và bổn phận, đi tìm tự do, sáng tác thêm nữa, và nhân đó không còn thấy sợ chết. Goldmund đã chấp nhận phận người tình yêu, khoái lạc, nỗi xót xa, đau buồn, bản năng, và sự chết.

Chủ nghĩa nhân bản của Hesse là một tổng hợp tài tình của đạo và đời, của paganismechristianisme, hình thành trong một nhà tu kín và trong căn hầm một nghệ sĩ. Từ đó, thôi ám ảnh về tội tổ tông, thôi ám ảnh về huyệt tối. Chủ nghĩa nhân bản của Hesse chống lại thẳng cánh những quan niệm về bổn phận của Kant, và chấp nhận hết thảy: đạo và / hoặ đời, tinh thần và / hoặc bản năng, và giải thoát con người toàn diện, và mỗi cuộc đời là một ý nghĩa tự nó, là một chứng minh cho chính nó. Và rồi giải thoát thế giới bằng grâce của trí tuệ, sưởi ấm thế giới cũng như kiếp người cô lạnh bằng ngọn lửa của sáng tạo.

*

Và trong những giông tố ở Âu Châu suốt hai thế chiến, tiếng nói của Hesse chỉ là tiếng kêu loài chim sẻ một đêm mưa bão, bên cạnh những tiếng mìn nổ tung chát chúa. Ngọn lửa Hesse là một ngọn lửa đều nên sáng lâu, nhưng cũng chỉ là một ngọn lửa cô đơn trong rừng khuya tối mù những chán chường, những hoài nghi, những con người nửa người-nửa sói.

Và “Ý thức hệ”, gài mìn trong trí tuệ. Và ta chết vì đó. Chết mà không thèm cười.
Hôm nay. Hôm qua. Ngày mai.
 
Thạch Chương
(Sài Gòn, X/1966)
 
---
(1)   Gefror’ne Tropfen fallen von meinen Wangen ab, ob es mir denn entgagen, dass ich geweinet hab’? (Có vài giọt lệ thành băng rơi xuống mà tôi, có thực là tôi đã khóc mà không biết?)

(2)   Xem Hugo Ball, Hermann Hesse _ Sein Leben und Sein Werk (Suhrkramp V., erlin, 1956), và Helmut Waibler, H. Hesse – Eine Bibliographic (Bern, 1962). Cũng nên đọc Maurice Boucher, Le Roman Allemand (1914-1933) et la Crise de  l’Esprit (Presses Univeritaires de France, Paris, 1961).

(3)   Cf. Goldmann, Introduction aux premiers e1crils de Georges Lukaes, trong La The1orie du Roman của George Lukaes, tr. 171 (Gonthier, Berlin – Spandau, 1963): “… le roman est la forme litte1raire de la maturite1 virile.”

(4)   Schumann, cũng như Hesse sau này, đã nhận ra đặc điểm đó, và đầu đề một khúc viết cho dương cầm trong tập Cảnh Tượng Ấu Thơ là: “Fast zu ernst !” – “Gần như quá nghiêm trang!”

(5)   Đến đây ta mới thấy ảnh hưởng vô cùng lớn lao của Dostoyevsky trong văn chương Đức, và cái đạo đức Tin Lành của Hesse cũng chính là đạo đức của Dostoyesky vậy. Chính Hesse cũng đã viết một bài khảo luận về Anh Em Nhà Họ Karamazop và cùng với Dostoyevsky chấp nhận cái “tính người” ở mỗi con người: một Karamazov nào cũng vừa là quan tòa vừa là tội nhân, vừa hung dữ vừa hiền lành, vừa thô bạo vừa thanh nhã, hắn cùng một lúc là kẻ tục trần, vị thánh, thằng say, thi sĩ, tội nhân và kẻ tử vì đạo.

(6)   So sánh với Camus thời kỳ L’Homme Revolle1, La Chute, về điểm này, ef. Trình bày và Phê bình Hai Quan niệm Nổi loạn của Albert Camus của tôi đã đăng trong môt số Sáng Tạo, bộ mới (Sài Gòn 1969)
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.