Hôm nay,  

HERMANN HESSE: Ngọn Lửa Nhỏ Ngoài Đêm Bão Lạnh

10/06/202200:00:00(Xem: 1175)

Herman
Cung Tiến là một tên tuổi lớn của âm nhac Việt Nam, nhưng ông cũng là một tác giả có nhiều đóng góp vào hai mươi năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, Ông đã sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mời đọc lại một bài viết về Hermann Hesse của Thạch Chương, tức nhạc sĩ Cung Tiến.

  

Tâm hồn Đức là một tâm hồn lãng mạn tự bản chất. Lãng mạn và bất kháng cự, và trong sự bất kháng cự đó còn có thể tìm thấy một khoái lạc rất thực sự. Và bởi vậy cũng dễ hiểu cái tình yêu thiên nhiên của mọi tâm hồn Đức, một tình yêu tiêu cực, quên mình, buông thả, một tình yêu của đàn bà – gió thổi qua tóc, nước suối dưới chân, và trăng dội sáng lạnh vào cơ thể, mà ta nằm để mặc cho sao rơi vào mắt, và ta khóc. Cái khóc vô cùng ngây thơ của Schubert trong những khúc lied – chẳng hạn tập Du Hành Mùa Đông, phổ thơ của Muller, kể truyện một người con trai bị tình phụ, bỏ làng ra đi trong mùa đông --: những Gefror’ne Thran’aus (Những giọt lệ thành băng) (1) những Manche Thran’ aus meinen Augen ist gefallen in den Schnee (Biết bao là lệ từ mắt tôi rơi xuống tuyết) trong bản Wasserfluth (Dòng nước chảy).

Và rồi trong bản Letzte Hoffnung (Hy vọng cuối cùng), người con trai nhìn một cánh lá mùa đông , sắp rụng mà chính mình run rẩy, bởi nếu nó rụng thì niềm hy vọng của chàng cũng sẽ rụng theo nó, và rồi wei’n, wei’n auf meiner Hoffnung Grab (khóc, khóc trên nấm mồ hy vọng của tôi)!

Hãy những giọt lệ của Shcumann, của Brahms: ôi những tâm hồn lãng mạn đáng quý đã qua!

Những kẻ thích nhạc lãng mạn Đức (khởi từ Beethoven và cực thịnh ở Wagner) nhất định phải thích Hesse, một tâm hồn Đức điển hình: ưa huyền bí, nhất là cái huyền bí đông phương từ Ấn Độ (Hesse có qua viếng xứ này năm 34 tuổi), yêu thiên nhiên, có thú giang hồ, (người ta còn nhớ những vụ bỏ nhà, bỏ trường ra đi của Hesse hồi nhỏ, và đặc biệt sự từ bỏ tu viện để “vào đời” của Ông (2), có những tình tự của một nhạc sĩ, hồn nhiên, bình thản. Hermann Hesse, thi sĩ hồi thiếu niên, tác giả những truyện ngắn hồi thanh niên (3), còn là một nhà văn nhân bản cổ điển(từ đó, giải Nobel 1946), một ý thức sáng chói (nhưng rồi chỉ le lói qua những cơn giông và thảm kịch thời đại), và, cuối cùng, đã tìm về nơi an nghỉ trong lòng Giáo hội Cơ đốc.

Cái nhân bản chủ nghĩa cổ điển ở Hesse được đặc biệt trình bày trong một truyện dài của Ông mà tôi yêu thích nhất

Der Steppenwolf (Con chó sói vùng hoang nguyên): Nhận rằng có những giá trị thực sự, nhận rằng chúng chỉ tương đối, rồi từ đó chấp nhận phận người, chẳng cần làm Ác Quỷ hay Thiên Thần, hay Thượng Đế, để khỏi phải giết nhân loại với mục đích giải cứu nó, Der Steppenwolf, hiển nhiên, biểu tượng một nhân vật nửa người nửa sói, điển hình của cả thế hệ thanh niên Đức mất hết niềm tin ở mọi giá trị tinh thần, một thế hệ bú mớm hoài nghi – hoài nghi giá trị của trí tuệ, hoài nghi ý niệm về phổ quát, hoài nghi hiệu lực của mọi quy luật. Chỉ còn một điều chắc: xã hội xấu, văn minh là nguồn gốc của đau khổ, cuộc đời là một địa ngục: nhưng Hesse chấp nhận hết thảy, với môi cườ, để, rất bình thường, sống trọn một đời người, Homo humanus!

Nhưng cần phải biết cười mình (một điểm rất không Đức chút nào), quên mình đi, phê phán mình nữa nếu cần: cái ironie dễ thương đó, mà rất hiếm tâm hồn Đức có (4), lại là một bài học trong Steppenwolf: Mozart khuyên Harry Haller là “đừng coi mình quan trọng quá”, “phải tập cười. Nhưng Haller, con người nửa sói nửa người đó, đã không thể làm được như thế.

Cái chủ nghĩa nhân bản cổ điển đó, cùng với sự tôn thờ cá nhân, về sau còn ám ảnh Hesse hoài không thôi: trong truyện ngắn Sự Trở Về của Zarathustra: Sau chiến tranh, giữa thời bạo động, đâu đâu cũng có những nhà hùng biện cho diễn văn, thì nhà tiên tri Zarathustra quay trở về, đứng dựa lưng vào tường lặng yên và khinh bỉ nghe họ. Nhưng ai cũng nghe tin nhà tiên tri này đã trở về và chạy đến tìm, nhưng Zarathustra trả lời rằng ông không có ý thức hệ hay hệ thống nào hết để truyền dạy và do đó không thể chỉ cách cai trị dân chúng ra sao v.v… Nhưng ông chỉ có một lời khuyên: “Hay là chính các ngươi như chính ta đã học làm Zarathustra.” Nhưng cái “biết ngươi” kiểu Socrate đó đã ngầm chứa một sự chấp nhận phận người. Chấp nhận phận người nghĩa là chấp nhận luôn cả đau khổ, bởi đau khổ là bóng mà cuộc đời là hình (5). Đồng thời chấp nhận cả thỏa hiệp (những xung đột nội tâm của nhân vật Demian hoặc của Harry Haller tự chúng đã đòi hỏi một thế quân bình, một thỏa hiệp, một luật tắc, một ý thức sáng suốt về thiện và ác, và từ đó mới không ngã vào hỗn mang, đạo đức cũng như xã hội). Chấp nhận tất cả như thế để thực hiện số phận mình, để giải độc tinh thần, cứu vãn những giá trị tinh thần đang đắm, cứu vãn trí tuệ, để thôi hoài nghi, để tạo dựng một nhân loại mới. Để giải thoát, nói ngắn đi (6).

Trong Narziss und Goldmund, lại một tiểu thuyết khác về sự xung đột giữa tinh thần (Geist) và bản năng (instinkt), cũng vậy. Chán đời, chán thế giới, nhà điêu khác Goldmund tìm một nơi an nghỉ trong một tu viện của Cha Narziss, nhưng không tu, mà đi trốn vào nghệ thuật mình, tạc tượng từ đá, sống với những hình nét muôn đời đó, coi là một tiếng của trí tuệ nó dứt con người ra khỏi những thúc phọc của xác thịt. Nhưng rồi Goldmund lại vào đời, giã từ tu viện, nghĩa là giã từ thúc phọc và bổn phận, đi tìm tự do, sáng tác thêm nữa, và nhân đó không còn thấy sợ chết. Goldmund đã chấp nhận phận người tình yêu, khoái lạc, nỗi xót xa, đau buồn, bản năng, và sự chết.

Chủ nghĩa nhân bản của Hesse là một tổng hợp tài tình của đạo và đời, của paganismechristianisme, hình thành trong một nhà tu kín và trong căn hầm một nghệ sĩ. Từ đó, thôi ám ảnh về tội tổ tông, thôi ám ảnh về huyệt tối. Chủ nghĩa nhân bản của Hesse chống lại thẳng cánh những quan niệm về bổn phận của Kant, và chấp nhận hết thảy: đạo và / hoặ đời, tinh thần và / hoặc bản năng, và giải thoát con người toàn diện, và mỗi cuộc đời là một ý nghĩa tự nó, là một chứng minh cho chính nó. Và rồi giải thoát thế giới bằng grâce của trí tuệ, sưởi ấm thế giới cũng như kiếp người cô lạnh bằng ngọn lửa của sáng tạo.

*

Và trong những giông tố ở Âu Châu suốt hai thế chiến, tiếng nói của Hesse chỉ là tiếng kêu loài chim sẻ một đêm mưa bão, bên cạnh những tiếng mìn nổ tung chát chúa. Ngọn lửa Hesse là một ngọn lửa đều nên sáng lâu, nhưng cũng chỉ là một ngọn lửa cô đơn trong rừng khuya tối mù những chán chường, những hoài nghi, những con người nửa người-nửa sói.

Và “Ý thức hệ”, gài mìn trong trí tuệ. Và ta chết vì đó. Chết mà không thèm cười.
Hôm nay. Hôm qua. Ngày mai.
 
Thạch Chương
(Sài Gòn, X/1966)
 
---
(1)   Gefror’ne Tropfen fallen von meinen Wangen ab, ob es mir denn entgagen, dass ich geweinet hab’? (Có vài giọt lệ thành băng rơi xuống mà tôi, có thực là tôi đã khóc mà không biết?)

(2)   Xem Hugo Ball, Hermann Hesse _ Sein Leben und Sein Werk (Suhrkramp V., erlin, 1956), và Helmut Waibler, H. Hesse – Eine Bibliographic (Bern, 1962). Cũng nên đọc Maurice Boucher, Le Roman Allemand (1914-1933) et la Crise de  l’Esprit (Presses Univeritaires de France, Paris, 1961).

(3)   Cf. Goldmann, Introduction aux premiers e1crils de Georges Lukaes, trong La The1orie du Roman của George Lukaes, tr. 171 (Gonthier, Berlin – Spandau, 1963): “… le roman est la forme litte1raire de la maturite1 virile.”

(4)   Schumann, cũng như Hesse sau này, đã nhận ra đặc điểm đó, và đầu đề một khúc viết cho dương cầm trong tập Cảnh Tượng Ấu Thơ là: “Fast zu ernst !” – “Gần như quá nghiêm trang!”

(5)   Đến đây ta mới thấy ảnh hưởng vô cùng lớn lao của Dostoyevsky trong văn chương Đức, và cái đạo đức Tin Lành của Hesse cũng chính là đạo đức của Dostoyesky vậy. Chính Hesse cũng đã viết một bài khảo luận về Anh Em Nhà Họ Karamazop và cùng với Dostoyevsky chấp nhận cái “tính người” ở mỗi con người: một Karamazov nào cũng vừa là quan tòa vừa là tội nhân, vừa hung dữ vừa hiền lành, vừa thô bạo vừa thanh nhã, hắn cùng một lúc là kẻ tục trần, vị thánh, thằng say, thi sĩ, tội nhân và kẻ tử vì đạo.

(6)   So sánh với Camus thời kỳ L’Homme Revolle1, La Chute, về điểm này, ef. Trình bày và Phê bình Hai Quan niệm Nổi loạn của Albert Camus của tôi đã đăng trong môt số Sáng Tạo, bộ mới (Sài Gòn 1969)
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
Nhận được tin buồn nhà thơ Phan Xuân Sinh sau một cơn bạo bệnh, nhập viện vì bệnh tim mạch, hôn mê sau 10 ngày vô phương cứu chữa đã qua đời tại Texas ngày 28/2/2024. Thọ 76 tuổi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.