Hôm nay,  

Tách trà buổi sáng và ba dòng sông

14/04/202211:43:00(Xem: 2380)

Phật học

huetran

 

Trời cuối đông bỗng dưng nhiều gió khiến những nhành mai đang ra lá, vội nép vào nhau, thương cảm nhìn những đóa hồng tỷ muội run rẩy, mới nở đêm qua. Dọc theo bức tường ngoài hàng hiên, những khóm trúc nhẹ nhàng lay động, trấn an bụi hoa ngâu với những đóa nhỏ li ti, rằng mặt trời đang lên, chúng ta vẫn đồng hành dù ta xanh hay vàng, dù em tươi hay héo, chỉ là ngoại hình luân chuyển mà thôi!

 

Tách trà buổi sáng thơm hương chanh, gừng, trong tay hành giả dường như đang nghe được tâm tình vạn hữu mà cảm nhận những tương đồng lặng thầm nhưng chan hòa mầu nhiệm!

 

Tấm thân tứ đại vốn quen đòi hỏi và được nuông chiều này, trước vạn hữu lặng lẽ, bao la kia là gì? Vạn hữu nương nhau mà vượt qua những bất trắc, những biến động, nên thời gian và không gian luôn như những dòng sông xuôi chảy. Thuận dòng, sông vẫn chảy, ngược dòng, sông vẫn trôi. Có phải Thường và Ngã ngay trong Vô thường, Vô ngã đó không?

 

Bất chợt, những ngụm trà thơm đầu ngày, thấm vào cơ thể, dẫn tâm hành giả liên đới quán chiếu về một dòng sông nào đang trôi chảy.

 

Phải. Cơ thể ta cũng như một dòng sông. Mỗi tế bào trong đó là một giọt nước. Muôn giọt nước tế bào đó luôn xô đẩy nhau không ngừng, trong tiến trình tăng trưởng và biến diệt. Suốt tiến trình đó, tuy lặng thầm nhưng ta luôn cảm nhận được những biến chuyển. Đó là nhờ cảm thọ, là dòng sông thứ hai, luân lưu trong dòng sông cơ thể. Ở dòng sông cảm thọ, mỗi cảm giác cũng là một giọt nước và muôn giọt nước đó cũng xô đẩy nhau không ngừng trong những trạng huống hỷ, nộ, ái, ố, còn, mất, đầy, vơi, v.v. Chúng cũng luôn biến diệt.

 

Quán chiếu như thế trên dòng sông cơ thể và dòng sông cảm thọ, hành giả đều không thấy gì là thường và ngã vì bản chất của muôn giọt nước ở hai dòng sông đó luôn thay đổi, biến diệt. Vậy, phải có dòng sông nào khác, mới đang nhận biết bản chất vô thường, vô ngã của hai dòng sông trên?

 

Ồ, đó là Tri Giác, là dòng sông thứ ba. Dòng sông này len lỏi giữa dòng sông cơ thể và dòng sông cảm thọ để nhận diện, để thấy biết bản chất của hai dòng sông trên. Tuy mỗi giọt nước trong dòng sông tri giác cũng xô đẩy, cũng ảnh hưởng lẫn nhau trên đường tăng trưởng và hoại diệt nhưng mỗi giọt nước đều biết rằng chúng phải vận dụng trí huệ để đi tìm ánh mặt trời.

 

Ánh mặt trời đó là chánh niệm. Đem chánh niệm sáng rỡ soi vào bản chất của dòng sông cơ thể và dòng sông cảm thọ, sẽ nhìn ra lý duyên sinh vô ngã, vượt khỏi khái niệm về không gian và thời gian, vì không hẳn nhân có trước mới có quả. Như Mẹ và Con. Làm sao được là mẹ, nếu không có con? Bởi vì, phút con chào đời mới có người được gọi là mẹ. Bởi vì khi con bắt đầu tượng hình trong mẹ, thì con đã mang đủ chất liệu của mẹ rồi. Nên Mẹ và Con chung sinh, là co-arising, là nương vào nhau, có mặt một lần.

 

Dòng sông tri giác đang nhắc nhở hành giả, đây là ý niệm Duyên Khởi trong kinh Hoa Nghiêm. Tri giác chính xác thì thực tại hiển lộ; Tri giác sai lầm thì thực tại lặn chìm. Cho nên, dòng sông tri giác là người dẫn đường. Luẩn quẩn tà đạo thì mãi chìm đắm trong vô minh; Tìm ra chánh đạo sẽ thấy vạn hữu bao la với ta là một.

 

Trong vạn hữu có ta. Trong ta có vạn hữu. Ta chưa từng và không thể tách rời với vạn hữu vốn bao gồm phong, thủy, hỏa, thổ, mặt trăng, mặt trời …. là những gì chỉ ẩn, hiện, luân chuyển, mà chưa từng sinh diệt. Thân tứ đại cũng do đất, nước, gió, lửa mà thành. Vậy thân này có sinh diệt không, khi cũng cùng bản chất với vạn hữu?

 

Dòng sông tri giác đang đi vào Kinh #300 Tạp A Hàm để cất lời:

 

“Nhược thử hữu tức bỉ hữu

Nhược thử vô tức bỉ vô

Nhược thử sinh tức bỉ sinh

Nhược thử diệt tức bỉ diệt”

 

Cái này có mặt nên cái kia có mặt. Tất cả nằm trong một. Một trong tất cả. Quảng hiệp tự tại vô ngại. Tưởng chỉ cái lớn chứa cái nhỏ; nhưng thực chất, cái nhỏ cũng có thể ôm trọn cái lớn vì cái nhỏ đã hợp vào cái lớn. Như hạt cải trong mặt trời. Như vỏ ốc chứa đại dương.

 

Quán chiếu tới đây, hành giả đứng lên, ngước nhìn bầu trời đang chuyển mây xám. Đã lâu, nơi này vắng mưa. Ngụm trà bỗng ngân nga, buông lời trắc nghiệm:

 

Vầng mây xám,

bay ngang Trời Kiếp Trước

Tìm cơn mưa buốt lạnh ở Đời Sau

Hạt lệ ai, có trong ngày mưa ấy?

Mà tử sinh nào, ta thất lạc nhau!

 

Không đâu! Chúng ta chưa từng thất lạc nhau, bởi chúng ta Đã Có Trong Nhau từ vô lượng kiếp. Vạn hữu luôn chuyển hóa nên vô sinh bất diệt, như câu thư pháp trong thiền đường Xóm Mới “Les larmes que je versais hier, sont devenues pluie” (Giọt lệ tôi nhỏ xuống đêm qua, nay đã thành mưa).

 

Ngụm trà thầm mỉm cười tương đắc:

 

Vạn hữu luân lưu, chỉ là chuyển hoá

Hạt lệ hôm qua,

nay đang thành mưa

Nụ hôm nay, nở từ vô lượng kiếp

Chưa từng sanh,

chưa từng diệt bao giờ!

 

Bình đã cạn mà tách vẫn nâng lên vì hương trà còn đượm trong không gian Bát-nhã: không trước, không sau, không sanh, không diệt …

 

Vầng mây xám,

bay ngang Trời Kiếp Trước

Tìm cơn mưa buốt lạnh ở Đời Sau

Hạt lệ ai,

dẫu trong ngày mưa ấy

Không tử sinh nào,

thất lạc được nhau.

 

Huệ Trân

(Tào Khê Tịnh Thất – mưa đầu mùa)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.