Hôm nay,  

Theo Bóng Thời Gian Vào Cõi Thơ Của Thy An

25/09/202000:00:00(Xem: 3247)

HINH BIA TAP THO CUA THY AN

Hình bìa tập thơ “Thơ Đi Về Một Góc Đời” của Thy An.


Dường như đối với nhiều người, thời gian chỉ là bước đi thầm lặng và quen thuộc của mọi thứ có mặt trên trần gian trong vận hành liên lỉ của xuân hạ thu đông. Nhưng đối với nhà thơ Thy An, thời gian mang ý nghĩa đặc biệt.

 

“ngày trông thế sự bi hài

đêm mang thiên cổ giải bày chuyện xưa”

 

Hai câu thơ trên được trích từ bài thơ “Lục Bát Tha Hương” trong tuyển tập “Thơ Đi Về Một Góc Đời” được xuất bản vào giữa năm 2020 của nhà thơ Thy An.

Tập thơ dày trên 220 trang với hơn 100 bài thơ. Nhà thơ Thy An đã có trên 6 tác phẩm được ấn hành từ năm 1968 đến nay. Anh có thơ đăng trên nhiều trang văn học như Hợp Lưu, Da Màu, v.v…

Trong tuyển tập “Thơ Đi Về Một Góc Đời” người đọc thấy dấu vết của thời gian có mặt khắp nơi trong các bài thơ. Chẳng hạn, “Bài thơ cho tháng mười một,” “Bài thơ tám chữ đầu năm,” “Bước chân tháng 5,” “Cái nóng bất thường tháng tư,” “Cảm tưởng lạ đầu năm,” “Chiếc xe bò chiều thu,” “Chiều tháng mười một,” “Chờ một ngày…” “Chút buồn hôm nay,” “Cúng thất tuần của bạn,” “Cuối hạ chào đêm,” “Đêm mưa âm lịch đầu năm,” “Độc thoại mùa đông,” “Gối đầu lên đá tháng tư,” “Mùa đông giấu chữ nghĩa,” “Mùa thu ngôn ngữ trụ lại,” “Mùa xuân đợi bình minh,” “Tháng ba như mộng ảo,” “Tháng bảy 2018,” “Tháng chín nhìn mặt trời,” “Tháng giêng treo nỗi buồn,” “Tháng hai, tháng ba ta trở về,” “Tháng sáu lặng lẽ,” “Tháng tám em về,” “Tháng tư giọt mưa buồn,” “Thơ tháng chín,” “Tiễn tháng mười hai,”…

Có lẽ tôi chưa bao giờ đọc một tuyển tập thơ nào mà bóng dáng của thời gian rọi dài theo con chữ như tuyển tập thơ của Thy An. Âm ba và hình ảnh của bốn mùa xuân hạ thu đông, cùng với dấu vết thời gian từng tháng, từ tháng giêng tới tháng chạp, từ Tết ta đến Tết tây dập dìu nối tiếp nhau đi mãi trong thơ của anh.

 

vì thời gian hiếm hoi còn lại

sẽ cạn dần theo năm tháng tiêu hao…

(Thy An, Lời Độc Thoại)

 

Phải chăng vì sợ thời gian “cạn dần theo năm tháng” sẽ làm “tiêu hao” những gì quý giá của đời người, nên lúc nào anh cũng không quên nghĩ đến thời gian.

Nhưng thời gian của Thy An không phải là bước đi biến dịch vô tri của không gian. Nó là bước nhảy của tâm thức quyện tròn theo vũ điệu của thể mệnh con người anh.

Thơ của Thy An chảy theo dòng thời gian đó. Có lúc êm xuôi như cơn nắng quái của buổi chiều tà nơi ngọn đồi thơ mộng. Có khi dạt dào rộn rã như tiếng sóng nơi bãi biển cô liêu. Và cũng có khi trầm lắng mênh mông như ánh trăng huyền ảo của đêm thu lành lạnh ở một góc trời nào xa xăm miền viễn xứ.

Thời gian của Thy An chuyên chở nhiều thứ lắm: kỷ niệm vui buồn, tình yêu được mất, quê hương yêu dấu một thời, hiện thực đất nước tối tăm…

 

một ngày cuối tháng tư

em hãy nhắm mắt tưởng tượng

những con sâu, con dế trên cánh đồng khô cạn

những đền đài lăng tẩm mang những khổ ải

nếu còn can đảm và tình yêu cho nhân gian

em hãy thắp lên chút lửa từ bóng tối

thấy bóng mình in trên tường

lặng lẽ và cô đơn như quê hương…

(Thy An, Nói Cùng Em Cuối Tháng Tư)

 

Quê hương trong thơ của Thy An qua cỗ xe thời gian chứa đầy những ký ức của một thời lịch sử quá khứ oai hùng và những hình ảnh rất thân thiết mà một thời nhà thơ đã cảm nghiệm.

 

nhớ chuyến xe đời cọc cạch chở thúng hoa vào chợ

những người đàn bà tay bế tay bồng

nuôi bao đứa con khôn lớn bên sông

nhớ giọng trầm trầm của thầy, của cô

của cha của mẹ

dạy bài học thuộc lòng

lịch sử anh hùng với những con người ngửa cổ xem thường cái chết

về những pho tượng đồng, khuôn mặt sống mãi với thời gian

về đạo làm người giấy rách giữ lề

tổ tiên từ ngàn xưa đã viết và sống trong nhân cách

nhớ từng khuôn mặt bạn bè ngày xưa bỡn cợt

thoáng chốc hơn năm mươi năm

(Thy An, Những Nỗi Nhớ Đầu Năm)

 

Quê hương trong thơ Thy An còn là một “đất nước điêu tàn…”

 

mảnh quê hương đất nước điêu tàn…

và rồi sẽ còn bao nhiêu cánh cửa khác

khép lại từng nỗi niềm ký ức

trầm luân điệp khúc buồn

vầng trăng buổi tối phù du?

(Thy An, Nơi Ấy)

 

Nhìn cuộc đời qua lăng kính “phù du” nên tình yêu của Thy An cũng “phiêu bồng lãng đãng.”

 

bởi vì em là người lữ hành cô độc

nên anh sẽ đọc em nghe

bài thơ viết bằng hơi thở của đêm

và sương mai buổi sớm

anh sẽ gom lửa từ vạn tinh cầu

thắp lên ngọn nến hồng tàn lụi

chứng tích của trái tim anh

phiêu bồng lãng đãng

rọi xuống đời nhau khoảng tối âm u

(Thy An, Bởi Vì Em)

 

Có lúc nhà thơ trầm tư về thân phận con người và anh đã nhìn ra cái đầu mối cơ bản mà từ đó chúng ta bị quay cuồng trong cõi trần ai. Anh đã thấy rằng tâm thức cuốn trong ngũ uẩn là căn nguyên của mọi vấn đề.

 

mai này huyễn ảo mùa trăng

nhớ chi cổ độ còn chăng bến mờ

ngắn câu, nỗi nhớ thành thơ

dài lời, trăn trở hững hỡ tiếng ca

về đâu tâm thức ta bà

cuốn trong ngũ uẩn mặn mà trần ai

(Thy An, Lục Bát Tha Hương)

 

Ngũ uẩn là năm yếu tố cấu tạo con người: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là thân thể vật chất. Thọ là cảm thọ khi năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân) tiếp xúc với năm trần cảnh (hình và màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị ngọt đắng cay bùi…, xúc chạm). Tưởng là giữ lấy trần cảnh đó trong tâm. Hành là khởi ý niệm. Thức là ý thức nhận biết và phân biệt. Ngũ uẩn là ngục thất giam giữ con người trong cõi trần ai. Cho nên, khi giác ngộ được bản chất không có tự ngã, hay không có tự tánh của ngũ uẩn thì tức khắc giải thoát, như trong Tâm Kinh Bát Nhã có nói rằng khi Bồ Tát Quán Tự Tại quán chiếu năm uẩn đều không thì giải thoát mọi khổ đau – “Quán Tự Tại Bồ Tát hành, thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”

 

bao năm tháng chẳng hiểu vô thường vi diệu

học tâm kinh ào ạt gió tạt đầu sông

nghe run rẩy con tim nặng chìm vọng động

nhìn áo cà sa trôi nhẹ tựa lông hồng

 

cầm hạt bụi ướt sương đi vào vườn trúc

mở cổng chùa xưa như kẽo kẹt dưới trăng

điều gì đó long lanh trong từng ánh mắt

cười vu vơ thơ gõ nhẹ xuống lưng đời…

(Thy An, Lang Thang Vườn Trúc)

 

Thời gian của Thy An không ra đi biền biệt như mũi tên bắn ra không quay lại, hay như lữ khách đi lạc đường về. Thời gian trong thơ của Thy An là con đường đi về, quay về sau những chuyến đi dài trên hành trình sanh tử trầm luân, cho dù với “nỗi truân chuyên đời.”

 

ta về ấm lại mùa xuân

mưa rơi ướt đẫm nỗi truân chuyên đời

chân như gieo tiếng gọi mời

lần theo bóng hạc mấy lời từ tâm

(Thy An, Trên Tay Kinh Rụng)

 

Hay:

 

ta về ray rứt thiên thu

chân đi xiêu vẹo bến mù cõi xưa

mở ra mấy cửa đại thừa

trên tay kinh rụng lọc lừa phù sinh

vườn em hoa nở một mình

mấy cành sương đọng an bình tâm can

leo thuyền bát nhã lên ngàn

nghe đâu chuyển tiếp muộn màng pháp luân

(Thy An, Trên Tay Kinh Rụng)

 

Dường như đây là bài thơ lục bát duy nhất trong toàn bộ tuyển tập Thơ Đi Về Một Góc Đời của Thy An. Hầu hết các bài thơ đều ở thể tự do. Thơ của anh nhẹ nhàng và không cầu kỳ nên đọc lên thì chữ nghĩa bay thẳng vào tâm ý người đọc. Có điều khá đặc biệt là thơ anh bàng bạc tư tưởng Phật Giáo nhìn thấu suốt vào bản chất cuộc đời và phảng phất hương vị giải thoát.

 

lời kinh xưa rụng xuống nhiệm mầu

bụi phấn thanh xuân bay theo gió lạnh

chợt thấy bóng ngã trên đường vắng

mấy nhịp sầu lên vạt nắng thiết tha

(Thy An, Mưa Trên Đôi Vai Gầy Đạm Bạc)

 

Cho dù cuộc đời có sầu khổ thì cũng nhẹ và mỏng như “bụi phấn thanh xuân” bay theo gió, hay như “vạt nắng thiết tha.”

Góc đời của nhà thơ Thy An là thế!

Cảm ơn Thy An.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.