Hôm nay,  

Phụ Nữ Độc Thân: Từ Danh Đến Thực

06/03/202000:00:00(Xem: 5068)

Phu nu doc than new 01
Bức hình năm 1797 mô tả 3 ‘người gái già’ dẫn đầu đàn vượn trong địa ngục. (© Trustees of the British Museum, CC BY-NC-SA, từ web www.theconversation.com )

 

Cuộc đời là vô thường vì vậy mọi thứ đều không ngừng thay đổi kể cả các nền văn hóa, các chuẩn mực hoặc tập quán xã hội. Cách nay khoảng nửa thế kỷ những người độc thân cảm thấy rất “tủi thân” vì cuộc sống cá nhân đơn độc hoặc vì cái nhìn của xã hội đối với những người như thế không hoàn toàn cảm thông và cởi mở. Ngày nay thì khác. Phụ nữ sống độc thân rất vui vẻ, yêu đời đối với bản thân trong khi xã hội cũng không còn có cái nhìn dị biệt hay nghiêm khắc nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí Mỹ Vogue được đăng trên trang mạng www.theconversation.com, nữ diễn viên nổi tiếng trong bộ phim Harry Potter là Emma Watson công khai về chuyện cô là người phụ nữ 30 tuổi độc thân. Tuy nhiên, thay vì tự gọi mình là độc thân cô dùng chữ “tự làm bạn” [self-partnered].

Watson nói rằng cô đã nghiên cứu và viết về lịch sử của người phụ nữ độc thân, và đây là lần đầu tiên cô dùng chữ “tự làm bạn.” Cô nói sẽ xem xét liệu chữ này có phù hợp không, nếu có, nó sẽ tham gia vào danh sách các từ đang phát triển không ngừng được sử dụng để mô tả phụ nữ độc thân ở một độ tuổi nhất định nào đó.

Người phụ nữ đã từng được gọi là người chưa chồng [spinster] cuối cùng đã được gọi là những người gái già [old maids]. Tại New England vào thế kỷ thứ 17, cũng có những chữ như “thornback” – con cá đuối với nhiều ngạnh đầy gai – dùng để mô tả người phụ nữ độc thân hơn 25 tuổi.

Các thái độ đối với những người phụ nữ độc thân đã liên tục thay đổi – và một phần sự thay đổi thái độ đó được phản ảnh trong các tên được đặt cho những phụ nữ chưa kết hôn.

 

Sự gia tăng của phụ nữ độc thân

 

Trước thế kỷ 17, những phụ nữ nào chưa lập gia đình thì được gọi là ‘maid’ [con gái], ‘virgin’ [con gái còn trinh], hay ‘puella’ là chữ La Tinh để chỉ ‘con gái’. Những chữ này nhấn mạnh đến sự trẻ trung và trinh tiết, và chúng cho rằng các phụ nữ chỉ độc thân trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời của họ -- một khoảng thời gian “trước khi kết hôn.”

Nhưng vào thế kỷ thứ 17, các từ ngữ mới, như “spinster” [người chưa chồng] và “singlewoman” [phụ nữ độc thân],” đã phát sinh.

Điều gì đã thay đổi? Số phụ nữ chưa lập gia đình – hay những phụ nữ không bao giờ kết hôn – đã bắt đầu gia tăng.

Trong thập niên 1960s, nhà nhân khẩu học John Hajnal xác lập “Mô Hình Hôn Nhân Tại Tây Bắc Châu Âu,” mà trong đó người dân tại các quốc gia tây bắc Châu Âu như Anh Quốc đã bắt đầu kết hôn trễ -- trong độ tuổi 30 và ngay cả 40. Số lượng dân số đã không hề lập gia đình nhiều đáng kể. Trong khu vực này của Châu Âu, nó là kiểu mẫu đối với những cặp vợ chồng để bắt đầu một gia đình mới khi họ kết hôn, mà trong đó đòi hỏi tích lũy một số tài sản nhất định. Giống như hiện nay, những thanh niên và thanh nữ làm việc và tiết kiệm tiền bạc trước khi tiến tới việc xây dựng gia đình mới, một tiến trình thường làm trễ nãi việc hôn nhân. Nếu hôn nhân bị trễ quá lâu – hay nếu con người không thể tiết kiệm đủ tài sản – thì họ có thể không lập gia đình luôn.

Ngày nay các chữ này thì cần cho những phụ nữ độc thân lớn tuổi mà có thể không bao giờ lập gia đình. Chữ ‘spinster’ [người chưa chồng] đã chuyển đổi từ mô tả một vị trí công việc mà nhiều phụ nữ đảm đang – thợ xe len – trở thành một từ ngữ hợp pháp để chỉ cho một phụ nữ chưa lập gia đình sống độc lập.

Phụ nữ độc thân, trung bình, chiếm 30% dân số phụ nữ lớn tuổi tại Anh Quốc vào thời kỳ đầu hiện đại. Nghiên cứu riêng của Watson đối với thành phố Southampton cho thấy rằng vào năm 1698, có 34.2% phụ nữ trên 18 tuổi độc thân, 18.5% khác là phụ nữ góa chồng, và gần một nửa, hay 47.3% là phụ nữ đã kết hôn.

Nhiều người trong chúng ta cho rằng các xã hội trong quá khứ truyền thống hơn chúng ta, với hôn nhân phổ biến hơn. Nhưng tác phẩm của Walton cho thấy rằng tại nước Anh vào thế kỷ 17, bất cứ lúc nào, đều có nhiều phụ nữ không kết hôn hơn những phụ nữ có hôn nhân. Đó là phần bình thường của cuộc sống và văn hóa của kỷ nguyên đó.

 

‘Gái già xấu xí’

 

Vào cuối thập niên 1690s, từ ngữ người gái già đã trở thành thông thường. Sự diễn tả này nhấn mạnh đến sự nghịch lý của tuổi già và tuy nhiên vẫn còn trinh và chưa kết hôn. Nó không phải là từ ngữ duy nhất được đem ra thử; nền văn học của kỷ nguyên này cũng đã chọc cười “những gái trinh siêu hạng.” Nhưng bởi vì chữ “người gái già” dễ thốt ra nơi đầu lưỡi, nên nó là cái còn kẹt lại, có nghĩa là được nói đến nhiều.

Tác phẩm vô danh “A Satyr upon Old Maids” được viết vào năm 1713 đề cập đến những người phụ nữ không bao giờ kết hôn như là “khả ố,” “không sạch” và đáng ghét.

Tới thời điểm nào một phụ nữ trẻ độc thân trở thành gái già? Có lằn ranh dứt khoát: Trong thế kỷ 17, đó là khi một phụ nữ ở vào độ tuổi giữa 20s.

Thí dụ, nhà thơ độc thân Jane Barker đã viết trong bài thơ vào năm 1688 của cô, “A Virgin Life,” rằng là cô hy vọng cô có thể vẫn “Không sợ hãi tuổi hai mươi lăm và trọn cuộc hành trình, / Về những coi thường hay khinh rẻ, hay bị gọi là Gái Già.”

Những từ ngữ tiêu cực này xuất hiện khi số người phụ nữ độc thân tiếp tục gia tăng và tỉ lệ kết hôn đã sút giảm. Vào thập niên 1690s và đầu thập niên 1700s, theo Watson cho biết, các chính quyền Anh Quốc đã lo ngại về dân số giảm sút đến nỗi chính quyền phải ra luật Marriage Duty Tax, đòi hỏi những người chưa vợ, những người góa chồng và những phụ nữ độc thân phải trả một số tiền phạt vì không chịu kết hôn.

 

Chữ mới ‘tự làm bạn’

 

Ngày nay tại Hoa Kỳ, tuổi trung bình kết hôn đối với phụ nữ là 28. Đối với đàn ông là 30.

Đều chúng ta đang trải qua hiện nay không phải là lần đầu trong lịch sử; mà thực tế là chúng ta chủ yếu đã trở lại với mô thức hôn nhân đã phổ biến vào 300 năm trước, theo Watson. Từ thế kỷ thứ 18 tới giữa thế kỷ 20, tuổi trung bình để kết hôn lần đầu tiên đã giảm xuống còn 20 đối với thanh nữ và 22 đối với thanh niên. Rồi nó đã bắt đầu tăng lên lại.

Có một lý do mà Báo Vogue đã hỏi Watson về tình trạng độc thân của cô khi cô tới tuổi 30. Đối với nhiều người, 30 tuổi là cột mốc đối với người phụ nữ -- thời điểm khi mà nếu họ không sẵn sàng, thì họ được cho là sẽ đi từ sự tự do muốn làm gì thì làm và chưa yêu ai đến việc suy nghĩ về hôn nhân, một gia đình và một căn nhà.

Ngay dù bạn là người phụ nữ giàu có và nổi tiếng, thì bạn cũng không thể thoát được tín điều văn hóa này. Những người nổi tiếng thuộc nam giới dường như không bị tra vấn về việc họ độc thân và tuổi 30.

Trong khi hiện tại không ai gọi Watson là một người chưa chồng hay cô gái già, tuy nhiên cô cảm thấy bắt buộc phải tạo ra một từ ngữ mới cho tình trạng của cô: “tự làm bạn.” Trong điều mà một số người đã gọi là “tuổi tự chăm sóc mình,” có lẽ từ ngữ này không gây ngạc nhiên. “Có thể nói, tôi chú tâm vào chính mình và các mục tiêu và nhu cầu của chính tôi. Tôi không cần để ý đến người khác, cho dù đó là một người bạn đời hay đứa con,” theo Watson phát biểu.

Watson cho biết rằng đối với cô, thật là mỉa mai rằng từ ngữ “tự làm bạn” có vẻ nâng cao tình trạng cặp đôi. Người chưa chồng, phụ nữ độc thân hay người độc thân: Không một từ ngữ nào trong đó công khai nói đến một người bạn đời vắng mặt. Nhưng tự làm bạn gợi lên sự thiếu mất một nửa kia tốt hơn.

Trong khi đó trong một bài viết có tựa đề “More people than ever before are single – and that’s a good thing” [Ngày càng có nhiều người độc thân hơn bao giờ hết – và đó là điều tốt] đăng trên trang mạng www.theconversation.com cho rằng thế kỷ 21 là thời đại của cuộc sống độc thân.

 

Phu nu doc than new 02
Phụ nữ độc thân hưởng thụ thú vui đi du lịch một mình.(nguồn: www.pixabay.com )



Thế kỷ 21 là thời đại sống độc thân

 

Ngày nay, số ngưởi lớn tuổi độc thân tại Hoa Kỳ - và nhiều quốc gia khác trên thế giới – là nhiều chưa từng có. Và những con số này không chỉ cho thấy rằng con người đang sống độc thân lâu hơn trước khi ổn định cuộc sống. Ngày càng có nhiều người sống độc thân trọn đời. Một phúc trình vào năm 2014 của Pew Report phỏng đoán rằng vào thời điểm đó những người thanh niên nam nữ đạt tới tuổi 50, khoảng ¼ trong số họ không bao giờ kết hôn.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, loại gia đình gia tăng nhanh nhất kể từ thập niên 1980s là người độc thân. Trước đây cả xã hội không phổ biến và không được chấp nhận do vai trò nhận thức, ý thức cộng đồng, các yếu tố kinh tế xã hội hiện đại và giáo dục và nghề nghiệp ngày càng phổ biến và lâu dài đã biến lối sống độc thân trở thành một lựa chọn khả thi cho nhiều người Mỹ, đặc biệt là sau Chiến Tranh Việt Nam.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, trong năm 2016 người trưởng thành độc thân đã chiếm hơn 45% dân số Hoa Kỳ. 65% trong nhóm này chưa bao giờ kết hôn. Trong năm 2014, Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cho thấy rằng phần trăm cao nhất của những người lớn tuổi không bao giờ lập gia đình giữa những người Mỹ da trắng, da đen, La Tinh và Châu Á là những người Mỹ da đen. Cùng nghiên cứu này cũng dự đoán rằng khoảng 25% thế hệ thiên niên kỷ có thể không kết hôn.

Uy thế của cuộc sống độc thân đã làm cho một số người hoảng sợ. Thí dụ, phúc trình của US News & World Report cảnh giác rằng nhiều người Mỹ nghĩ rằng các giá trị đạo đức của quốc gia là xấu và ngày càng tồi tệ hơn, và một trong những lý do hàng đầu cho mối quan tâm của những người này là có quá nhiều người còn độc thân.

Nhưng thay vì băn khoăn, có lẽ chúng ta nên ăn mừng.

Theo Bella DePaulo, Khoa Học Gia Về Dự Án tại Đại Học UC Santa Barbara, nói rằng, “Tôi là một nhà khoa học xã hội, và tôi đã bỏ ra 2 thập niên vừa qua để nghiên cứu và viết về người độc thân. Tôi phát hiện rằng sự trỗi dậy của cuộc sống độc thân là một lợi ích cho các thành phố và thị trấn và cộng đồng của chúng ta, của người thân và bạn bè và hàng xóm của chúng ta. Khuynh hướng này có cơ hội để tái xác định ý nghĩa truyền thống – và những giới hạn – của ngôi nhà, gia đình và cộng đồng.”

 

Tương quan gia đình xã hội

 

Trải qua nhiều năm, các cộng đồng trên khắp nước Mỹ đã được tổ chức bởi các nhóm gia đình hạt nhân sống trong những căn nhà ngoại ô. Nhưng có một số dấu hiệu về sự sắp xếp này đang diễn ra không tốt lắm.

Những căn nhà này thường rất cô lập – quá xa từ nơi làm việc và từ người này đến người kia. Theo một thăm dò toàn quốc diễn ra kể từ năm 1974, nhiều người Mỹ hiện nay ít thân thiện với làng giềng hơn bao giờ hết, với tình nghĩa bà con hàng xóm ở mức thấp nhất tại các vùng ngoại ô.

Nhưng thăm dò nói trên cũng cho thấy rằng người độc thân đang nhảy khỏi khuynh hướng đó. Thí dụ, họ có vẻ năng nỗ hơn người lập gia đình để khuyến khích, giúp đỡ và xã giao với bạn bè và láng giềng của họ. Họ cũng thích thăm viếng, ủng hộ, khuyên lơn và gặp gỡ với anh chị em và cha mẹ của họ nhiều hơn.

Thực tế, những người sống một mình thường là cuộc sống của các thành phố và thị trấn nơi họ ở. Họ có khuynh hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm dân quyền và các sự kiện cộng đồng, ghi danh nhiều hơn vào các lớp học nghệ thuật và âm nhạc, và đi ăn tối bên ngoài thường hơn những người sống với những người khác. Người độc thân, bất luận họ sống một mình hay với người khác, cũng tình nguyện nhiều hơn cho các tổ chức phục vụ xã hội, các nhóm giáo dục, các bệnh viện và các tổ chức cống hiến cho nghệ thuật nhiều hơn những người đã kết hôn.

 Ngược lại, khi các cặp vợ chồng dọn vào hay kết hôn, thì họ có khuynh hướng trở thành ốc đảo hơn, dù họ không có con cái.

 

Vui hay buồn

 

Không may, cuộc sống độc thân tiếp tục bị kỳ thị, với những người độc thân thường được cho là ít an toàn và tự cho mình là trung tâm hơn so với những người đã kết hôn. Họ được cho là chết sớm hơn, cô đơn và buồn bã.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về những người sống một mình thường cho thấy rằng hầu hết họ đều sống tốt; họ không cảm thấy cô độc, họ cũng không buồn rầu và cô đơn.

Các phúc trình về cái chết sớm của những người độc thân cũng đã được phóng đại lên rất nhiều, khi cho rằng hôn nhân biến những người độc thân đau khổ, bệnh hoạn thành người phối ngẫu hạnh phúc và khỏe mạnh.

Trong một ý nghĩa nào đó, người độc thân là những người đang sống đặc biệt hạnh phúc, theo Bella DePaulo cho biết.

Thí dụ, những người có mối quan hệ đa dạng hơn có khuynh hướng thỏa mãn hơn với cuộc sống của họ. Ngược lại, sự tẻ nhạt của các cặp vợ chồng chuyển đến sống chung hoặc kết hôn có thể khiến họ dễ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người sống độc thân phát triển sự tự tin hơn về quan điểm của chính họ và trải qua sự tăng trưởng và phát triển cá nhân nhiều hơn so với những người kết hôn. Chẳng hạn, họ coi trọng công việc có ý nghĩa hơn những người đã kết hôn. Họ cũng có thể có nhiều cơ hội hơn để hưởng thụ sự tĩnh mịch mà nhiều người trong số họ thưởng thức.

Thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy các thay đổi của những sắp xếp truyền thống của thế kỷ 21, như các gia đình nhiều thế hệ cho phép sự riêng tư và độc lập cũng như tương quan liên hệ xã hội. Những người khác - và không chỉ là những người rất trẻ - đang sống với bạn bè hoặc các gia đình khác của họ chọn.

Những phụ nữ độc thân thực sự muốn điều gì khi họ chọn đời sống một mình?

 

Phụ nữ độc thân muốn gì?

 

Trong bài viết “What Single Women Really Want,” đăng trên trang mạng www.psychologytoday.com Tiến Sĩ Bella DePaulo, đang sống độc thân, cho biết các ưu tiên hàng đầu của phụ nữ độc thân theo thăm dò 1,200 người mà các công ty Hill Holiday’s Origin và Match Media Group đã thực hiện như sau.

Ưu tiên số một của phụ nữ độc thân là sống cho chính họ. Gần một nửa (44%) những người trả lời thăm dò nói rằng đó là vấn đề ưu tiên nhất của họ.

Ưu tiên kế tiếp của các phụ nữ độc thân là tạo dựng sự nghiệp. Khoảng 1/3 phụ nữ độc thân (34%) nói rằng sự nghiệp là ưu tiên hơn mọi thứ khác.

Ưu tiên thứ ba của phụ nữ độc thân là an toàn tài chánh. Hơn ¼ (27%) người trả lời thăm dò nói rằng an toàn tài chánh là quan trọng nhất đối với họ.

Cũng trong bài viết của Bella DePaulo, thì yêu đương kết hôn là ưu tiên đứng hàng thứ 4 sau ba ưu tiên đầu nói trên.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.