Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Phụ Nữ Độc Thân: Từ Danh Đến Thực

06/03/202000:00:00(Xem: 2359)

Phu nu doc than new 01
Bức hình năm 1797 mô tả 3 ‘người gái già’ dẫn đầu đàn vượn trong địa ngục. (© Trustees of the British Museum, CC BY-NC-SA, từ web www.theconversation.com )

 

Cuộc đời là vô thường vì vậy mọi thứ đều không ngừng thay đổi kể cả các nền văn hóa, các chuẩn mực hoặc tập quán xã hội. Cách nay khoảng nửa thế kỷ những người độc thân cảm thấy rất “tủi thân” vì cuộc sống cá nhân đơn độc hoặc vì cái nhìn của xã hội đối với những người như thế không hoàn toàn cảm thông và cởi mở. Ngày nay thì khác. Phụ nữ sống độc thân rất vui vẻ, yêu đời đối với bản thân trong khi xã hội cũng không còn có cái nhìn dị biệt hay nghiêm khắc nữa.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí Mỹ Vogue được đăng trên trang mạng www.theconversation.com, nữ diễn viên nổi tiếng trong bộ phim Harry Potter là Emma Watson công khai về chuyện cô là người phụ nữ 30 tuổi độc thân. Tuy nhiên, thay vì tự gọi mình là độc thân cô dùng chữ “tự làm bạn” [self-partnered].

Watson nói rằng cô đã nghiên cứu và viết về lịch sử của người phụ nữ độc thân, và đây là lần đầu tiên cô dùng chữ “tự làm bạn.” Cô nói sẽ xem xét liệu chữ này có phù hợp không, nếu có, nó sẽ tham gia vào danh sách các từ đang phát triển không ngừng được sử dụng để mô tả phụ nữ độc thân ở một độ tuổi nhất định nào đó.

Người phụ nữ đã từng được gọi là người chưa chồng [spinster] cuối cùng đã được gọi là những người gái già [old maids]. Tại New England vào thế kỷ thứ 17, cũng có những chữ như “thornback” – con cá đuối với nhiều ngạnh đầy gai – dùng để mô tả người phụ nữ độc thân hơn 25 tuổi.

Các thái độ đối với những người phụ nữ độc thân đã liên tục thay đổi – và một phần sự thay đổi thái độ đó được phản ảnh trong các tên được đặt cho những phụ nữ chưa kết hôn.

 

Sự gia tăng của phụ nữ độc thân

 

Trước thế kỷ 17, những phụ nữ nào chưa lập gia đình thì được gọi là ‘maid’ [con gái], ‘virgin’ [con gái còn trinh], hay ‘puella’ là chữ La Tinh để chỉ ‘con gái’. Những chữ này nhấn mạnh đến sự trẻ trung và trinh tiết, và chúng cho rằng các phụ nữ chỉ độc thân trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời của họ -- một khoảng thời gian “trước khi kết hôn.”

Nhưng vào thế kỷ thứ 17, các từ ngữ mới, như “spinster” [người chưa chồng] và “singlewoman” [phụ nữ độc thân],” đã phát sinh.

Điều gì đã thay đổi? Số phụ nữ chưa lập gia đình – hay những phụ nữ không bao giờ kết hôn – đã bắt đầu gia tăng.

Trong thập niên 1960s, nhà nhân khẩu học John Hajnal xác lập “Mô Hình Hôn Nhân Tại Tây Bắc Châu Âu,” mà trong đó người dân tại các quốc gia tây bắc Châu Âu như Anh Quốc đã bắt đầu kết hôn trễ -- trong độ tuổi 30 và ngay cả 40. Số lượng dân số đã không hề lập gia đình nhiều đáng kể. Trong khu vực này của Châu Âu, nó là kiểu mẫu đối với những cặp vợ chồng để bắt đầu một gia đình mới khi họ kết hôn, mà trong đó đòi hỏi tích lũy một số tài sản nhất định. Giống như hiện nay, những thanh niên và thanh nữ làm việc và tiết kiệm tiền bạc trước khi tiến tới việc xây dựng gia đình mới, một tiến trình thường làm trễ nãi việc hôn nhân. Nếu hôn nhân bị trễ quá lâu – hay nếu con người không thể tiết kiệm đủ tài sản – thì họ có thể không lập gia đình luôn.

Ngày nay các chữ này thì cần cho những phụ nữ độc thân lớn tuổi mà có thể không bao giờ lập gia đình. Chữ ‘spinster’ [người chưa chồng] đã chuyển đổi từ mô tả một vị trí công việc mà nhiều phụ nữ đảm đang – thợ xe len – trở thành một từ ngữ hợp pháp để chỉ cho một phụ nữ chưa lập gia đình sống độc lập.

Phụ nữ độc thân, trung bình, chiếm 30% dân số phụ nữ lớn tuổi tại Anh Quốc vào thời kỳ đầu hiện đại. Nghiên cứu riêng của Watson đối với thành phố Southampton cho thấy rằng vào năm 1698, có 34.2% phụ nữ trên 18 tuổi độc thân, 18.5% khác là phụ nữ góa chồng, và gần một nửa, hay 47.3% là phụ nữ đã kết hôn.

Nhiều người trong chúng ta cho rằng các xã hội trong quá khứ truyền thống hơn chúng ta, với hôn nhân phổ biến hơn. Nhưng tác phẩm của Walton cho thấy rằng tại nước Anh vào thế kỷ 17, bất cứ lúc nào, đều có nhiều phụ nữ không kết hôn hơn những phụ nữ có hôn nhân. Đó là phần bình thường của cuộc sống và văn hóa của kỷ nguyên đó.

 

‘Gái già xấu xí’

 

Vào cuối thập niên 1690s, từ ngữ người gái già đã trở thành thông thường. Sự diễn tả này nhấn mạnh đến sự nghịch lý của tuổi già và tuy nhiên vẫn còn trinh và chưa kết hôn. Nó không phải là từ ngữ duy nhất được đem ra thử; nền văn học của kỷ nguyên này cũng đã chọc cười “những gái trinh siêu hạng.” Nhưng bởi vì chữ “người gái già” dễ thốt ra nơi đầu lưỡi, nên nó là cái còn kẹt lại, có nghĩa là được nói đến nhiều.

Tác phẩm vô danh “A Satyr upon Old Maids” được viết vào năm 1713 đề cập đến những người phụ nữ không bao giờ kết hôn như là “khả ố,” “không sạch” và đáng ghét.

Tới thời điểm nào một phụ nữ trẻ độc thân trở thành gái già? Có lằn ranh dứt khoát: Trong thế kỷ 17, đó là khi một phụ nữ ở vào độ tuổi giữa 20s.

Thí dụ, nhà thơ độc thân Jane Barker đã viết trong bài thơ vào năm 1688 của cô, “A Virgin Life,” rằng là cô hy vọng cô có thể vẫn “Không sợ hãi tuổi hai mươi lăm và trọn cuộc hành trình, / Về những coi thường hay khinh rẻ, hay bị gọi là Gái Già.”

Những từ ngữ tiêu cực này xuất hiện khi số người phụ nữ độc thân tiếp tục gia tăng và tỉ lệ kết hôn đã sút giảm. Vào thập niên 1690s và đầu thập niên 1700s, theo Watson cho biết, các chính quyền Anh Quốc đã lo ngại về dân số giảm sút đến nỗi chính quyền phải ra luật Marriage Duty Tax, đòi hỏi những người chưa vợ, những người góa chồng và những phụ nữ độc thân phải trả một số tiền phạt vì không chịu kết hôn.

 

Chữ mới ‘tự làm bạn’

 

Ngày nay tại Hoa Kỳ, tuổi trung bình kết hôn đối với phụ nữ là 28. Đối với đàn ông là 30.

Đều chúng ta đang trải qua hiện nay không phải là lần đầu trong lịch sử; mà thực tế là chúng ta chủ yếu đã trở lại với mô thức hôn nhân đã phổ biến vào 300 năm trước, theo Watson. Từ thế kỷ thứ 18 tới giữa thế kỷ 20, tuổi trung bình để kết hôn lần đầu tiên đã giảm xuống còn 20 đối với thanh nữ và 22 đối với thanh niên. Rồi nó đã bắt đầu tăng lên lại.

Có một lý do mà Báo Vogue đã hỏi Watson về tình trạng độc thân của cô khi cô tới tuổi 30. Đối với nhiều người, 30 tuổi là cột mốc đối với người phụ nữ -- thời điểm khi mà nếu họ không sẵn sàng, thì họ được cho là sẽ đi từ sự tự do muốn làm gì thì làm và chưa yêu ai đến việc suy nghĩ về hôn nhân, một gia đình và một căn nhà.

Ngay dù bạn là người phụ nữ giàu có và nổi tiếng, thì bạn cũng không thể thoát được tín điều văn hóa này. Những người nổi tiếng thuộc nam giới dường như không bị tra vấn về việc họ độc thân và tuổi 30.

Trong khi hiện tại không ai gọi Watson là một người chưa chồng hay cô gái già, tuy nhiên cô cảm thấy bắt buộc phải tạo ra một từ ngữ mới cho tình trạng của cô: “tự làm bạn.” Trong điều mà một số người đã gọi là “tuổi tự chăm sóc mình,” có lẽ từ ngữ này không gây ngạc nhiên. “Có thể nói, tôi chú tâm vào chính mình và các mục tiêu và nhu cầu của chính tôi. Tôi không cần để ý đến người khác, cho dù đó là một người bạn đời hay đứa con,” theo Watson phát biểu.

Watson cho biết rằng đối với cô, thật là mỉa mai rằng từ ngữ “tự làm bạn” có vẻ nâng cao tình trạng cặp đôi. Người chưa chồng, phụ nữ độc thân hay người độc thân: Không một từ ngữ nào trong đó công khai nói đến một người bạn đời vắng mặt. Nhưng tự làm bạn gợi lên sự thiếu mất một nửa kia tốt hơn.

Trong khi đó trong một bài viết có tựa đề “More people than ever before are single – and that’s a good thing” [Ngày càng có nhiều người độc thân hơn bao giờ hết – và đó là điều tốt] đăng trên trang mạng www.theconversation.com cho rằng thế kỷ 21 là thời đại của cuộc sống độc thân.

 

Phu nu doc than new 02
Phụ nữ độc thân hưởng thụ thú vui đi du lịch một mình.(nguồn: www.pixabay.com )



Thế kỷ 21 là thời đại sống độc thân

 

Ngày nay, số ngưởi lớn tuổi độc thân tại Hoa Kỳ - và nhiều quốc gia khác trên thế giới – là nhiều chưa từng có. Và những con số này không chỉ cho thấy rằng con người đang sống độc thân lâu hơn trước khi ổn định cuộc sống. Ngày càng có nhiều người sống độc thân trọn đời. Một phúc trình vào năm 2014 của Pew Report phỏng đoán rằng vào thời điểm đó những người thanh niên nam nữ đạt tới tuổi 50, khoảng ¼ trong số họ không bao giờ kết hôn.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, loại gia đình gia tăng nhanh nhất kể từ thập niên 1980s là người độc thân. Trước đây cả xã hội không phổ biến và không được chấp nhận do vai trò nhận thức, ý thức cộng đồng, các yếu tố kinh tế xã hội hiện đại và giáo dục và nghề nghiệp ngày càng phổ biến và lâu dài đã biến lối sống độc thân trở thành một lựa chọn khả thi cho nhiều người Mỹ, đặc biệt là sau Chiến Tranh Việt Nam.

Theo Phòng Thống Kê Dân Số Hoa Kỳ, trong năm 2016 người trưởng thành độc thân đã chiếm hơn 45% dân số Hoa Kỳ. 65% trong nhóm này chưa bao giờ kết hôn. Trong năm 2014, Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cho thấy rằng phần trăm cao nhất của những người lớn tuổi không bao giờ lập gia đình giữa những người Mỹ da trắng, da đen, La Tinh và Châu Á là những người Mỹ da đen. Cùng nghiên cứu này cũng dự đoán rằng khoảng 25% thế hệ thiên niên kỷ có thể không kết hôn.

Uy thế của cuộc sống độc thân đã làm cho một số người hoảng sợ. Thí dụ, phúc trình của US News & World Report cảnh giác rằng nhiều người Mỹ nghĩ rằng các giá trị đạo đức của quốc gia là xấu và ngày càng tồi tệ hơn, và một trong những lý do hàng đầu cho mối quan tâm của những người này là có quá nhiều người còn độc thân.

Nhưng thay vì băn khoăn, có lẽ chúng ta nên ăn mừng.

Theo Bella DePaulo, Khoa Học Gia Về Dự Án tại Đại Học UC Santa Barbara, nói rằng, “Tôi là một nhà khoa học xã hội, và tôi đã bỏ ra 2 thập niên vừa qua để nghiên cứu và viết về người độc thân. Tôi phát hiện rằng sự trỗi dậy của cuộc sống độc thân là một lợi ích cho các thành phố và thị trấn và cộng đồng của chúng ta, của người thân và bạn bè và hàng xóm của chúng ta. Khuynh hướng này có cơ hội để tái xác định ý nghĩa truyền thống – và những giới hạn – của ngôi nhà, gia đình và cộng đồng.”

 

Tương quan gia đình xã hội

 

Trải qua nhiều năm, các cộng đồng trên khắp nước Mỹ đã được tổ chức bởi các nhóm gia đình hạt nhân sống trong những căn nhà ngoại ô. Nhưng có một số dấu hiệu về sự sắp xếp này đang diễn ra không tốt lắm.

Những căn nhà này thường rất cô lập – quá xa từ nơi làm việc và từ người này đến người kia. Theo một thăm dò toàn quốc diễn ra kể từ năm 1974, nhiều người Mỹ hiện nay ít thân thiện với làng giềng hơn bao giờ hết, với tình nghĩa bà con hàng xóm ở mức thấp nhất tại các vùng ngoại ô.

Nhưng thăm dò nói trên cũng cho thấy rằng người độc thân đang nhảy khỏi khuynh hướng đó. Thí dụ, họ có vẻ năng nỗ hơn người lập gia đình để khuyến khích, giúp đỡ và xã giao với bạn bè và láng giềng của họ. Họ cũng thích thăm viếng, ủng hộ, khuyên lơn và gặp gỡ với anh chị em và cha mẹ của họ nhiều hơn.

Thực tế, những người sống một mình thường là cuộc sống của các thành phố và thị trấn nơi họ ở. Họ có khuynh hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm dân quyền và các sự kiện cộng đồng, ghi danh nhiều hơn vào các lớp học nghệ thuật và âm nhạc, và đi ăn tối bên ngoài thường hơn những người sống với những người khác. Người độc thân, bất luận họ sống một mình hay với người khác, cũng tình nguyện nhiều hơn cho các tổ chức phục vụ xã hội, các nhóm giáo dục, các bệnh viện và các tổ chức cống hiến cho nghệ thuật nhiều hơn những người đã kết hôn.

 Ngược lại, khi các cặp vợ chồng dọn vào hay kết hôn, thì họ có khuynh hướng trở thành ốc đảo hơn, dù họ không có con cái.

 

Vui hay buồn

 

Không may, cuộc sống độc thân tiếp tục bị kỳ thị, với những người độc thân thường được cho là ít an toàn và tự cho mình là trung tâm hơn so với những người đã kết hôn. Họ được cho là chết sớm hơn, cô đơn và buồn bã.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về những người sống một mình thường cho thấy rằng hầu hết họ đều sống tốt; họ không cảm thấy cô độc, họ cũng không buồn rầu và cô đơn.

Các phúc trình về cái chết sớm của những người độc thân cũng đã được phóng đại lên rất nhiều, khi cho rằng hôn nhân biến những người độc thân đau khổ, bệnh hoạn thành người phối ngẫu hạnh phúc và khỏe mạnh.

Trong một ý nghĩa nào đó, người độc thân là những người đang sống đặc biệt hạnh phúc, theo Bella DePaulo cho biết.

Thí dụ, những người có mối quan hệ đa dạng hơn có khuynh hướng thỏa mãn hơn với cuộc sống của họ. Ngược lại, sự tẻ nhạt của các cặp vợ chồng chuyển đến sống chung hoặc kết hôn có thể khiến họ dễ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những người sống độc thân phát triển sự tự tin hơn về quan điểm của chính họ và trải qua sự tăng trưởng và phát triển cá nhân nhiều hơn so với những người kết hôn. Chẳng hạn, họ coi trọng công việc có ý nghĩa hơn những người đã kết hôn. Họ cũng có thể có nhiều cơ hội hơn để hưởng thụ sự tĩnh mịch mà nhiều người trong số họ thưởng thức.

Thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy các thay đổi của những sắp xếp truyền thống của thế kỷ 21, như các gia đình nhiều thế hệ cho phép sự riêng tư và độc lập cũng như tương quan liên hệ xã hội. Những người khác - và không chỉ là những người rất trẻ - đang sống với bạn bè hoặc các gia đình khác của họ chọn.

Những phụ nữ độc thân thực sự muốn điều gì khi họ chọn đời sống một mình?

 

Phụ nữ độc thân muốn gì?

 

Trong bài viết “What Single Women Really Want,” đăng trên trang mạng www.psychologytoday.com Tiến Sĩ Bella DePaulo, đang sống độc thân, cho biết các ưu tiên hàng đầu của phụ nữ độc thân theo thăm dò 1,200 người mà các công ty Hill Holiday’s Origin và Match Media Group đã thực hiện như sau.

Ưu tiên số một của phụ nữ độc thân là sống cho chính họ. Gần một nửa (44%) những người trả lời thăm dò nói rằng đó là vấn đề ưu tiên nhất của họ.

Ưu tiên kế tiếp của các phụ nữ độc thân là tạo dựng sự nghiệp. Khoảng 1/3 phụ nữ độc thân (34%) nói rằng sự nghiệp là ưu tiên hơn mọi thứ khác.

Ưu tiên thứ ba của phụ nữ độc thân là an toàn tài chánh. Hơn ¼ (27%) người trả lời thăm dò nói rằng an toàn tài chánh là quan trọng nhất đối với họ.

Cũng trong bài viết của Bella DePaulo, thì yêu đương kết hôn là ưu tiên đứng hàng thứ 4 sau ba ưu tiên đầu nói trên.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đôi khi, có người tự hỏi, mình có tài, tại sao không có danh vọng phù hợp? Có thể vì không gặp thời, chuyện này hiếm hoi. Có thể vì không phát huy tài năng đúng mức. Có thể vì tưởng lầm mình có tài. Từ một tài năng có thật, biến thành hiệu quả để có danh vọng xứng đáng, đòi hỏi một hành trình tuy ngắn ngủi từ trí não đến hai bàn tay, nhưng xa vời như đường đi từ trái đất lên đến mặt trời. Nhưng trước hết, làm sao biết mình có tài hay không? Hỏi mẹ vợ, mẹ chồng, thì rõ.
Đã có những cuộc tình sôi nổi, mặn nồng lúc ban đầu, thề sống chết bên nhau đời này đời sau, muôn đời sau, nhưng rồi sự cảm thụ và ý tưởng của mỗi người thay đổi dần theo thời gian, tuổi tác. Sắc tàn, chí hao, có người muốn tìm những gì mới lạ, khích động hơn; lại có người nhìn ra những phai tàn trong đời sống, chỉ muốn an thân tịnh dưỡng, buông bỏ tất cả, quay về với chính mình… “Có chút tình thoảng như gió vội, tôi chợt nhìn ra tôi”
Nổi tiếng quốc tế như một người viết tiểu thuyết, và cũng nổi tiếng như một Thiền sư, Ruth Ozeki có một văn phong riêng, trộn lẫn các pháp ấn khổ, vô thường, vô ngã vào các chuyện kể trên giấy. Độc đáo như thế: Ruth Ozeki là một nhà văn, một đạo diễn phim ảnh và là một Thiền sư dòng Tào Động. Xin mở ngoặc nhỏ nơi đây, nói bà là Thiền sư, chỉ có nghĩa rằng, bà là một cư sĩ được trao cương vị người dạy Thiền. Sách và phim của bà, kể cả nhiều tiểu thuyết, đan xen các chuyện kể cá nhân vào các vấn đề xã hội, và chạm vào các chủ đề liên hệ tới khoa học, kỹ thuật, chính trị, môi trường, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh và văn hóa quần chúng.
Đối thoại với Trịnh Y Thư: Văn chương Nghệ thuật & Những điều khác. Đinh Từ Bích Thuý & Đặng Thơ Thơ thực hiện
Cung Tích Biền là nhà văn của lương tri, bởi mọi truyện ông viết đều đưa ra những chất vấn về bản chất của một nền đạo lý nhân bản. Nhà văn bằng ngôn ngữ vi diệu và huyền áo đã tạo dựng nên một không gian nghệ thuật đặc thù phong cách của riêng ông. Và ông dùng không gian nghệ thuật ấy để đối thoại với quá khứ, một quá khứ được soi lại qua những tra vấn để trở thành công án cho ngày hôm nay. – Đặng Thơ Thơ
Thơ của Holderlin giản dị, cô đọng, súc tích và thêm sự pha trộn giữa lãng mạn và cổ điển, nhất là cổ điển Hy Lạp, nên rất đặc biệt. Ông được xếp vào một trong những nhà thơ trữ tình xuất sắc nhất ở Đức. Một số nhà văn, triết gia lớn của Đức như Wolfgang Goethe, Friedrich Schiller, Friedrich Hegel und Friedrich Schelling là những người đồng thời với Hölderlin.
Rừng phong đã nhuộm màu hay lòng người nhuốm màu thu? Những kẻ sống ở vùng ngoại phương không ít thì nhiều, không cạn thì sâu ắt biết. Cái màu rừng phong đẹp lắm, rực rỡ lắm, đất trời như bừng lên, ánh nắng như lồng vào trong phiến lá. Nói muôn hồng nghìn tía không còn là ước lệ, không phải là tỷ dụ nữa mà hoàn toàn thật sự như thế. Hồng, đỏ, cam, vàng, nâu, tím, trắng… cứ thế mà lá phô diễn trước khi về với đất mẹ.
Cô luật sư trẻ mới ra trường, người được tòa chỉ định để bênh vực tôi, khi gặp mặt lần đầu, cô hùng hổ nhưng lúng túng khi nói, “Ông đừng nhận tội, tôi sẽ giúp ông thoát khỏi tội danh này. Tôi đã nhìn thấy một phương án.” Tôi nói, rõ ràng là tôi có tội. Cố ý phạm pháp. Tội này đã được tổ chức suốt 20 năm. Đã đánh cắp một khối lượng tài sản khổng lồ. Có tang chứng, vật chứng. Có hàng trăm ngàn nhân chứng. Tội sẽ nhận tội mà không mảy may hối tiếc. Khối tài sản khổng lồ đó đã tan biến vào trí não, tâm tư của dân Việt, tôi không có cách nào lấy lại. Tôi nhận tội. Cô luật sư cố gắng thuyết phục. Tôi hiểu cô cần công việc này. Cần có hồ sơ tranh cãi, dẫu không thắng cũng để lại những luận lý luật pháp như một bằng chứng tài năng cho tương lai. Ai cũng biết vụ kiện này sẽ thua. Nhưng nếu như thắng một vụ kiện không thể thắng, cô sẽ trở thành ngôi sao, sẽ được các văn phòng luật sư lớn chiếu cố. Đời cô sẽ thay đổi hào quan trong một ván cờ. Thắng bại không phải là chuyện quan trọng. Chỉ là c
Văn học người Mỹ Bản Xứ xuất hiện phong phú trong văn học truyền khẩu từ trước khi tiếp xúc với người Châu Âu và/hay sau khi áp dụng theo cách viết của người Châu Âu. Văn học truyền khẩu của người Mỹ Bản Xứ ngoài việc kể chuyện, cũng còn ca nhạc, tụng niệm, và thơ dùng cho các buổi lễ. Nhiều trong số những câu chuyện và ca nhạc này được những nhà nhân chủng học da trắng sao chép lại, nhưng thường mâu thuẫn đáng kể với các bộ lạc và thường bị hiểu sai hay dịch sai nghiêm trọng.Richard J. Chacon và Rubén G. Mendoza trong phần “Giới Thiệu” tác phẩm nghiên cứu “The Ethics of Anthropology and Amerindian Research: Reporting on Environmental Degradation and Warfare” [Đạo Đức Của Nhân Chủng Học và Nghiên Cứu Về Người Mỹ Da Đỏ: Phúc Trình Về Sự Suy Thoái Môi Trường Và Chiến Tranh], được phổ biến vào năm 2011, đã viết rằng: “Trong nỗi thống khổ của cuộc tấn công của thực dân, các nhà nhân chủng thường không nhận thức hay nhận thức ngược lại giá trị lịch sử và văn hóa
Nhà văn lưu vong, Abdulrazak Gurnah, từ quê quán ở miền Đông Phi đến Anh Quốc năm 18 tuổi. Hành trình xa quê hương gần 55 năm với bút mực và sách đã mang lại cho ông giải Nobel văn chương 2021. Vượt qua một số tên tuổi hàng đầu trong năm nay như Margaret Atwood ở Canada, Lyudmila Ulitskaya ở Nga. Nhà văn Châu Phi trước ông lãnh giải Nobel văn chương 1986 là Wole Soyinka. Lưu vong, danh từ này quen thuộc, Gurnah nói, chuyện tị nạn, di cư “là những gì hiện diện với chúng ta mỗi ngày” - thậm chí nhiều hơn cả khi ông mới đến tị nạn ở Anh, năm 1960. “Người ta đang chết, đang bị tổn thương trên khắp thế giới. Chúng ta cần giải quyết vấn nạn này bằng một cách tử tế nhất.” (Associated Press. 10, 07, 2021.) Nhận diện ý thức và tâm tư trên, Viện Hàn lâm Thụy Điển cho biết giải thưởng này để công nhận “sự thấu hiểu không khoan nhượng và nhân ái của Gurnah đối với những tác dụng của chủ nghĩa thực dân và số phận người tị nạn.” Báo chí đề cao ông là nhà văn có kinh nghiệm vượt qua các lục địa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.