Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc Sử Thi Người Tù: Hòn Đá Làm Ra Lửa

21/02/202000:00:00(Xem: 2130)
Tran Da Tu by CHOE
Trần Dạ Từ qua nét tranh sơn dầu của Chóe


Khi loài người phát minh ra lửa và sử dụng trong đời sống hàng ngày để nấu ăn, sưởi ấm và chống lại thú rừng cách nay hơn một triệu rưởi năm về trước là bước ngoặc lịch sử mở đầu cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu để nhân loại bước ra làm người, xây dựng nền văn minh và văn hóa ngày càng rực rỡ.

Nhưng đâu đó trong nhà tù cộng sản Việt Nam, nơi thế giới rừng rú hoang dã rợn người vào những năm cuối thế kỷ hai mươi, khi người tù sử dụng lửa từ hai hòn đá tạo ra để hun đúc ngọn lửa yêu thương, sức mạnh của nội tâm và ý chí sống mãnh liệt cũng là cuộc cách mạng thầm lặng, im lặng khác thường khiến cho chế độ với bản chất ồn ào, bạo động phải hoảng sợ.

 

“Anh ta đang bị sự im lặng vây hãm

Tội nghiệp anh ta. Anh ta hoảng

 

Bọn yên lặng ở đâu ra. Đông quá

Nó ra bằng quyển vở, ngòi bút, cục gôm

Bằng chéo khăn, tấm áo, manh quần

Bằng đôi đũa, quả trứng

Nó ra bằng đầu. Nó ra bằng bụng

Nó ra bằng mắt. Nó ra bằng tai

Bằng nén nhang, giọt lệ, nụ cười

Nó ra từ con người

Nó ra từ cuộc sống

Từ mặt đất. Từ bầu trời

Không ngớt. Không ngớt

Nó ra. Nó ra

 

Tội nghiệp anh ta

Yên lặng. Yên lặng.

Yêu lặng” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Lửa từ hai hòn đá tạo ra là thứ vũ khí tự vệ linh nghiệm mà nhà thơ Trần Dạ Từ đã hà hơi và thổi sức để tự luyện nội lực mỗi năm, mỗi tháng, mỗi tuần, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút và mỗi giây trong suốt mưới năm ngồi tù dưới chế độ cộng sản Việt Nam chỉ vì cái tội không bản án liên quan đến thứ im lặng đáng sợ mà chế độ bạo hành phải hoảng kinh, đó là làm thơ.

 

“Thơ ta đó sao

Không, chỉ là tiếng thét gọi đầu tiên

Những toa tầu bật sáng trong đêm

Những tàn lửa vùng vẫy” (Trần Dạ Từ - Tựa Nhỏ)

 

Làm thơ, với nhà thơ Trần Dạ Từ chính là nói lên lẽ phải bằng tấm lòng yêu thương:

 

“Việc chúng ta: làm thơ và yêu nhau

Ta đâu biết làm việc gì khác

 

Đâu sẽ vô đó. Chẳng có gì đáng ngại

Lẽ phải sẽ phải là lẽ phải

Khi được nói bằng tấm lòng thương yêu

Được nghe bằng đôi tai tin cậy” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Nhưng chế độ và nhà tù cộng sản không dùng tai để nghe lẽ phải mà dùng tai vách mặt rừng để theo dõi, để trấn áp và hành hạ tù nhân và dân lành. Một trong những phương thức hành hạ và kiểm soát tù nhân tàn bạo nhất đã trở thành “kinh điển,” “chính sách” của cộng sản là “cái đói.”

  

“Cái đói phát minh của thiên tài.

Nó là thứ gì vậy?

Tên nó, “Chính sách lương thực của Lenin”

Nó giản dị thôi:

Kinh nghiệm phản xạ có điều kiện

từ con chó của Pavlov

được tính toán, phối hợp lô gích cho con người

Sự co thắt dạ dày. Nước miếng. Tiếng kẻng

Cái đói thành vũ khí chuyên chế vô địch

Nó được tung, được hứng, được quảng cáo xôm tụ:

“Kiểm kê. Quản lý. Làm chủ”

 

Và nó vơ. Nó vét. Nó ban phát ơn huệ

Biến chén cơm, miếng bánh thành ma túy

Biến tiểng kẻng cho ăn thành lệnh của ma quỉ

Để khuất phục đồng loại” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Cái đói ở trong tù cộng sản kinh khủng đến độ những tù nhân đã phải tự nghiễn ra cách nấu nướng và ăn bằng miệng cho đỡ đói, như nhà thơ Trần Dạ Từ mô tả đầy kịch tính mà đau đớn khôn cùng:

 

“Anh này trổ tài làm cơm cháy vàng rực

Anh kia đang lựa vịt chọn gà

Anh khác nữa, cân đo gia vị

Hợp lại thánh bữa ăn thịnh soạn

Tha hồ mời bạn tù đánh chén

 

Không nước, không lửa, không củi

Không nồi, không gạo, không cả muối

Càng khỏe. Cần gì. Anh em nấu bằng miệng

Thưởng thức. Nhai nuốt. Bằng nước miếng

Tiêu hóa bằng chính xương thịt mình

 

Nước miếng ứa. Rớt nhãi chẩy. Kẻng ăn gõ

Nó đang gõ. Nó còn tiếp tục gõ

Gõ không ngừng. Gõ đây. Gõ đó”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Một phát minh khác của “thiên tài” cộng sản là cái kẻng gõ không chỉ có trong nhà tù mà còn có ở khắp nơi trong đất nước như nhà thơ Trần Dạ Từ đã mô tả một cách chi tiết và sống động nhưng nghe ra thì mỉa mai, cay đắng và bi đát làm sao:

 

“Nó là cái niềng bánh xe cũ phế thải

Có thể là mảnh đạn, là vỏ bom

Có nơi, như ở trại tù Z.30D,

nó là cái chuông đồng

Mang về từ ngôi chùa cổ nào đó bị cướp phá

 

Nó có dàn treo, có mái che

Sơn đỏ sơn xanh. Kẻ hầu người hạ

Nó lủng lẳng khắp nơi

Cổng tù. Cơ quan. Làng mạc. Thành phố

Nó được gõ. Bằng vồ. Bằng búa

 

Cẩn thận nghe em. Nó đang gõ

Nó gõ sáng. Gõ trưa. Gõ chiều

Rền rỉ những thể xác yếu đuối

Nó gõ tai bắt vểnh. Gõ mắt bắt nhắm

Gõ dạ dầy bắt cồn. Gõ gan ruột bắt cào

Gò khuỷu tay bắt tung hô

Gõ đầu gối bắt xì xụp

Gõ mồm miệng bắt hát, bắt hò

Bắt gào thét, nguyền rủa, đấu tố”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Ở trong cái thế giới đó, trong hoàn cảnh oan nghiệt đó, nếu không có thứ vũ khí là Hòn Đá Làm Ra Lửa thì làm sao sống nổi. Chỉ có chết thôi.

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta

Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu

Vũ chết hôm kia. Hồ chết hôm qua

Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa sắp chết

Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê!”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Theo ghi chú của nhà thơ Trần Dạ Từ, Vũ là Vũ Hoàng Chương; Hồ: Hồ Hữu Tường; Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa: Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh; Lưu: Mặc Thu Lưu Đức Sinh; Doãn: Doãn Quốc Sỹ; Lê: Lê Hạ Vĩnh, tức Trần Dạ Từ.

Nhờ có lửa từ hòn đá làm ra, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn còn sống, vẫn gan lì để sống. Không những thế, từ ngọn lửa trong tâm làm trí ông sáng rực lên để nhận ra lẽ biến dịch tuần hoàn của vũ trụ và con đường “bất tận của dòng suối sinh nở” hay sinh tử luân hồi, nói theo nhà Phật.

 

“Có thể không còn. Cũng chẳng mất đi đâu

Dòng chảy nào không hao hụt, bốc hơi

Có thể chúng ta vẫn quanh quất đâu đó

Như bọt nước tung tóe reo vui

Nơi này. Nơi kia

Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Điều lạ là, trong câu thơ bình dị của nhà thơ Trần Dạ Từ ở trên, “Cũng chẳng mất đi đâu” lại nói lên trọn vẹn ý nghĩa siêu việt của Bát Nhã Tánh Không “bất tăng bất giảm.” Vì các pháp như bọt nước, vốn không có tự ngã, không có tự thể nên chúng không đến, không đi, không tăng, không giảm.

Khi nghĩ đến điều kỳ diệu này, nhà thơ Trần Dạ Từ đã tự tại mỉm cười:

 

“Và tôi mỉm cười

Thư thái hình ảnh em bước tới”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Dường như trên thế giới này chưa có bài thơ nào được một thi sĩ viết trong tù dài như bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa của nhà thơ Trần Dạ Từ, với gần bảy trăm câu, được in trong tuyển tập Thơ Trần Dạ Từ, do Việt Báo Foundation xuất bản vào tháng 11 năm 2018 tại California, Hoa Kỳ.

Theo nhà thơ Trần Dạ Từ cho biết, bài thơ này được ông làm trong những năm ông bị chính quyền CSVN bắt bỏ tù tại các trại tù Gia Trung năm 1979 đến trại tù Hàm Tân năm 1987, nghĩa là trải dài 8 năm tù. Điều đặc biệt của bài thơ này là vì ở tù CS nên nhà thơ Trần Dạ Từ không thể viết ra mà phải nhớ thuộc lòng trong đầu, cho đến khi ông và gia đình được chính phủ Thụy Điển can thiệp để CSVN trả tự do và cho đi định cư tại Thụy Điển thì bài thơ mới được ông viết ra thành chữ vào tháng 11 năm 1988 tại Thụy Điển. Bài thơ được đăng toàn phần lần đầu tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1989 trong Tạp Chí Văn do nhà văn Mai Thảo chủ biên. Bài thơ cũng đã được dịch sang tiếng Anh vào năm 1990 bởi Giáo Sư Cuong T. Nguyen, tại Đại Học George Mason University. Vào ngày 28 tháng 1 năm 1992, bài thơ này đã được nhà văn James Webb, Cựu Thượng Nghị Sĩ, Bộ Trưởng Hải Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ giời thiệu, và nữ tài tử Kiều Chinh, nhà báo Lê Đình Điểu và nhà thơ Trần Dạ Từ đọc tại Quốc Hội Hoa Kỳ ở Thủ Đô Washington.

Nhà thơ Trần Dạ Từ có lần kể rằng, mỗi ngày ông làm một số câu thơ và đã học thuộc lòng cả câu cũ lẫn câu mới. Cứ thế ông đọc thuộc lòng mỗi ngày tất cả những câu thơ này và vì vậy mới có thể nhớ và giữ được nguyên bài cho đến khi viết ra thành chữ.

Bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa là một sử thi, một bản trường ca bi tráng của người tù Việt Nam, kể về thân phận đau thương, cuộc sống khổ lụy cùng cực, những cách đối xử tàn bạo và bất nhân trong nhà tù cộng sản, về nhân cách cao thượng và sự chịu đựng phi thường của tù nhân, về lòng nhân hậu và tình yêu thương như tia lửa không ngụm tắt của người tù cho dù sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã và bế tắc nhất của cuộc đời, của thời đại.

 

“Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời

Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Bởi vậy, dù đang bị giam trong tù ngục tối tăm của cộng sản, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn không đánh mất niềm tin vào tình yêu và đạo đức vô hình trên thế gian:

 

“Vẫn chẳng hề hấn gì

Nụ hoa tình yêu và đạo đức vô hình

Nở mãi trong vười ta

Ý nghĩ, sự ăn ở tốt lành, dù không ai biết đến

Vẫn lặng lẽ tỏa hương trong không gian

Làm đẹp bầu trời và mặt đất.”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Xin cảm ơn nhà thơ, trong hoàn cảnh gông cùm, như bất cứ lúc nào, vẫn ung dung trấn an chúng ta: “Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề hấn gì.”




Huỳnh Kim Quang

(Gia đình Việt Báo kính mừng anh Trần Dạ Từ 80 tuổi. Chúc nhà thơ của chúng ta nhiều sức khỏe, tâm vui thân an.)



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
TQBT 59, số Tưởng Niệm Phùng Thăng với các bài viết của Trần Hoài Thư, Thái Kim Lan, Phạm Văn Nhàn, Phay Van, Thinh Văn, Đào Anh Dũng, Trần Văn Nam… THT và Nguyễn Lệ Uyên phỏng vấn những cây bút nói về Phùng Thăng: Nguyễn Vy Khanh, Khuất Đẩu, Diệu Hoa. Văn liệu sưu tầm trích từ bản dịch của Phúng Khánh và Phùng Thăng. Thơ của Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Đức Sơn, Huy Tưởng, Đinh Cường, Trần Thị Nguyệt Mai…
Nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ Bảy 16/10/2021 đã thực hiện buổi ra mắt sách tại quán Café & Té, Fountain Valley, với tham dự của nhiều văn nghệ sĩ. Nhà văn Đặng Thơ Thơ trong lời giới thiệu nói rằng buổi ra mắt sách này cũng là tròn kỷ niệm 65 năm viết văn, và là tròn 55 viết văn với bút hiệu Cung Tích Biền.
Thi sĩ Trụ Vũ nói, vì tôi vô ngã nên cái tự ngã của tôi nằm ngủ im re một giấc miên trường, dài hơn cả ngàn năm - khỏi cần ru hát ầu ơ ví dầu…Vì tôi vô ngã nên tự ngã bay bổng, tỏa hương (trầm hương). Tôi tuy hiện hữu đó nhưng tôi bình yên, tôi thong dong, tôi tự tại! Ở đây cũng cần lưu ý thêm một điểm vô cùng quan trọng để tránh đi lạc về sau. Vô ngã hoàn toàn không hàm ý rằng "ta không có ngã" (tức là thuyết đoạn diệt). Hai lãnh vực tư duy này khác nhau như đen và trắng, như mặt trời và mặt trăng. Nó cũng sai lầm hệt như chấp rằng "ta có ngã" (thuyết trường tồn). Cả hai quan niệm vừa nêu ấy đều vẫn còn trói buộc trong ý tưởng sai lầm "có cái ta". Phải quán chiếu, phải tư duy sự vật như chính sự vật ấy, mới là thái độ đúng đắn.
Không quá phức tạp nhưng đủ để người đọc suy gẫm. Bài Headfirst chỉ là một ví dụ ngắn, dọc theo những trang sách trong tập thơ Night Sky with Exit Wounds, người đọc sẽ tìm thấy rất nhiều những ý nghĩ thâm trầm, những tứ thơ tự sáng nổi bật, không chỉ gây thích thú mà còn tạo ra những suy tư và nghi vấn về bản thân trong đời sống lưu vong.
Hai phẩm cách đáng kể nhất của một nhà văn là ngôn ngữ và sự tưởng tượng. Nhà văn Trần Vũ – qua tập truyện Phép tính của một nho sĩ (Công ty sách Nhã Nam liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, 2019) – hình như có cả hai. Đây không phải là cuốn sách sáng tác theo công thức có sẵn, kể lể một câu chuyện mà người đọc chưa đọc hết mươi dòng đầu đã biết tác giả muốn nói gì, kết cục ra sao. Nó không phải là cuốn sách đọc qua là quên ngay, chẳng lưu lại trong bộ nhớ người đọc được vài sát-na. Nó khó khăn bắt người đọc trăn trở cùng nó, cùng chiêm nghiệm những góc cạnh đầy gai nhọn nhức nhối từ lịch sử đến siêu hình; từ bản thể đến bản nguyên con người; từ dục vọng thấp hèn đến lý tưởng cao vợi. Nó là cuốn sách đầy cá tính – You either hate it or love it, there is no midway here, no equidistance – để từ đó, hiển lộ một tính cách khai phá cực đoan hiếm thấy trong ngôi nhà văn chương Việt Nam. Những truyện ngắn của Trần Vũ trong tập truyện, tác giả viết không phải để làm cái gì phải đạo,
Trong những gì tôi được đọc và được nghe kể, hình như nhà thơ Bùi Giáng không còn tham sân si, hay nếu còn, thì rất là ít. Không rõ có ai chứng kiến lúc nào Bùi Giáng khởi tâm tham sân si hay không. Rất nhiều người đã thân cận, đã chứng kiến đời thường của nhà thơ họ Bùi và đều nhận thấy nhà thơ như là người của cõi khác, người bay trên mây, người lạc tới thế gian này, như dường không còn chút nào tham sân si; hay chỉ còn, nếu có, thì rất ít.
Tập thơ nhan đề “A Thousand Times You Lose Your Treasure” (Một Ngàn Lần Bạn Đã Đánh Mất Bảo Vật Của Mình) của nhà thơ Hoa Nguyen đã được vào danh sách chung kết dài (longlist finalists) về thơ cho giải thưởng 2021 National Book Awards, theo bản tin hôm 24 tháng 9 năm 2021 của Business Insider. Hội bất vụ lợi National Book Foundation mỗi năm đều trao giải thưởng cho các sách mới ấn hành. Ban giám khảo được đề cử từ những người trúng giải trong quá khứ và nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng khác.
Chiều mưa công viên. Hẹn hò đời nhau, duyên nào níu gọi, ai biết. Mưa rơi tầm tã không thấy bóng xe qua. Dưới cây run lạnh, ướt đẫm những hồn lưu lạc. Tuổi trẻ tay trắng, chỉ có tình yêu là nơi gửi trọn tâm chí cuồng nhiệt, đắm say.
Khi một nhà hiền triết lánh đời để sống ẩn dật trong rừng sâu, một lãnh tụ xuất chúng hy sinh quên mình để cải hội, một nhà thơ miệt mài làm thơ để ca tụng vẻ đẹp của cuộc đời, hay một Thiền sư tịch cốc để đối mặt với khoảng vắng lặng mênh mông, tất cả những việc làm đó của họ, không ngoài mục đích nào khác hơn là phá cho được một con đường đề tự cứu mình và từ đó, giải phóng luôn những thống khổ muôn đời của kiếp người. Thu phong nhọ phất thiềm nha, Sơn vũ tiêu nhiên chầm lục la. Dĩ hỹ thành Thiền tâm nhất phiến, Cùng thanh tức tức vị thùy đa. (Sơn vũ) (Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài, Quạch quê nhà non lấp ruổi gai. Thôi đã theo Thiền lòng lặng tắt, Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai?) (13) (Huệ Chi dịch)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.