Đọc Sử Thi Người Tù: Hòn Đá Làm Ra Lửa

21/02/202000:00:00(Xem: 2742)
Tran Da Tu by CHOE
Trần Dạ Từ qua nét tranh sơn dầu của Chóe


Khi loài người phát minh ra lửa và sử dụng trong đời sống hàng ngày để nấu ăn, sưởi ấm và chống lại thú rừng cách nay hơn một triệu rưởi năm về trước là bước ngoặc lịch sử mở đầu cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu để nhân loại bước ra làm người, xây dựng nền văn minh và văn hóa ngày càng rực rỡ.

Nhưng đâu đó trong nhà tù cộng sản Việt Nam, nơi thế giới rừng rú hoang dã rợn người vào những năm cuối thế kỷ hai mươi, khi người tù sử dụng lửa từ hai hòn đá tạo ra để hun đúc ngọn lửa yêu thương, sức mạnh của nội tâm và ý chí sống mãnh liệt cũng là cuộc cách mạng thầm lặng, im lặng khác thường khiến cho chế độ với bản chất ồn ào, bạo động phải hoảng sợ.

 

“Anh ta đang bị sự im lặng vây hãm

Tội nghiệp anh ta. Anh ta hoảng

 

Bọn yên lặng ở đâu ra. Đông quá

Nó ra bằng quyển vở, ngòi bút, cục gôm

Bằng chéo khăn, tấm áo, manh quần

Bằng đôi đũa, quả trứng

Nó ra bằng đầu. Nó ra bằng bụng

Nó ra bằng mắt. Nó ra bằng tai

Bằng nén nhang, giọt lệ, nụ cười

Nó ra từ con người

Nó ra từ cuộc sống

Từ mặt đất. Từ bầu trời

Không ngớt. Không ngớt

Nó ra. Nó ra

 

Tội nghiệp anh ta

Yên lặng. Yên lặng.

Yêu lặng” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Lửa từ hai hòn đá tạo ra là thứ vũ khí tự vệ linh nghiệm mà nhà thơ Trần Dạ Từ đã hà hơi và thổi sức để tự luyện nội lực mỗi năm, mỗi tháng, mỗi tuần, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút và mỗi giây trong suốt mưới năm ngồi tù dưới chế độ cộng sản Việt Nam chỉ vì cái tội không bản án liên quan đến thứ im lặng đáng sợ mà chế độ bạo hành phải hoảng kinh, đó là làm thơ.

 

“Thơ ta đó sao

Không, chỉ là tiếng thét gọi đầu tiên

Những toa tầu bật sáng trong đêm

Những tàn lửa vùng vẫy” (Trần Dạ Từ - Tựa Nhỏ)

 

Làm thơ, với nhà thơ Trần Dạ Từ chính là nói lên lẽ phải bằng tấm lòng yêu thương:

 

“Việc chúng ta: làm thơ và yêu nhau

Ta đâu biết làm việc gì khác

 

Đâu sẽ vô đó. Chẳng có gì đáng ngại

Lẽ phải sẽ phải là lẽ phải

Khi được nói bằng tấm lòng thương yêu

Được nghe bằng đôi tai tin cậy” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Nhưng chế độ và nhà tù cộng sản không dùng tai để nghe lẽ phải mà dùng tai vách mặt rừng để theo dõi, để trấn áp và hành hạ tù nhân và dân lành. Một trong những phương thức hành hạ và kiểm soát tù nhân tàn bạo nhất đã trở thành “kinh điển,” “chính sách” của cộng sản là “cái đói.”

  

“Cái đói phát minh của thiên tài.

Nó là thứ gì vậy?

Tên nó, “Chính sách lương thực của Lenin”

Nó giản dị thôi:

Kinh nghiệm phản xạ có điều kiện

từ con chó của Pavlov

được tính toán, phối hợp lô gích cho con người

Sự co thắt dạ dày. Nước miếng. Tiếng kẻng

Cái đói thành vũ khí chuyên chế vô địch

Nó được tung, được hứng, được quảng cáo xôm tụ:

“Kiểm kê. Quản lý. Làm chủ”

 

Và nó vơ. Nó vét. Nó ban phát ơn huệ

Biến chén cơm, miếng bánh thành ma túy

Biến tiểng kẻng cho ăn thành lệnh của ma quỉ

Để khuất phục đồng loại” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Cái đói ở trong tù cộng sản kinh khủng đến độ những tù nhân đã phải tự nghiễn ra cách nấu nướng và ăn bằng miệng cho đỡ đói, như nhà thơ Trần Dạ Từ mô tả đầy kịch tính mà đau đớn khôn cùng:

 

“Anh này trổ tài làm cơm cháy vàng rực

Anh kia đang lựa vịt chọn gà

Anh khác nữa, cân đo gia vị

Hợp lại thánh bữa ăn thịnh soạn

Tha hồ mời bạn tù đánh chén

 

Không nước, không lửa, không củi

Không nồi, không gạo, không cả muối

Càng khỏe. Cần gì. Anh em nấu bằng miệng

Thưởng thức. Nhai nuốt. Bằng nước miếng

Tiêu hóa bằng chính xương thịt mình

 

Nước miếng ứa. Rớt nhãi chẩy. Kẻng ăn gõ

Nó đang gõ. Nó còn tiếp tục gõ

Gõ không ngừng. Gõ đây. Gõ đó”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Một phát minh khác của “thiên tài” cộng sản là cái kẻng gõ không chỉ có trong nhà tù mà còn có ở khắp nơi trong đất nước như nhà thơ Trần Dạ Từ đã mô tả một cách chi tiết và sống động nhưng nghe ra thì mỉa mai, cay đắng và bi đát làm sao:

 

“Nó là cái niềng bánh xe cũ phế thải

Có thể là mảnh đạn, là vỏ bom

Có nơi, như ở trại tù Z.30D,

nó là cái chuông đồng

Mang về từ ngôi chùa cổ nào đó bị cướp phá

 

Nó có dàn treo, có mái che

Sơn đỏ sơn xanh. Kẻ hầu người hạ

Nó lủng lẳng khắp nơi

Cổng tù. Cơ quan. Làng mạc. Thành phố

Nó được gõ. Bằng vồ. Bằng búa

 

Cẩn thận nghe em. Nó đang gõ

Nó gõ sáng. Gõ trưa. Gõ chiều

Rền rỉ những thể xác yếu đuối

Nó gõ tai bắt vểnh. Gõ mắt bắt nhắm

Gõ dạ dầy bắt cồn. Gõ gan ruột bắt cào

Gò khuỷu tay bắt tung hô

Gõ đầu gối bắt xì xụp

Gõ mồm miệng bắt hát, bắt hò

Bắt gào thét, nguyền rủa, đấu tố”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Ở trong cái thế giới đó, trong hoàn cảnh oan nghiệt đó, nếu không có thứ vũ khí là Hòn Đá Làm Ra Lửa thì làm sao sống nổi. Chỉ có chết thôi.

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta

Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu

Vũ chết hôm kia. Hồ chết hôm qua

Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa sắp chết

Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê!”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Theo ghi chú của nhà thơ Trần Dạ Từ, Vũ là Vũ Hoàng Chương; Hồ: Hồ Hữu Tường; Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa: Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh; Lưu: Mặc Thu Lưu Đức Sinh; Doãn: Doãn Quốc Sỹ; Lê: Lê Hạ Vĩnh, tức Trần Dạ Từ.

Nhờ có lửa từ hòn đá làm ra, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn còn sống, vẫn gan lì để sống. Không những thế, từ ngọn lửa trong tâm làm trí ông sáng rực lên để nhận ra lẽ biến dịch tuần hoàn của vũ trụ và con đường “bất tận của dòng suối sinh nở” hay sinh tử luân hồi, nói theo nhà Phật.

 

“Có thể không còn. Cũng chẳng mất đi đâu

Dòng chảy nào không hao hụt, bốc hơi

Có thể chúng ta vẫn quanh quất đâu đó

Như bọt nước tung tóe reo vui

Nơi này. Nơi kia

Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Điều lạ là, trong câu thơ bình dị của nhà thơ Trần Dạ Từ ở trên, “Cũng chẳng mất đi đâu” lại nói lên trọn vẹn ý nghĩa siêu việt của Bát Nhã Tánh Không “bất tăng bất giảm.” Vì các pháp như bọt nước, vốn không có tự ngã, không có tự thể nên chúng không đến, không đi, không tăng, không giảm.

Khi nghĩ đến điều kỳ diệu này, nhà thơ Trần Dạ Từ đã tự tại mỉm cười:

 

“Và tôi mỉm cười

Thư thái hình ảnh em bước tới”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Dường như trên thế giới này chưa có bài thơ nào được một thi sĩ viết trong tù dài như bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa của nhà thơ Trần Dạ Từ, với gần bảy trăm câu, được in trong tuyển tập Thơ Trần Dạ Từ, do Việt Báo Foundation xuất bản vào tháng 11 năm 2018 tại California, Hoa Kỳ.

Theo nhà thơ Trần Dạ Từ cho biết, bài thơ này được ông làm trong những năm ông bị chính quyền CSVN bắt bỏ tù tại các trại tù Gia Trung năm 1979 đến trại tù Hàm Tân năm 1987, nghĩa là trải dài 8 năm tù. Điều đặc biệt của bài thơ này là vì ở tù CS nên nhà thơ Trần Dạ Từ không thể viết ra mà phải nhớ thuộc lòng trong đầu, cho đến khi ông và gia đình được chính phủ Thụy Điển can thiệp để CSVN trả tự do và cho đi định cư tại Thụy Điển thì bài thơ mới được ông viết ra thành chữ vào tháng 11 năm 1988 tại Thụy Điển. Bài thơ được đăng toàn phần lần đầu tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1989 trong Tạp Chí Văn do nhà văn Mai Thảo chủ biên. Bài thơ cũng đã được dịch sang tiếng Anh vào năm 1990 bởi Giáo Sư Cuong T. Nguyen, tại Đại Học George Mason University. Vào ngày 28 tháng 1 năm 1992, bài thơ này đã được nhà văn James Webb, Cựu Thượng Nghị Sĩ, Bộ Trưởng Hải Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ giời thiệu, và nữ tài tử Kiều Chinh, nhà báo Lê Đình Điểu và nhà thơ Trần Dạ Từ đọc tại Quốc Hội Hoa Kỳ ở Thủ Đô Washington.

Nhà thơ Trần Dạ Từ có lần kể rằng, mỗi ngày ông làm một số câu thơ và đã học thuộc lòng cả câu cũ lẫn câu mới. Cứ thế ông đọc thuộc lòng mỗi ngày tất cả những câu thơ này và vì vậy mới có thể nhớ và giữ được nguyên bài cho đến khi viết ra thành chữ.

Bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa là một sử thi, một bản trường ca bi tráng của người tù Việt Nam, kể về thân phận đau thương, cuộc sống khổ lụy cùng cực, những cách đối xử tàn bạo và bất nhân trong nhà tù cộng sản, về nhân cách cao thượng và sự chịu đựng phi thường của tù nhân, về lòng nhân hậu và tình yêu thương như tia lửa không ngụm tắt của người tù cho dù sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã và bế tắc nhất của cuộc đời, của thời đại.

 

“Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời

Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Bởi vậy, dù đang bị giam trong tù ngục tối tăm của cộng sản, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn không đánh mất niềm tin vào tình yêu và đạo đức vô hình trên thế gian:

 

“Vẫn chẳng hề hấn gì

Nụ hoa tình yêu và đạo đức vô hình

Nở mãi trong vười ta

Ý nghĩ, sự ăn ở tốt lành, dù không ai biết đến

Vẫn lặng lẽ tỏa hương trong không gian

Làm đẹp bầu trời và mặt đất.”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Xin cảm ơn nhà thơ, trong hoàn cảnh gông cùm, như bất cứ lúc nào, vẫn ung dung trấn an chúng ta: “Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề hấn gì.”




Huỳnh Kim Quang

(Gia đình Việt Báo kính mừng anh Trần Dạ Từ 80 tuổi. Chúc nhà thơ của chúng ta nhiều sức khỏe, tâm vui thân an.)



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trải dài suốt mấy thế hệ, từ thời kháng chiến chống Pháp, cuộc chiến hai mươi năm, và rồi tha hương, tên tuổi Phạm Duy luôn luôn gắn bó với tình tự dân tộc, là một huyền thoại trong khu làng âm nhạc, văn nghệ Việt Nam. Hiếm ai trong chúng ta không cảm thấy lòng dạt dào yêu quê Mẹ Việt Nam hơn khi nghe nhạc và ca từ của Ông. Cả một cuộc đời dài sáng tác, Ông đã để lại cho đời sau một gia sản tinh thần khổng lồ với “ngàn lời ca” mà có lẽ trước và sau Ông khó ai bì kịp. Đúng ngày này 10 năm trước, ngày 27 tháng 1 năm 2013, người nhạc sĩ nổi trôi cùng mệnh nước 93 năm đã kết thúc cuộc hành trình “trên đường về nơi cõi hết”. Nhân ngày giỗ Ông năm thứ 10, Việt Báo hân hạnh đăng tải dưới đây loạt bài của nhà văn Cung Tích Biền. Loạt bài gồm 4 phần, mỗi phần là cái nhìn ở mỗi chặng đường soi giọi bước chân của người nhạc sĩ.
mưa bụi lướt về trong mơ ướt sũng một thời trí nhớ thì thầm cổ tích như thơ bay vào trong con giấc ngủ mẹ ru con lời dịu dàng nguyện cho mưa về tốt lúa nguyện cho khắp cõi bình an nguyện người người xa nhà lửa
Sinh thời, Hemingway, tác giả của “Ngư ông và biển cả” vào bất cứ lúc nào cũng có nuôi chừng vài chục con mèo. Ngôi nhà của ông ở Key West, Florida, trở thành viện bảo tàng có khoảng 40 cho đến 50 con mèo sáu ngón (polydactyl cat). Tất cả đều được đặt tên của những nhân vật nổi tiếng. Đám mèo sáu ngón này là hậu duệ của con mèo Snow White do một vị thuyền trưởng tặng cho Hemingway.
... Nếu thế thì mỗi bài thơ là một sự cách tân, mỗi thi sĩ là một người làm mới sự vật. Có những điều chỉ ngôn ngữ thi ca mới nói được, chỉ thi ca mới có cái “thần” giúp chúng ta thấu thị tận đáy sâu của bản ngã. Người làm thơ là người nắm trong tay quyền năng “soi sáng” sự vật, quyền năng cho sự vật một đời sống mới, quyền năng “đi vào linh hồn của sự vật[1],” và không ai có thể tước đoạt quyền năng đó từ tay hắn...
Ngày nay nhân loại có quá nhiều thú vui không kể xiết. Người ta tìm kiếm, ngụp lặn trong thú vui và cho đó là hạnh phúc. Nhưng này bạn ơi, Thú vui không phải là hạnh phúc, Mà nhiều khi nó là nguồn gốc của khổ đau. Niềm vui lớn nhất của nhân loại ngày hôm nay.
Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp 2022 là một sự kiện hy hữu. Đây là giải thi viết đầu tiên ở hải ngoại để mời gọi viết bài hoằng pháp. Cũng là những hy sinh rất lớn của Ni Sư Thích Nữ Giới Hương, Trưởng Ban Tổ Chức Cuộc Thi, một công trình rất nặng nhọc và rất tốn nhiều thì giờ. Điểm hy hữu là: Chùa Hương Sen được thành lập ở thị trấn Perris, California, từ tháng 4/2010, vậy mà 12 năm qua chưa xây xong chánh điện vì nhiều lý do, bây giờ đã tổ chức được một cuộc thi viết văn gây nhiều tiếng vang toàn cầu. Ngay cả khi chánh điện bằng gạch cát xi măng chưa xây xong, một chánh điện bằng chữ đã hình thành trong tâm của nhiều ngàn người quan sát Cuộc thi này trong hội trường và trên livestream. Không chỉ như thế, hy hữu là rất nhiều bài viết gửi về dự thi đều hay tuyệt vời, nêu lên được những trải nghiệm gian nan và hạnh phúc của người con Phật.
Tôi biết BS. Phạm Gia Cổn lúc tôi vừa tập tễnh bước vào đời lính, nhận trách nhiệm làm y sĩ trưởng cho Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng một tiểu đoàn mà BS. Cổn vốn là y sĩ tiền nhiệm 2 năm trước. Tôi lội bộ theo TĐ, Anh làm chỉ huy trưởng Bệnh Viện Dã Chiến Đỗ Vinh tại căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở BV Dã Chiến khi tôi theo trực thăng chuyển thương binh. Tôi nhìn thấy anh cao lớn, rất phong độ, uy dũng, với 3 bông mai đen ở cổ áo hoa rừng và dấu hiệu 3 đấm tay của Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Tae Kwon Do ở túi áo trước ngực bên trái. Nhìn vào Anh, tôi có cảm giác như một tảng đá mạnh bạo, có tinh chất võ biền mà mình có thể dựa lưng khi cần. Dù hình tướng có vẻ rất quân kỷ, nhưng thái độ anh lại hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, cởi mở nhưng trực tính. Anh đã cho tôi sự tự tin và niềm vui trong tình huynh đệ. Về sau, tôi cũng biết tin anh được đề cử làm Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trong trận bảo vệ phòng truyến Phan Rang vào đầu tháng 4, 1975.
Hầu như mỗi cuối tuần, cô ấy và tôi đều đi đâu đó bằng tàu điện hoặc xe buýt. Ở Ukraine, có thể đi xa trong cuối tuần và trở về đúng thời hạn. Chỉ một lần chúng tôi về trễ, đi làm muộn hôm thứ hai. Đó là ngày chúng tôi đón xe đi nhờ từ Milove, vùng Luhansk, vào tháng Giêng. Đây là nơi cực điểm miền đông của đất nước. Đi đến bằng xe buýt, lúc quay về, chúng tôi cầm tay nhau đi bộ dọc con đường phủ đầy tuyết. Thuở đó chúng tôi say mê nhau. Những anh chàng ở nhà bốn cửa kiểu Liên Xô cho chúng tôi đi nhờ, không có vấn đề, ngoại trừ mỗi lần họ chỉ chở chúng tôi vài kilô mét, rồi thả xuống để rẽ vào làng của họ. Nhìn ánh sáng xanh ngát buổi hoàng hôn, chúng tôi rùng mình và cảm thấy hạnh phúc.
"Happening", ghi lại ca nạo phá thai bất hợp pháp mà bà đã trải qua, vào năm 1963 ở tuổi 23 và là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của Audrey Diwan. Bộ phim đã được phát hành vào tháng 5 vừa qua, không lâu trước khi Tòa án tối cao pháp viện Hoa Kỳ kết thúc gần nửa thế kỷ Quyền bảo vệ sinh sản của liên bang bằng cách lật ngược Roe vs. Wade. Dù sau khi cải cách, Hàn Lâm Viên đã nỗ lực tuyên bố giải Nobel văn học đánh giá trên giá trị văn chương, nhưng câu hỏi vẫn được nêu ra: Giá trị văn chương và ảnh hưởng chính trị có biên giới ở đâu? Như trường hợp giải Nobel năm 2016, trao cho nhạc sĩ Bob Dyland. “Một nhạc sĩ kiêm nhà viết ca khúc, không phải tác giả. Mặc dù ông đã viết một hồi ký rất hay, một tập thơ dở và một bài diễn văn về The Eagles Woman.”* Việc này đưa đến nhiều dư luận phê phán, tạo ra tên gọi “kỷ nguyên hỗn loạn của giải Nobel.”
Trong quyển tiểu sử Gabriel García Márquez: A Life, Gerald Martin kể rằng García Márquez viết Trăm năm cô đơn chỉ trong vòng một năm, từ tháng 7 năm 1965 cho đến tháng 7 năm 1966, dù ông luôn nói rằng ông mất đến 18 tháng, hoặc có khi là 18 năm. “Trong một tia cảm hứng chớp nhoáng, ông đã nhận ra rằng thay vì viết một cuốn sách về thời thơ ấu của mình, ông nên viết một quyển sách về những kỷ niệm thời thơ ấu của mình. Thay vì một cuốn sách về hiện thực, nó nên là một cuốn sách về sự biểu thị của hiện thực […] Thay vì một cuốn sách về Aracataca và con người ở đó, nó sẽ là một quyển sách được thuật lại qua thế giới quan của họ.”….
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.