Hôm nay,  

28 tháng Tư ở Đại học Berkeley

02/05/201800:14:00(Xem: 7134)
28 tháng Tư ở Đại học Berkeley
 
Bùi Văn Phú

 

Sân trường sáng nay vắng hơn những thứ Bảy khác vì hôm qua là ngày cuối cùng sinh viên có lớp. Sau đó là “dead week” – một tuần lễ không còn lớp học để sinh viên dành thời gian riêng ôn bài trước kỳ thi cuối khoá.

 

Trước thư viện chính, bên cổng phía tây với hàng đào Nhật vẫn còn trổ bông và trước Sather Gate, vài nhóm sinh viên trong mũ áo tốt nghiệp đang cùng nhau chụp hình lưu niệm.

 

Sáng nay tôi vào trường để tiếp tục nghe hội thảo về di dân ở Đông Nam Á do Đại học UC Berkeley, UC Los Angeles và Đại học Toronto phối hợp tổ chức. Hội thảo đã bắt đầu từ hôm qua, với 20 bài nghiên cứu về di dân, xuất khẩu lao động.

blank

H01: Chương trình văn nghệ lần thứ 39 của sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 
blank

H02: Múa nón quai thao (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Liên quan đến Việt Nam là bài của Timothy Karis từ Western Oregon University về việc mở rộng thủ đô Hà Nội [Urban Footprints: Migration, Place-making, and the Politics of Presence in Hanoi, Vietnam] và bài của Christina Schwenkel từ UC Riverside với đề tài về người Việt ở Đông Đức trước đây [The Things They Carried (and Kept): Socialist Mobilities and Vietnamese Remittances from East Germany]

 

Cũng có diễn giả gốc Việt trình bày nghiên cứu tại hội thảo. Oanh K. Nguyễn là nghiên cứu sinh ban tiến sĩ chính trị học từ University of Minnesota, với đề tài về chính sách di dân của Malaysia [Development and Nation: The Evolution of Malaysian Immigration Laws]

 

Tôi chú ý nhiều đến bài tham luận của Angie Ngọc Trần từ California State University, Monterey về tiến trình đưa người H-Rê đi lao động ở Malaysia [The Ethnic H-Rê Experiences: Labor Migration from Vietnam to Malaysia and Return]

 

Hiện nay có nửa triệu người Việt đi lao động nước ngoài, tôi thường nghĩ họ là người kinh ở vùng quê nghèo, nhưng khi xem nội dung chương trình thấy đề tài của giáo sư Trần nên tôi quan tâm. Không nhẽ người dân tộc ở trên miền núi của Việt Nam giờ đây cũng đã phải chấp nhận đi làm công nơi xứ người, vì trước nay họ được biết đến là có truyền thống sống chết với quê cha đất tổ, không ai muốn bỏ buôn làng ra đi.

 

Bài nghiên cứu cho thấy việc thay canh tác lúa để trồng cây sao trong một số huyện ở tỉnh Quảng Ngãi đã không đưa kinh tế khu vực lên, khiến nhiều người H-Rê đã phải tìm đường đi lao động nước ngoài để gửi tiền về giúp gia đình cải thiện cuộc sống và trong quá trình làm thủ tục đã có khó khăn, hối lộ và tham nhũng.

 

Sau gần 5 năm tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận định rằng mục tiêu xoá đói giảm nghèo qua nghị định 71/CP của nhà nước đến nay không đem lại cải tiến bền vững cho cuộc sống của hàng vạn người dân H-Rê ở các huyện Ba Tơ, Sơn Hà và Nghĩa Hành. Qua những tìm hiểu và liên hệ với cơ quan môi giới, đặt vấn đề giúp đỡ cho họ nên một số người đi lao động nước ngoài đã được dãn nợ, khoanh nợ hoặc xoá nợ.

 

Trong khi giáo sư Angie Ngọc Trần đưa ra hình ảnh đời sống kinh tế khó khăn của người H-Rê qua nghiên cứu học thuật, từ một góc nhìn khác cũng liên quan đến Việt Nam đương đại là chương trình văn nghệ – Culture Show – chủ đề “Hai ngã dòng đời [Streams of Life] của sinh viên đã gợi lên những suy nghĩ về một vấn đề đang gây nhiều quan ngại trong xã hội, đó là sự kiện Formosa.

 

Buổi diễn đã mở màn lúc 2 giờ chiều tại Zellerbach Hall trong khuôn viên trường với 1200 khán giả tham dự.

 

Từ ngày thành lập Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley vào tháng 1/1979, đây là Culture Show lần thứ 39, kể từ chương trình văn nghệ “Đêm Việt Nam” đầu tiên vào tháng 4/1980.

 

Vở ca vũ nhạc kịch chủ đề “Hai ngã dòng đời” cũng có bối cảnh ở miền Trung Việt Nam, tại tỉnh Hà Tĩnh, nơi công ty sắt thép Formosa đã xả chất độc làm hủy hoại môi trường, giết chết sinh vật biển trên chiều dài hơn 200 km. Cá chết, nước nhiễm độc khiến cư dân không còn thể tiếp tục hành nghề. Nhiều người phải bỏ làng ra đi tìm kế mưu sinh ở nơi khác.

 

Phượng là một cô gái bướng bỉnh, bị áp lực gia đình phải sống theo khuôn phép nhưng cô không chấp nhận. Gia đình Phượng bị ảnh hưởng bởi Formosa, không nhận được tiền bồi thường, không thể tiếp tục sinh sống nơi ven biển nên mẹ cô phải vào Sài Gòn làm osin cho một đại gia sống trong khu nhà sang trọng ở Quận 7.

 

Phượng nhận ra mình không thể ngồi yên trước bất công, trước những lên tiếng của người dân Hà Tĩnh đòi môi trường sạch nên cô đã thực hiện chuyến đi xuyên Việt bằng xe máy từ Sài Gòn về quê miền Trung. Cô gia nhập đoàn người biểu tình phản đối nhà nước, giương cao khẩu hiệu: “Tôi chọn cá” và bị công an đánh đập, bắt giam.

 

Hoạt cảnh đan xen trong tiếng đồng ca của những giọng hát sinh viên, qua lời nhạc của Việt Khang:

 

Xin hỏi anh là ai / Sao bắt tôi tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai / Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai / Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này
/ Dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!

 

Sinh viên Đỗ Việt Quang Minh viết kịch bản và đã đưa vào chương trình nhiều nét đẹp của văn hoá Việt qua múa nón lá, nón quai thao, múa lụa, múa quạt, múa lân, qua những ca khúc đượm tình quê hương: “Thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, “Thương về miền Trung”, hay phản ánh ý chí chống ngoại xâm của dân Việt: “Anh là ai”, “Việt Nam ơi”.

 

Văn hóa Mỹ biểu hiện qua các màn vũ của nhóm Sriracha trong các ca khúc “A Million Dreams”, “Wherever You Will Go”, “I Miss You” hay những đoản khúc: “Let You Down”, “Everything Black”.

 

 blank

H03: Những giọng hát sinh viên (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 blank

H04: Gia đình Phượng đón Long từ Mỹ về thăm quê hương (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 blank

H05: Phượng cùng người dân tham gia biểu tình đòi môi trường sạch và bị bắt giam tù (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

Khác biệt văn hóa trong vở kịch biểu hiện qua cách ứng xử giữa Phượng và người anh họ là Long sinh ra tại Mỹ từ San Jose về quê nghỉ hè, cũng như qua mối tương giao giữa mẹ của Phượng với cô.

 

Giao tiếp giữa Long với hai mẹ con gốc Hội An cũng phản ánh những nét của xã hội Việt Nam ngày nay, khi mà bà mẹ tần tảo buôn bán ở chợ chỉ muốn cô con gái theo Long để có cơ hội cưới được Việt kiều.

 

Đạo diễn chương trình là Julie Lum và Brian Nguyễn. Toán phụ trách thực hiện có Austin Lê, Hoài-Thu Trần, Khôi Võ, Thiên Kim Hồ và Châu Phạm.

 

Các vai chính trong vở kịch gồm: Phượng (Linh-Chi Trần), Long (Darian Tạ), Nhi (Sophia Quách), Huyền (Như Nguyễn), Dũng (Hiển Nguyễn), Kim (Natalie Phạm), Diệu (Jas Lee), Hảo (Vincent Trần) và Bi (Simon Zhen).

 

Chủ tịch hiện thời của Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley là Hiển Nguyễn, sinh viên năm thứ tư khoa sử, đến Mỹ định cư bảy năm trước.

 

Góp phần làm nên chương trình văn nghệ là công sức của hơn 100 sinh viên, dù miệt mài với sách vở nhưng đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức luyện tập để chương trình thành công một cách tốt đẹp, được khán giả nhiệt tình khen.

 

Ngoài văn nghệ thường niên của hội sinh viên, trong lớp văn học Việt Nam khóa mùa Xuân này, do cô Nguyễn Nguyệt Cầm phụ trách, sinh viên Berkeley đã có cơ hội đọc những tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Cung Tích Biền, Thảo Trường, Y Uyên, Võ Phiến, Nguyễn Bắc Sơn, Kim Tuấn, Nguyên Sa, Hà Thúc Sinh, Phan Nhật Nam. Được nghe nhạc “Chuyện hai người lính,” “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy, “Gia tài của mẹ” và “Tôi sẽ đi thăm” của Trịnh Công Sơn.

 

Hôm 26/4 cô Nguyệt Cầm có viết trên FB về ngày cuối của lớp học đã được kết thúc bằng mấy câu thơ của Tô Thùy Yên: “ta về như lá rơi về cội/ bếp lửa nhân quần ấm tối nay/ chén rượu hồng đây xin rưới xuống/ giải oan cho cuộc biển dâu này.”

 

Mỗi tháng Tư đến, sinh viên Berkeley lại làm văn nghệ để nhớ về cội nguồn Việt Nam, nhớ đến “Tháng Tư Đen” trong sử Việt, như lời sinh viên Châu Phạm phát biểu trong mở đầu chương trình.

 

Qua 39 chương trình văn nghệ của sinh viên Berkeley, văn hoá Việt và đặc biệt là những nét đẹp của một thời Việt Nam Cộng hoà vẫn được bảo tồn và phát huy ở hải ngoại, dù còn bị trù dập, cấm phổ biến nơi quê nhà.

 

Mấy thập niên qua, dù sống xa quê hương cội nguồn, từ khuôn viên trường này sinh viên vẫn tiếp tục ươm trồng những hạt mầm văn hoá Việt cho thế hệ mai sau.

 

© 2018 Buivanphu

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.