Hôm nay,  

Cuộc Điều Trần… Huề Vốn

03/11/201520:05:00(Xem: 7911)

9 tiếng đồng hồ hạch hỏi bà Hillary, vẫn không biết gì nhiều hơn, vì bà rất giỏi tránh né

Tuần qua, có lẽ là tuần vui nhất của bà Hillary từ cả mấy năm nay. Hàng loạt tin vui đã đến với bà sau những năm tháng đau đầu nhức răng, nhất là từ ngày chính thức ra tranh cử tổng thống.

Tin vui đầu tiên là bà đã nổi bật như ngôi sao sáng nhất trong bầu trời Dân Chủ lác đác vài con đom đóm, qua cuộc tranh luận nhàm chán của đảng này. Một cuộc tranh luận gọi là “cho có”, mà thực tế chỉ giúp củng cố vai trò ứng viên độc diễn của bà Hillary.

Tin vui thứ hai là chẳng bao lâu sau, hai ông ứng viên làm cảnh Jim Webb và Lincoln Chafee rút lui vì tỷ lệ hậu thuẫn trong nội bộ DC vẫn chưa leo lên được tới... 2%. Hiện nay, còn cụ già cực tả Bernie Sanders và ông cựu thống đốc OMalley. Hai ông này nếu không rút lui sớm, thì cũng vẫn chỉ đóng vai chậu kiểng trong phòng khách của bà Hillary thôi. Cuộc “chạy đua” bên DC coi như chưa bao giờ diễn ra. Hoàn toàn trái ngược với bên CH khi gần hai chục ông bà lo chạy hụt hơi.

Tin vui thứ ba là việc ông phó Biden chính thức tuyên bố không ra tranh cử. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Đảng DC trong mấy tháng qua đã lên cơn sốt rét khi thấy hậu thuẫn của bà Hillary rớt như sung rụng, vội vã tìm cách đánh bóng các cụ Al Gore và nhất là Biden, đề phòng trường hợp bà Hillary gặp đại hoạ. Nhưng qua cuộc tranh luận cùng các ứng viên hạng ruồi, bà Hillary nổi bật và có nhiều triển vọng sống sót, nên cái bánh xe phòng hờ Biden đã trở thành không cần thiết nữa. Chuyện ông Biden đắn đo suy nghĩ vì còn bị phân tâm bởi cái chết mới đây của con ông chỉ là chuyện xi-nê-ma màu mè cho có cớ trì hoãn thăm dò dư luận và rút lui khi thấy vô vọng.

Và tin vui mới nhất cho bà Hillary là bà thoát nạn, thoát qua khỏi cuộc điều trần của Hạ Viện về cuộc thảm sát tại Benghazi.

Trước hết, xin nhắc lại câu chuyện Benghazi.

Tối ngày 11 tháng 9 năm 2012, đại sứ Mỹ tại Libya đi viếng tòa lãnh sự Mỹ tại Benghazi cùng một số cận vệ, bất ngờ bị một nhóm người tấn công bằng súng đạn hạng nặng, rồi đốt toà lãnh sự. Ông đại sứ và ba cận vệ bị chết tại chỗ. Sau đó, quân nổi loạn chạy qua tấn công cơ sở CIA luôn.

Trong suốt cả tháng trời, chính quyền Obama khẳng định cuộc tấn công là do dân chúng nổi giận về một cuốn phim 15 phút làm tại Mỹ phổ biến trên YouTube trong đó Đấng Tiên Tri Mohamed bị bôi bác, cho dù chỉ là khúc phim diễu dở chẳng ai để ý. Bà Susan Rice, đại sứ tại Liên Hiệp Quốc, chẳng dính dáng gì đến câu chuyện, bị đưa lên 5 đài TV trong một ngày để khẳng định đây là biểu tình tự phát của quần chúng chống cuốn phim, chứ không phải khủng bố tấn công. Trước đó, bà ngoại trưởng Hillary Clinton, ông bộ trưởng Quốc Phòng Robert Gates, và đại tướng Giám Đốc CIA David Petraeus, đều đã lần lượt từ chối trách nhiệm này. Họ đều hiểu rõ họ sẽ phải lên TV để loan một tin mà họ biết là thất thiệt. Chỉ có bà Rice là “hy sinh cứu chúa”.

Cả nước Mỹ bị chấn động và đòi hỏi chính quyền giải thích, làm sáng tỏ vấn đề, ép chính quyền Obama phải thành lập một ủy ban đặc nhiệm xét lại biến cố, đồng thời quốc hội, với hậu thuẫn của cả hai đảng, cũng phát động cuộc điều tra.

Câu chuyện ở đây có nhiều yếu tố hết sức quan trọng.

Thứ nhất, yếu tố an ninh: một đại sứ Mỹ bị giết ngay trong tòa lãnh sự Mỹ, cùng với ba cận vệ, tòa lãnh sự bị thiêu rụi, rồi sau đó, trụ sở CIA cũng bị tấn công và phá nát. Tình trạng an ninh của các cơ sở ngoại giao Mỹ như thế nào? Sao lại lỏng lẻo đến như vậy? Nhất là ngày đó chính là ngày kỷ niệm 11 năm cuộc tấn công của Al Qaeda vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Cuộc tấn công kéo dài 7 tiếng đồng hồ, tại sao các lực lượng ứng phó của Mỹ đóng tại Ý Đại Lợi, cách đó có hai ba giờ bay đã không nhúc nhích.

Thứ nhì, yếu tố khủng bố: làm sao một đám dân biểu tình vớ vẩn có thể đủ súng ống, bom đạn phá tan toà lãnh sự và trụ sở CIA dễ dàng như vậy được? Đâu phải là hai cái lô-cốt của cảnh sát giao thông đâu. Có thật là thường dân không hay đây chính là một cuộc “hành quân” võ trang nặng, có kế hoạch, chỉ đạo quy mô của khủng bố Al Qaeda? Chính quyền Mỹ đã làm gì để trừng phạt, đã bắt được bao nhiêu tên khủng bố?

Thứ ba, yếu tố khả năng: bà ngoại trưởng có chu toàn đầy đủ trách nhiệm bảo vệ nhân viên và cơ sở ngoại giao không? Trước, trong khi, và sau cuộc tấn công, bà đã biết những gì, đã nói chuyện gì với ai, và có những quyết định gì.

Thứ tư, yếu tố chính trị quan trọng nhất: có phải toàn thể nội các Obama đã dàn xếp tấn tuồng đổ thừa lên khúc phim YouTube để khỏa lấp việc khủng bố tấn công không. Điểm này đặc biệt quan trọng vì cuộc tấn công xẩy ra đúng hai tháng trước ngày bầu cử tổng thống. TT Obama ra tranh cử lại, đấm ngực khoe thành tích giết Bin Laden, Al Qaeda đang vắt giò lên cổ chạy trốn vào hang núi, mang lại an toàn cho nước Mỹ và dân Mỹ. Bây giờ, nếu đúng là Al Qaeda đánh thì hoá ra TT Obama chỉ là huênh hoang nói phét, Al Qaeda vẫn còn đó, mà lại dư sức đánh cơ sở ngoại giao và CIA, giết luôn cả đại sứ. Ứng viên CH Romney bảo đảm sẽ không bỏ qua.

Đó chỉ là đại cương những câu hỏi quan trọng nhất. Cạnh đó còn cả trăm, cả ngàn câu hỏi chi tiết khác mà ai cũng muốn biết câu trả lời. Không kém quan trọng là câu hỏi các vị lãnh đạo cao cấp nhất như TT Obama, giám đốc CIA, bộ trưởng Quốc Phòng, Ngũ Giác Đài, v.v... khi đó ở đâu, biết gì và đã có những quyết định gì?

Bộ Ngoại Giao điều tra về tình trạng an ninh chung của các cơ sở ngoại giao Mỹ, đã mau mắn kết luận là phần lớn các cơ sở ngoại giao đã có tình trạng an ninh cực kỳ lỏng lẻo, đặc biệt là tại những nơi hết sức bất ổn như Libya, và các thủ đô Trung Đông khác. Bộ Ngoại Giao nhận trách nhiệm, không phản bác những kết luận của ủy ban đặc nhiệm, nhưng đổ thừa tại thiếu ngân sách. Hàng loạt biện pháp cải thiện an ninh được ban hành. Có nghiã là yếu tố an ninh đã tạm được giải quyết, không còn là đề tài tranh cãi nữa.

Việc khủng bố tấn công sau đó cũng đã được xác nhận. Bích kích pháo từ ngoại ô Benghazi đã bị rót vào toà lãnh sự trước khi khoảng hai chục tên khủng bố võ trang đầy đủ vũ khí nặng tiến đánh hai mục tiêu. Cho đến bây giờ, chỉ có đúng một tên bị bắt.

Hai yếu tố khả năng và chính trị thì… càng ngày càng đi vào sương mù. Cho đến nay, đã có cả thẩy sáu cuộc điều tra của Thượng Viện và Hạ Viện. Mà vẫn chưa xong. Khiến bà Hillary lại bị lôi ra trước ủy ban đặc nhiệm một lần nữa.

Đảng DC và chính quyền Obama coi như chuyện này chẳng còn gì để bàn nữa. An ninh thiếu sót thật, nhưng những biện pháp cải thiện đã được lấy rồi. Cuộc tấn công đúng là do khủng bố Al Qaeda chủ động thật, nhưng sau này mới biết, chứ trong những ngày đầu, chính quyền Obama thiếu tin tức chính xác nên đinh ninh là biểu tình tự phát thật. Đây là chuyện lộn xộn trong cảnh tang gia bối rối, chứ tuyệt đối không có chuyện chính quyền Obama cố tình ém nhẹm vì lý do tranh cử. Dĩ nhiên đảng DC tố cáo đảng CH muốn dùng câu chuyện này để đánh đảng DC, nhất là đánh bà Hillary khi bà đang ra tranh cử tổng thống.

Đảng CH thì cho rằng cuộc điều tra chưa đi đến đâu cả mặc dù đã kéo dài cả ba năm nay, chỉ vì những câu hỏi chính về vai trò của các vị lãnh đạo có trách nhiệm vẫn chưa được trả lời qua thái độ bất hợp tác của chính quyền Obama.

Sự thật là … cả hai bên đều có lý phần nào.

Cuộc điều tra của quốc hội khởi đi như một quyết định được cấp lãnh đạo cả hai đảng, truyền thông và quần chúng ủng hộ vì những lý do hết sức chính đáng: điều tra để biết việc gì đã xẩy ra để tránh bị lại lần nữa. Cho đến đây thì mọi người đều đồng ý.

Những người ít am hiểu về chính trị Mỹ cho rằng “the party of no” CH đang hạch sách hành pháp DC vì lý do chính trị. Trên thực tế, điều tra là công cụ hữu hiệu nhất để người dân –qua quốc hội- kiểm soát hành pháp để không cho xẩy ra nạn độc tài lộng hành kiểu cộng sản.

Nhưng rồi cuộc điều tra về Benghazi có vẻ kéo dài quá lâu.


Đảng DC đổ lỗi cho đảng CH muốn khai thác câu chuyện để đánh đối thủ trong mùa bầu cử. Sự thật dĩ nhiên là đúng như vậy. Không một chính khách nào lại có thể ngây thơ đến độ không muốn hay không biết khai thác một biến cố bất lợi cho đối phương. Mỗi lần Hành Pháp và Lập Pháp nằm trong tay hai đảng đối lập thì bảo đảm thế nào cũng có chuyện để điều tra, điều trần tháng này qua năm nọ. Các tổng thống cận đại đều có nếm mùi bị điều tra rất kỹ: từ TT Johnson (về cái chết của TT Kennedy, linh mục Martin Luther King), Nixon (Watergate), Carter (tòa đại sứ tại Iran bị chiếm, nhân viên bị cầm tù hơn cả năm), Reagan (bán súng cho lực lượng kháng chiến Nicaragua), Clinton (Whitewater, Monica), Bush (9/11).

Chủ Tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm của Hạ Viện điều tra vụ Benghazi hiện nay là dân biểu CH Trey Gowdy tuyên bố đây không phải là chuyện chính trị chính em, hay chuyện phá bà Hillary gì hết, mà chỉ là đi tìm sự thật. Tất nhiên là ông này đã không nói hoàn toàn sự thật. Mục tiêu tiên khởi của tiểu ban điều tra là những câu hỏi lớn nêu trên, nhưng thực tế CH cũng muốn có bằng chứng DC cố tình lừa thiên hạ để bảo vệ TT Obama, bà Hillary có tham gia vào tấn tuồng YouTube, đồng thời cũng đã quá lơ là nguy cơ khủng bố tấn công bất kể việc đại sứ đã nhiều lần yêu cầu tăng cường an ninh trong một xứ đã trở thành đại loạn sau khi TT Obama và ngoại trưởng Hillary can thiệp, giết Khaddafi. Gây khó khăn cho cuộc tranh cử của bà Hillary dĩ nhiên nằm trong kế hoạch “không thể nói ra được” của CH. Ông dân biểu cà dựt McCarthy lỡ miệng” nói ra sự thật bị mất cơ hội được bầu làm Chủ Tịch Hạ Viện ngay.

Nhưng rồi đảng CH cũng có lý khi khẳng định vẫn chưa có tất cả những câu trả lời, hay những câu trả lời đã có lại thật khó tin.

Trong khi quốc hội đòi đủ loại tài liệu, hồ sơ, nhân chứng, … thì Nhà Nước Obama bất hợp tác, trì hoãn, kiếm cớ thoái thác, từ chối không cung cấp đầy đủ, hay cung cấp nhỏ giọt, nay một vài tài liệu, rồi cả mấy tháng sau, thêm một ít nữa. Hay không cho phép các viên chức ra điều trần, viện cớ “đặc quyền của Hành Pháp”. Trong khi đó thì CH cũng thu thập được những tin tức tréo cẳng ngỗng, trái ngược nhau. Việc nhân vật chính ra điều trần, bà Hillary, là người mà hơn 60% dân Mỹ cho là “thiếu lương thiện nhất trong đám hơn 20 ứng viên tổng thống của cả hai đảng”, cũng không giúp cải thiện tình trạng thiếu tin tưởng từ khối CH. Chưa kể việc vài emails về vụ Benghazi đã được khám phá ra trong kho emails riêng của bà Hillary, mà bà đã xoá một phần. Ai biết được bà có xóa emails về vụ Benghazi hay không?

Một vài chuyện sau này mới lộ ra xác nhận CH không thể tin tưởng hoàn toàn bà Hillary hay TT Obama. Cụ thể nhất, trong suốt mấy tuần sau cuộc tấn công, khi ra trước công chúng, chính quyền Obama, kể cả bà Hillary, và với sự phụ hoạ của truyền thông dòng chính phe ta, luôn luôn khẳng định đây không phải là khủng bố tấn công, mà là biểu tình tự phát của dân Hồi giáo Libya, nổi giận vì khúc phim YouTube xúc phạm Đấng Tiên Tri Mohamed. Bây giờ lòi ra sự thật bà Hillary đã biết rõ ngay từ ngày đầu đó là khủng bố tấn công:

- Ngay sau ngày toà lãnh sự bị tấn công, bà Hillary đã nói chuyện điện thoại với TT Libya và ông này đã thông báo cho bà biết đây là cuộc tấn công quy mô của khủng bố Ansar Al-Sharia, một “con rơi” của Al Qaeda.

- Cũng ngày đó, bà nói chuyện với thủ tướng Ai Cập và chính bà đã cho ông này biết chính quyền Obama biết rõ chuyện tấn công này là do khủng bố, và chẳng liên quan gì đến cuốn phim YouTube hết.

- Hai ngày sau, bà Hillary cũng nhận được email của cựu phụ tá Sidney Blumenthal, đang đi công tác tại Libya, cho biết chi tiết về lực lượng khủng bố tấn công hai cơ sở Mỹ.

- Ngay khi đó, bà Hillary cũng đã có email riêng cho cô con gái Chelsea, trong đó bà nói rõ ràng “Al Qaeda mới tấn công cơ sở của ta và ta có hai người bị thiệt mạng” (thật ra là 4 người chết).

Trong khi đó, bà Hillary và cả chính quyền Obama vẫn quả quyết đây là biểu tình tự phát vì cuốn phim YouTube. Được hỏi về những chuyện này, bà Hillary đã không phủ nhận nhưng đánh trống lãng, trả lời lòng vòng là những chuyện trái ngược đó chỉ xác nhận tình trạng lộn xộn vì thiếu tin tức chính xác thôi. Lời giải thích dĩ nhiên chẳng thuyết phục được ai, ngoại trừ những người ủng hộ bà Hillary vô điều kiện. Nếu lộn xộn thiếu tin tức thì tại sao không nói là chưa có tin tức chính xác, mà lại cứ khăng khăng nói là biểu tình tự phát? Thiếu tin tức chính xác thì sao biết đó là biểu tình tự phát?

Đại khái có thể nói mọi bên đều thắng mà cũng đều thua luôn trong cuộc điều trần.

Những người ủng hộ CH và chống DC sẽ thấy các dân biểu CH thắng vì lại có dịp lôi bà Hillary ra hành, khui ra chuyện email với con gái, điện thoại với các vị lãnh đạo Libya và Ai Cập để chứng minh bà đã lại một lần nữa nói láo. Bà Hillary thua vì không giải tỏa được những nghi ngờ, trái lại, còn bị lộ rỏ là đã không nói hết sự thật, là người thiếu lương thiện, không đáng tin. Các dân biểu DC cũng thua vì lộ rõ thái độ phe đảng chẳng hỏi bà Hillary chuyện gì nghiêm chỉnh, mà trái lại, chỉ lo đóng vai luật sư biện hộ cho bà Hillary, tấn công ông Gowdy, khiến bà Hillary có nhiều lúc ngồi rung đùi, tủm tỉm cười ruồi coi mấy vị dân biểu DC gân cổ ra bênh mình, hăng hái nhất là dân biểu Phó Chủ Tịch tiểu ban, ông Elijah Cummings, dân biểu Hồi giáo da đen của tiểu bang Maryland. Khối bảo thủ sẽ vẫn tiếp tục tin là chính quyền Obama đã cố tình bảo vệ cuộc tranh cử của TT Obama bằng cách phịa tin về biểu tình tự phát do cuốn phim YouTube.

Những người ủng hộ DC và bà Hillary, chống CH, sẽ thấy “phe ta” thắng vì vạch rõ ý đồ CH lợi dụng cuộc điều tra để đánh ứng viên tổng thống của DC, và CH chẳng chứng minh bà Hillary có thêm một tội gì mới mẻ cả. Tất cả đều là những dữ kiện cũ, ai cũng biết rồi. Họ cũng tiếp tục tin tưởng chính quyền Obama quả đã thành thật tưởng là biểu tình tự phát thật, bất chấp mọi bằng chứng mà tiểu ban có thể sẽ khui ra trong những ngày tháng tới.

Những người chưa có ý kiến, muốn biết sự thật thì vẫn hoàn toàn mù tịt.

Thật sự, nếu phe CH chỉ muốn chứng minh và nuôi dưỡng cái ý kiến bà Hillary là người ba sạo, lắt léo, không thể tin tưởng được trong vai trò tổng thống, lãnh đạo cả nước, thì quả là họ đã thành công.

Sau cuộc điều trần, truyền thông loan “tin mừng” bà Hillary không bị tội nào mới, ca tụng bà đã chống đỡ mọi tố cáo, mọi câu hỏi một cách hùng hồn và mạnh mẽ. Nhưng vẫn không có báo nào nhận định bà đã giải toả được hết các thắc mắc, nghi ngờ, hay ca tụng bà đã trở thành người đáng tin cậy hơn. Nói trắng ra, truyền thông ca tụng tài hùng biện của bà Hillary, trong khi cả ngàn câu hỏi qua trọng vẫn không có câu trả lời.

Cuộc điều trần không phải là phiên tòa để kết tội bà Hillary, mà chỉ là một cuộc “phỏng vấn”, hỏi và trả lời. Việc bà Hillary trả lời lưu loát không chứng minh bà vô tội, mà chỉ chứng tỏ bà rất dẻo lưỡi. Trả lời giỏi, ăn nói hay, không có nghiã là đã nói sự thật. Ta đừng quên bà Hillary từng là luật sư, nghị sĩ và ngoại trưởng, toàn là các trách nhiệm cần khả năng ăn nói thao thao bất tuyệt, rất giỏi lý luận kiểu chẻ sợi tóc làm tư. Giống như ông chồng “it all depends on what is is”.

Ông Chủ Tịch tiểu ban nói rất rõ: cho dù trải qua gần 9 tiếng đồng hồ hạch hỏi bà Hillary, tiểu ban vẫn không biết gì nhiều hơn, vì bà rất giỏi tránh né trả lời. Tóm lại, bà Hillary sống sót, không bị nhận chìm trong vụ điều trần, nhưng cũng chưa bơi lên bờ được.

Cuộc điều trần coi như “huề vốn”, vẫn chẳng trả lời được câu hỏi quan trọng nào. Chẳng thay đổi quan điểm của ai được, bênh vẫn bênh, chống vẫn chống, mù tịt vẫn mù tịt. (01-11-15)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.