Hôm nay,  

Nhớ Nguyễn Đức Quang

01/04/201100:00:00(Xem: 7757)

Nhớ Nguyễn Đức Quang

Trịnh gia Mỹ
Lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Đức Quang là khoảng đầu tháng mười một năm hai ngàn không trăm mười tại nhà Cao Xuân Huy, vài ngày trước khi Cao Xuân Huy mất. Lúc đó Nguyễn Đức Quang trông rất mạnh khỏe và vui tươi, anh đùa: sao không còn thấy tôi mang computer ở sau lưng" Và vừa cười vừa trách sao tôi không đến với đêm “Thế Giới Du Ca Nguyễn Đức Quang” trong tuần lễ “Âm Thanh của Sắc Mầu” cùng Nguyễn Đồng và Nguyễn thị Hợp tại Người Việt hơn một tuần trước đó. Tôi chống chế: anh còn hát hoài mà, thôi để kỳ sau….
Nhưng tôi chẳng bao giờ còn có kỳ sau để nghe Nguyễn Đức Quang hát những bài hát đã thôi thúc, cũng như đã nuôi dưỡng ý chí một thời tuổi trẻ của chúng tôi; và mãi cho đến ngày nay nữa. Nhớ những bài hát vang vang mỗi lần họp trại: “ …. Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người. Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam. Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian. Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên…”. Lúc đó, thời gian khoảng đầu thập niên bảy mươi, những bài hát của Nguyễn Đức Quang tràn ngập trong những sinh hoạt trẻ. Không một buổi họp trại nào mà không có bài hát của Nguyễn Đức Quang. Anh nuôi lớn niềm tin chúng tôi bằng những câu hát lạc quan: “… Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên đang rực lên trong màn đêm...”. Oai hùng quá, kiên cường quá. Chỉ cần một người nào đó khơi lên một câu hát của Nguyễn Đức Quang, là cả một đoàn người hăng hái hát theo. Hát không biết chán. Hát không biết mệt. Hát bằng cả một bầu nhiệt huyết hăng say.

Còn nhớ căn nhà số 114 ở đường Sương Nguyệt Ánh, con đường nhỏ nhắn yên tịnh có những hàng cổ thụ chạy dài, là nơi bọn học trò chúng tôi đã đến để mua tập nhạc đầu tiên của phong trào du ca Việt Nam, trong đó có Ngô mạnh Thu, Trần đình Quân, Nguyễn Đức Quang, Phạm ngọc Thạch, Hoàng ngọc Tuệ, Vũ Đức Sao Biển… Những dòng nhạc bừng bừng sức sống đã hun đúc tinh thần của những người con Việt. Những dòng nhạc đã hướng chúng tôi đến những lý tưởng sâu sắc hơn là những nỗi buồn vui thường tình.. Có lúc tôi nghĩ, mỗi người khi sinh ra đã có sẵn cho mình một số mệnh, và số mệnh cao cả của Nguyễn Đức Quang đã gắn liền với lịch sử, là nói lên sự can đảm, kiên cường của người dân Việt; đau thương nhưng không mềm yếu, bất khuất nhưng không thù hận, oai hùng nhưng không kiêu căng… Nguyễn Đức Quang đã nói thay tuổi trẻ Việt Nam những lời thương yêu, cương quyết bằng cả trái tim. Anh nhìn những hệ lụy thường ngày trong cuộc sống không bằng cái nhìn bi quan mà luôn hướng về tương lai tươi đẹp “…Trời sáng tươi đã lên rồi, trời sáng luôn trong lòng tôi. Cặp mắt khô sau đêm dài. Tìm quanh đây một ngày vui. Bà lão vun đất bên hè. Từng nhát gieo sao nhọc ghê. Trời nắng run như cây già. Thảnh thơi, ôi chuyện còn xa…” Trái tim Nguyễn Đức Quang bao la quá! Anh đã dâng hiến cho nhân loại nhiều hơn những gì anh đã có, bằng cả tấm lòng, bằng trọn niềm tin, bằng hết cuộc đời…
Nguyễn Đức Quang, mấy hôm nay tôi vẫn tự hỏi anh đi chưa" Hay đã đi rồi" Mà đi đâu mới được chứ" Tôi vẫn đang nghêu ngao những bài nhạc tình của Nguyễn Đức Quang, “…Này người yêu, người yêu anh ơi, bên kia sông là ánh mặt trời. Này người yêu, người yêu anh hỡi, bên kia đồi cỏ hoa đan lối. Bên kia núi, núi cao chập chùng. Bên kia suối, suối réo lạnh lùng. Là bài thơ, toàn chữ hư vô. Này người yêu anh ơi! Cho anh nồng ấm cuộc đời. Hoa thơm có ánh mặt trời . Ôi núi mừng vì mây đến rồi. Này người yêu, người yêu anh hỡi! Yêu nhau mình đưa nhau tới. Bước nhẹ và nói bên môi. Nói cho vừa ... mình anh nghe thôi!...” Tôi vẫn đang hát những bài nhạc thương yêu đầy ắp tình người của Nguyễn Đức Quang : “….cho đồng bào tôi ở khắp bốn phương trời. Hát những lời ca tôi đợi đã mòn hơi. Nghe nhau khóc thầm suốt đêm qua. Nghe bao nhiêu bạn khóc bên kia. Hoang mang cúi đầu chờ mong Thượng Đế…”. Tôi vẫn đang hát những bài nhạc vui của Nguyễn Đức Quang đây mà: “…chỉ tại anh nên hôm qua về trễ. Cứ phim hay, tài tử trứ danh hoài. Anh quảng cáo và tô mầu giỏi thế. Hỏi ai còn nỡ khất hẹn ngày mai "”.
Vậy mà mấy hôm nay gặp ai, họ cũng bảo tôi Nguyễn Đức Quang đi rồi, Nguyễn Đức Quang chết rồi. Không, Nguyễn Đức Quang không đi đâu, anh vẫn ở đây cùng chúng ta. Nguyễn Đức Quang không chết đâu. Anh vẫn đang cùng tôi hát những bài ca tràn đầy sức sống: “…Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang….”
Đúng, Nguyễn Đức Quang chưa bao giờ chết! Không bao giờ chết.
Trịnh gia Mỹ
Ngày 29 tháng 3 năm 2011

Ý kiến bạn đọc
02/04/201120:43:25
Khách
Hay!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.