Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc Bài Thơ “Nguyên Tiêu” Của Hồ Chí Minh

21/02/200800:00:00(Xem: 12034)

Thưa các Bác,

Tình cờ nhà cháu bắt gặp trên mạng một cái tựa đề thật bắt mắt “100 Bài Thơ Hay Nhất Thế Kỷ 20” vừa mới được công bố tại Quốc Tử Giám Hà Nội nhân ngày thơ Việt Nam 2007.

[http://aevn.fr/1oo-Bai-Tho-Hay-Nhat-The-Ky-20-t2049.html]

Nên biết thêm, “Quốc Tử Giám” (còn gọi là Văn Miếu), không những là một di tích lịch sử và văn hoá cổ kính của Việt Nam mà còn là một trường đại học cổ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á, được xây dựng từ năm Canh Tuất 1070 (đời vua Lý Thánh Tông) tại kinh thành Thăng Long.  Ngày nay, chính quyền Hà Nội đã lập tại đây “Trung tâm hoạt động văn hoá - khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám” để ngòai việc phát huy tác dụng của di tích còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học đậm đà bản sắc dân tộc của thủ đô Hà Nội(!)

Cái cơ sở oai nghi như vậy đã đúc kết danh sách 100 bài thơ hay, mà lại hay nhất của thế kỷ 20 mới ly kỳ, tất phải là chuyện đứng đắn.  Thật vẻ vang cho những thi nhân có bài thơ được tuyển chọn vào danh sách “cấp cao” này.  Tuy nhiên, khi nhìn vào danh sách này, bài đứng hạng số 1 (number ONE) là bài “Nguyên Tiêu” (có nghĩa là “Rằm tháng Giêng”) tác gỉa là Hồ Chí Minh (")  Nhà cháu vốn dĩ bị dị ứng với cái tên HCM; và mỗi lần thấy cái tên này ở đâu là nhà cháu chẳng đặng đừng nghĩ ngay đến câu nói bất hủ, chân lý muôn thuở  “…hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm;”   Nhà cháu đã phải dành một chút thì giở để… “nhìn kỹ những gì cộng sản làm.”  Kết quả mà nhà cháu thu lượm được cũng thú vị không kém.  Nhà cháu kính trình sau đây để các bác có máu thơ thẩn trong người thưởng lãm.

Nhân tiện đây, nhà cháu cũng mạn phép nói trước là khi các bác đọc các dòng chữ viết ở phía dưới đây có nhiều Hán(g) tự, thì xin các bác hiểu là trình độ chữ Hán(g) của nhà cháu nếu gọi là “ăn đong” thì cũng còn qúa đáng!  Nó còn tệ hại hơn thế nữa!  Trình độ của nhà cháu chưa qua hết trang đầu của “Tam tự kinh” (“Thiên là trời, Địa là đất, Tồn là  còn…!”)  Mặc dù là nhà cháu đã có cái may mắn được chính phủ VNCH gởi đi tu nghiệp ở Đài Loan (năm 1974).  Nhà cháu đã vội vã học cấp tốc một ít chữ Hán để sinh tồn (“survival Chinese”) trong một thời gian ngắn cấp bách trước khi xuất dương.  Nhưng phải thành thật mà nói, nhà cháu, lúc đó (1974), vẽ (không biết viết!) được khỏang gần 300 mặt chữ Hán và xem như tạm đủ để đi ra chợ tầu (cũng nên biết trong giờ học ở Đài Loan, thầy giáo chỉ dậy bằng Anh ngữ thôi!  No Chino por favor!) mua “bánh tiu,” “dầu cháo quẩy,” “xì dầu,” “hủ tíu...”   Ngòai giờ học, nếu nhà cháu có dạo phố buổi chiều để thăm dân tầu cho biết sự tình; hoặc tham gia vào buổi tối các chương trình trao đổi văn hóa (không phải để trả thù hận gì cả!) dân tộc với các thím xẩm thơ mộng; hoặc thỉnh thỏang đánh cầu lông; hoặc vật tự do với các thím trong các “tea house” (“phònh trà”) thì nhà cháu cũng chỉ dùng “sức lao động” nhiều hơn là “cỏong!”  Nói cách khác là dùng “tay chân đỡ cho mồm miệng!”  Nhìn lại đã 33-34 đã năm trôi qua rồi còn gì!  Ngay đến công phu võ nghệ mà không luyện tập một vài tháng thôi đã mai một rồi, nói chi đến 33-34 năm ròng!  Nhưng cũng còn may là bác Biu Gết (Bill Gates) của đế quôc tư bản làm ra cái “Uynh đô” (Windows) có sẵn “khả năng” “Cắt và Dán” (“Cut and Paste”).  Thế là nhà cháu cứ ngồi gãi… trán, tà tà “cắt và dán” cho thành bài ra này.  Thế mà các bác xem thóang qua cũng khó mà biết là thật hay gỉa; kỳ công hay là “chôm chỉa” đấy nhỉ.

Trước tiên, các bác và cháu hãy cùng nhau đọc bài “Nguyên Tiêu” cái đã:

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

(Hồ Chí Minh – 1948)

Rằm tháng riêng

(Người dịch: Văn nô Xuân Thủy)

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.

Giữa dòng bàn bạc việc quân,

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Bản dịch nôm của Thiềng Đức

Tháng giêng trăng sáng tỏ đêm rằm

Sông nước trời khuya lộng sắc xuân

Trên sóng mờ sương bàn chiến sự

Đêm tàn thuyền ngập trăng trong ngần.

Bản dịch nôm của Hòang Tâm

Trăng sáng vừa tròn rằm tháng giêng,

Trời xuân lồng lộng nước sông in.

Nơi quân bàn bạc dầy sương khói,

Vừa lúc nửa đêm trăng ngợp thuyền.

Nếu chỉ đọc bài thơ “Đường” thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán ở trên thôi, đừng nhìn vào tên tác gỉa (HCM), các bác nhận thấy ngay từ cách dùng chữ cho đến âm hưởng hình như là của một thi sĩ Trung hoa đời “Đường”  như Lý Bạch, Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn… nào đó, thật là tuyệt vời!  Bây giờ thử mở một lô Đường thi ra đọc lại xem sao!  Voilà!  Đường mật đâu chưa thấy, nhà cháu đã khám phá ra một hũ tương… sau khi đã “nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”

À há!  Bác đã “ddỡ nhẹ” ý tất cả 4 câu của 4 thi sĩ khác nhau thành ra bài “number ONE” của Bác!  Nếu Bác chịu khó khiêm nhường một tí (hình như bộ phận “khiêm nhường” trong người Bác đã được gỡ ra lâu lắm rồi thì phải!")  Bác cứ việc thong thả đề vào xuất xứ (hoặc đề là “lấy ý”) của từng câu, thì bài này không có vấn đề; tuy nhiên Bác cứ im lim lỉm – tương tự như các bài khác mà Bác đã từng “chôm” nguyên văn (ví dụ như việc “chôm” một số bài, có người nói là Bác “chôm” nguyên con cả tập – xin đọc thêm các bài sưu khảo của các ông Đặng Tiến và GS Lê Hữu Mục,  trong tập thơ “Nhật ký trong tù” - “Ngục Trung Nhật Ký”- của một người bạn tù khác bị nhốt chung vời Bác ở Quảng tây (") Trung Hoa năm 1942-43 (")) - rồi để tên mình vào tỉnh bơ con sáo sậu!!! 

Quỷnh nhất là các cháu “đỉnh cao trí tuệ” XHCN của Bác đã quá mau mắn nâng bi Bác triệt để trong việc xếp hạng bài thơ “của” Bác đứng đầu (lại number One!) trong danh sách 100 bài thơ “hay nhất” của thế kỷ 20 (")

Xin tất cả các bác “Quốc tử giám” cho nhà cháu nhờ tí!!! 

Xem ra, Bác đã “chôm” ý của từng câu một, lần lượt như sau:

Câu 1: Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên,

(trích từ bài “Ngư ca tử kỳ 5” của Trương Chí Hòa [xem Bài 1 ở dưới])

Câu 2: Nguyê"t quang như thu"y thu"y như thiên

(trích từ bài “Giang lâu thư hoài” của Triệu Hỗ [xem Bài 2 ở dưới])

Câu 3: Yên ba thâm xứ hữu ngư châu

(trích từ bài "Thú nhàn” cu"a Cao Bá Quát [xem Bài 3 ở dưới])

Câu 4: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyê`n

(trích từ bài “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế [xem Bài 4 ở dưới])

Nhà cháu xin chép lại 4 câu bị “chôm” ở trên một lần nữa vào thành một bài (có cái tựa mới toanh mà cháu vừa mới “chôm” lại  của Bác!) để các bác dễ đọc:

Tiêu nguyên

Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên,

Nguyệt quang như thủy thủy như thiên

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Đồng thời xin các bác nhìn lại bài “Nguyên tiêu” của “Người” mà so sánh:

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Tiện đây, nhà cháu xin mời đồng chí “xưng thỉ” văn hay chữ tốt (nếu còn sống; hay hậu duệ của đồng chí cũng đặng!) dịch nôm lại 4 câu bị “chôm” mà nhà cháu vừa mí gom lại ở trên xem nó ra nàm thao!

Sau đây, nhà cháu xin mạn phép “cắt và dán” lại từng bài o-ri-gin (nguyên thủy) một (gồm cả bản chữ Hán và bản dịch nôm) của mỗi tác gỉa để các bác thơ thẩn rộng đường tham luận:

Bài 1 - Ngư ca tử kỳ 5

(của Trương Chí Hoà – Thi sĩ Trung Hoa)

Ngư ca tử kỳ 5

Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên,

Ba Lăng ngư phủ trạo ca liên.

Điếu xa tử,

Quyết đầu thuyền,

Lạc tại phong ba bất dụng tiên.

Ngư ca tử kỳ 5

(Người dịch: Điệp luyến hoa)

Hồ trong cỏ mượt bóng trăng đầy,

Ngư phủ Ba Lăng tiếng hát say.

Thuyền đầu nhọn,

Cần chắc tay.

Chẳng tiên, sóng gió cũng vui vầy.

Bài 2 - Giang lâu thư hoài

(Triệu Hỗ - Thi sĩ Trung Hoa)

Giang lâu thư hoài

Độc thướng giang lâu tứ tiễu nhiên

Nguyệt quang như thủy thủy như thiên

Đồng lai ngoạn nguyệt nhân hà tại

Phong cảnh y hi tự khứ niên

Viết lại cảm nghĩ ở lầu bên sông

(Người dịch: Lý Tứ)

Hoài cảm lên lầu đứng lẻ loi

Sông lồng trăng sáng nước như trời

Người cùng thưởng nguyệt nay đâu nhỉ

Cảnh cũ năm xưa chẳng đổi dời.

Bản dịch nôm của tản Đà

Lên gác bên sông một ngậm ngùi,

Sáng trăng như nước, nước như trời.

Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá"

Trăng nước như xưa chín với mười.

Bài 3- Phong Kiều dạ bạc

(của Trương Kế - Thi sĩ Trung Hoa)

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,

Giang phong ngư hoả đối sầu miên.

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Nửa đêm đậu bến Phong Kiều

(Người dịch: Hạt Cát)

Quạ kêu sương lạnh trăng tà.

Đèn chài giấc muộn la đà bến sông.

Chùa Hàn trầm bổng hồi chuông.

Nửa đêm gọi khách bềnh bồng Cô Tô.

Bài 4 – Thú nhàn

(của thi Sĩ Cao Bá Quát)

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu

Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu

Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt

Duy giang thượng chi thanh phong,

dữ sơn gian chi minh nguyệt

Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng

Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng

Kẻ thành thị kẻ vui miền lâm tẩu

Gõ nhịp lấy, đọc câu ''Tương Tiến Tửu"

"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy

thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi"

Làm chi cho mệt một đời.

Lời kết

Thiệt hết ý kiến!  Ban tuyển lựa của “Quốc tử giám” chắc chắn phải gồm những cây cổ thụ của nền thi văn Hà thành làm sao có thể họ lại không nhìn thấy những sự “chôm chỉa” giữa ban ngày ban mặt này!  Lại đem bài này ra ánh sáng để thi nhân bêu riếu Bác!  Hay là các bác này vì mải “liên hoan” qúa chừng độ, ăn nhằm phải một mẻ “lông lợn rừng” thành ra bị lẫn cả lũ rồi"  Chỉ có giời mới biết!

Nhưmg phải công nhận một điều là Bác HCM “vô vàn kính yêu” thật “kiệt suất” tài tình đã phát minh ra  cái thuật “Cắt và Dán” tạm gọi là “Uynh đô 48” (1948).  Cho mãi đến khỏang gần 40 năm sau, vào đầu thập niên ‘90 bác Biu Gết mới làm ra “Uyng đô 95” (1995) với cùng kỹ thuật “Cắt và Dán.”  Bác Biu Gết đã hốt bạc (tỷ) nhờ cái “Uynh đô” này.  Bác Biu Gết nay đã là người giầu nhất thế giới rồi.  Nếu biết điều một tí thì bác Biu nên trả lệ phí (“royalty”) cho hâu duệ của Bác HCM (đảng CSVN); tượng trưng vài tỷ đô la cũng được rồi!  Ít hay nhiều thì cũng đỡ khổ cho dân tộc Việt Nam; có nó ($$$), các bác lãnh đạo nhà nước anh hùng đỡ phải xếp hàng sang “rước Mĩ kíu nước!” cho tóat mồ hôi trán.

Trần Văn Giang

02/20/2008

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.