Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Ngày Mưa Pháp

20/03/200800:00:00(Xem: 5174)

Thứ bẩy vừa qua, 15 tháng ba năm 2008, Chư Tăng Ni và Phật tử chùa Phật Tổ, tỉnh Long Beach miền Nam California đã được hưởng một ngày mưa pháp. Đó là chặng dừng chân trong lịch trình hoằng hóa năm 2008 tại Canada và Hoa Kỳ của TT Phương trượng chùa Viên Giác Đức quốc và phái đoàn từ Âu châu, Úc châu và Mỹ châu. Năm nay, phái đoàn có sự tham gia của: TT Thích Như Điển, HT Thích Kiến Tánh, TT Thích Đổng Văn, ĐĐ Thích Giác Trí, Sư chú Hạnh Bổn (Đức quốc); TT Thích Thái Siêu, TT Thích Minh Dung, TT Thích Hạnh Tuấn, ĐĐ Thích Hạnh Đức, ĐĐ Thích Thánh Trí (USA); ĐĐ Thích Nguyên Tạng (Úc châu) và ĐĐ Thích Viên Giác (Na Uy).

Hình ảnh đẹp đẽ của Chư Tăng khắp các châu, hội tụ để cùng cất bước đi chung một đường với mục đích rao giảng và chỉ dạy con đường giác ngộ, giải thoát, chính là tinh thần  “tha phương du hóa” của Đức Thế Tôn khi xưa. Qua rừng kinh điển và sách vở lưu truyền lại, hàng Phật tử quá quen thuộc với lời tôn giả Anan mở đầu mỗi bản kinh: “ Như thị ngã văn, nhất thời tại ….” “Tôi nghe như vầy, một thuở nọ tại …” và sau đó là lời thuyết giảng của Đức Thế Tôn, ở nơi Ngài dừng chân. Nên, những Trưởng tử Như Lai, từng được nuôi dưỡng bằng mưa pháp, tất không thể không đặt hạnh nguyện này lên hàng đầu khi đã “Hủy hình thủ khí tiết. Cắt ái từ sở thân” thì con đường trước mặt là “ Xuất gia hoằng Phật Đạo. Thệ độ nhất thiết nhân”.

Khi xe phái đoàn rẽ vào sân chùa Phật Tổ là lúc Phật tử đang kinh hành niệm Phật. Đại Đức Thích Thường Tín đã uyển chuyển hướng dẫn đoàn kinh hành kết thúc trong thứ tự nhịp nhàng để buổi thuyết pháp được bắt đầu đúng chương trình là từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối.

Phật tử chùa Phật Tổ ngồi đầy kín Chánh điện khi Thượng Tọa viện chủ giới thiệu Chư Tôn Đức hiện diện. Trưởng phái đoàn, TT Thích Như Điển, phương trượng chùa Viên Giác, Đức quốc đã thông báo ngắn gọn về tiết mục thuyết giảng hôm nay. Ngoài hai bài pháp sáng và chiều, Chư Tôn Đức hiện diện sẽ mỗi người chia xẻ khoảng hai mươi phút về những đề tài thiết thực lợi ích cho việc tu học.

HT Kiến Tánh nói về sự vi diệu của dòng chảy tâm thức khi giữ tâm chánh niệm, quán chiếu những lời dạy từ kim khẩu Đức Thế Tôn. Nhìn Hòa Thượng giang rộng hai tay, cười to thoải mái xen kẽ những lời giảng nghiêm túc, Phật tử hiện diện thấy được phong thái của bậc thiền sư “thõng tay vào chợ”.

ĐĐ Thích Giác Trí trong phái đoàn Đức Quốc thì tổng quát những nét đẹp và sự mầu nhiệm trong kinh Pháp Hoa qua tinh thần Khai Tam Hiển Nhất, nghĩa là, vì căn cơ chúng sanh không đều, Đức Thế Tôn phải đặt ra Ba Thừa để chỉ dạy, nhưng rốt ráo, con đường giải thoát giác ngộ chỉ là Nhất Thừa mà thôi.

Trước khi microphone được chuyển tới ĐĐ Thích Nguyên Tạng, phái đoàn Úc Châu, thì chúng tôi được TT Thích Như Điển ân cần giới thiệu thêm, rằng ĐĐ Thích Nguyên Tạng là linh hồn của Website Quảng Đức (www.quangduc.com), một Website Phật Giáo đồ sộ với hơn 60 tiết mục gồm đủ mọi chuyên đề, từ Kinh, Luật, Luận tới nghệ thuật, thơ văn …v…v… với sự đóng góp của Chư Tôn Đức và cư sỹ, Phật tử khắp nơi trên thế giới. Website này đã hơn một triệu người vào thăm. Hôm nay, với hai mươi phút ngắn ngủi nhưng thầy Nguyên Tạng đã để lại cho chúng tôi món quà rất thiết thực là hai bài kệ, chủ đề Chết và Tái sinh. Bài thứ nhất để nhắc nhở lẽ vô thường khi mang tấm thân tứ đại này, chúng ta phải tu, phải tỉnh thức vì khi ra đi chỉ có Nghiệp là cái duy nhất theo mình mà thôi. Bài kệ thứ nhất như sau:

“Nhất đán vô thường đáo

Tương tri huyễn mộng than

Vạn bang tương bất khứ

Duy hữu nghiệp từ thân”  

 Có nghĩa là:

“Một sáng vô thường đến

Mới hay thân huyễn mộng

Mọi thứ bỏ lại hết

Chỉ có nghiệp theo mình.”

Bài kệ thứ hai mà tôi nhìn quanh, thấy đa số Phật tử, ai cũng cố ghi chép vì đây là bài kệ ngắn mà chỉ dẫn đầy đủ về thân-trung-ấm, những dấu hiệu có thể nhận biết ta sẽ về đâu khi vừa rời cõi ta-bà này. Thầy đã đọc rất chậm bài kệ thứ hai để Phật tử kịp ghi chép:

“Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên

Nhân tâm, Ngạ Quỷ phúc

Bàng sanh, tất cái ly

Địa ngục, cước tâm xuất.”

Thầy giảng rõ ràng rằng, khi một người vừa chết, nếu hơi ấm tụ ở đỉnh đầu thì sẽ là bậc Thánh (Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác); hơi ấm tụ ở mắt thì sanh lên cảnh giới Chư Thiên; hơi ấm tụ ở tim, sẽ trở lại làm người; hơi ấm tụ ở bụng sẽ thác sanh vào cõi Ngạ Quỷ và A Tu La; hơi ấm tụ ở đầu gối sẽ đọa vào hạng súc sanh; hơi ấm tụ ở lòng bàn chân sẽ đọa xuống Địa ngục.

Với thời gian rất giới hạn mà Thầy Nguyên Tạng còn tặng thêm chúng tôi đóa hoa Bi Trí Dũng tuyệt đẹp khi nói về cuộc đào thoát của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vốn là một bằng chứng sống về thuyết tái sinh. Ngài đã phải lìa xa quê hương để bảo tồn chánh pháp. Ngài đến tỵ nạn tại Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, vùng núi non hiểm trở thuộc dãy Hy Mã Lạp Sơn là nơi địa thế cũng như khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Vậy mà, khi bước chân của một vị Phật tái sinh đặt tới, lập tức, nơi đó trở thành linh địa cho Phật giáo thế giới ngày nay.

Khi TT Thích Đổng Văn cầm microphone thì tôi nghe một Phật tử ngồi kề bên thì thầm “Thầy thuộc lòng Kinh Kim Cang đó”. Quả thật, đề tài thầy giảng là Kinh Kim Cang nhưng với thời giờ ít ỏi, thầy đã gạn lọc những tinh túy của tôn kinh rồi đưa ra những kinh nghiệm có thể thực hành lời kinh dạy  qua đời sống hàng ngày. Tu rồi Hành thì đời tu mới có ý nghĩa chứ Tu mà chỉ Rị (giữ lại trong kho) thì chẳng giúp gì cho người, cho ta. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát mà chúng ta thường cầu xin cứu giúp những khi gặp hoạn nạn chính là Phật Chánh Pháp Minh Vương Như Lai. Ngài đã thành Phật, nhưng vẫn phát đại nguyện trở lại với chúng sanh, làm Bồ Tát để độ chúng sanh.

ĐĐ Hạnh Đức còn rất trẻ mà đề tài chia xẻ lại rất thâm sâu, là làm sao chuyển hóa nghiệp lực thành đạo lực" Nghiệp luôn song hành với ta, vậy nghiệp từ đâu tới" Do chính tâm ta tạo đấy. Tâm đã tạo được thì tâm cũng chuyển được. Tạo, dễ hơn chuyển vì tạo do tâm buông lung, dễ dãi, huân tập lâu đời lâu kiếp nên khi muốn chuyển, khác chi thuyền chèo ngược sóng phải quyết tâm, kiên trì, thực hành từ những điều thiện rất nhỏ làm nền móng xây dần con đường tìm về ngôi nhà Phật của chính mình. ĐĐ đã nhắc lại một lời đơn giản nhưng là sự thật muôn đời mà Đức Thế Tôn từng nói: “Ta là chủ nhân ông và cũng là kẻ thừa tự của bao nghiệp lành, nghiệp dữ hằng cùng đi với ta.”

Xen giữa những bài thuyết pháp, chúng tôi còn được nghe những bản nhạc đầy đạo vị mà điều ngạc nhiên là do ĐĐ Viên Giác Phi Long sáng tác và chính tác giả vừa đệm tây ban cầm, vừa diễn tả lời nhạc. Đạo hữu Thiện Thành của chùa Phật Tổ ngồi gần đó đã nhanh nhẹn cầm microphone gần sát ĐĐ để tiếng đàn, lời hát vang khắp chánh điện, thấm vào từng tấm lòng đang lắng nghe.

Trong suốt ngày thứ bẩy 15 tháng ba năm 2008 vừa qua, mỗi thời pháp chỉ cách nhau 15 phút, ngoại trừ giờ thọ trai là 2 tiếng để Chư Tôn Đức thong thả dùng bữa và nghỉ ngơi chút đỉnh.

Chúng tôi cũng thường nghe nói câu : “Mưa pháp”. Nhưng mưa pháp là thế nào" Trong ngày này, chúng tôi đã thực sự chứng nghiệm. 

Quả thật, chúng tôi đã được hưởng một ngày mưa pháp vì pháp-thí đã liên tiếp tuôn chảy từ sáng đến tối. Riêng tôi, may mắn từng được nghe một vị thầy dạy rằng: “Nghe pháp thoại phải như đón cơn mưa và phải biết dùng nước mưa này tưới đẫm Đất-Tâm, chứ nghe pháp như lấy chậu hứng để dành mà không biết để dành làm gì thì uổng phí lắm đó!”

Chúng con xin thành kính tri ân Chư Tôn Đức đã quang lâm chùa Phật Tổ và ban mưa pháp.

Kính chúc Chư Tôn Đức vạn sự cát tường, tùy sở trú xứ thường an lạc.

NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT MA HA TÁT

Huệ Trân

(Cốc Thảnh Thơi- Tháng Ba 2008)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.