Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Ngày Mưa Pháp

20/03/200800:00:00(Xem: 5226)

Thứ bẩy vừa qua, 15 tháng ba năm 2008, Chư Tăng Ni và Phật tử chùa Phật Tổ, tỉnh Long Beach miền Nam California đã được hưởng một ngày mưa pháp. Đó là chặng dừng chân trong lịch trình hoằng hóa năm 2008 tại Canada và Hoa Kỳ của TT Phương trượng chùa Viên Giác Đức quốc và phái đoàn từ Âu châu, Úc châu và Mỹ châu. Năm nay, phái đoàn có sự tham gia của: TT Thích Như Điển, HT Thích Kiến Tánh, TT Thích Đổng Văn, ĐĐ Thích Giác Trí, Sư chú Hạnh Bổn (Đức quốc); TT Thích Thái Siêu, TT Thích Minh Dung, TT Thích Hạnh Tuấn, ĐĐ Thích Hạnh Đức, ĐĐ Thích Thánh Trí (USA); ĐĐ Thích Nguyên Tạng (Úc châu) và ĐĐ Thích Viên Giác (Na Uy).

Hình ảnh đẹp đẽ của Chư Tăng khắp các châu, hội tụ để cùng cất bước đi chung một đường với mục đích rao giảng và chỉ dạy con đường giác ngộ, giải thoát, chính là tinh thần  “tha phương du hóa” của Đức Thế Tôn khi xưa. Qua rừng kinh điển và sách vở lưu truyền lại, hàng Phật tử quá quen thuộc với lời tôn giả Anan mở đầu mỗi bản kinh: “ Như thị ngã văn, nhất thời tại ….” “Tôi nghe như vầy, một thuở nọ tại …” và sau đó là lời thuyết giảng của Đức Thế Tôn, ở nơi Ngài dừng chân. Nên, những Trưởng tử Như Lai, từng được nuôi dưỡng bằng mưa pháp, tất không thể không đặt hạnh nguyện này lên hàng đầu khi đã “Hủy hình thủ khí tiết. Cắt ái từ sở thân” thì con đường trước mặt là “ Xuất gia hoằng Phật Đạo. Thệ độ nhất thiết nhân”.

Khi xe phái đoàn rẽ vào sân chùa Phật Tổ là lúc Phật tử đang kinh hành niệm Phật. Đại Đức Thích Thường Tín đã uyển chuyển hướng dẫn đoàn kinh hành kết thúc trong thứ tự nhịp nhàng để buổi thuyết pháp được bắt đầu đúng chương trình là từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối.

Phật tử chùa Phật Tổ ngồi đầy kín Chánh điện khi Thượng Tọa viện chủ giới thiệu Chư Tôn Đức hiện diện. Trưởng phái đoàn, TT Thích Như Điển, phương trượng chùa Viên Giác, Đức quốc đã thông báo ngắn gọn về tiết mục thuyết giảng hôm nay. Ngoài hai bài pháp sáng và chiều, Chư Tôn Đức hiện diện sẽ mỗi người chia xẻ khoảng hai mươi phút về những đề tài thiết thực lợi ích cho việc tu học.

HT Kiến Tánh nói về sự vi diệu của dòng chảy tâm thức khi giữ tâm chánh niệm, quán chiếu những lời dạy từ kim khẩu Đức Thế Tôn. Nhìn Hòa Thượng giang rộng hai tay, cười to thoải mái xen kẽ những lời giảng nghiêm túc, Phật tử hiện diện thấy được phong thái của bậc thiền sư “thõng tay vào chợ”.

ĐĐ Thích Giác Trí trong phái đoàn Đức Quốc thì tổng quát những nét đẹp và sự mầu nhiệm trong kinh Pháp Hoa qua tinh thần Khai Tam Hiển Nhất, nghĩa là, vì căn cơ chúng sanh không đều, Đức Thế Tôn phải đặt ra Ba Thừa để chỉ dạy, nhưng rốt ráo, con đường giải thoát giác ngộ chỉ là Nhất Thừa mà thôi.

Trước khi microphone được chuyển tới ĐĐ Thích Nguyên Tạng, phái đoàn Úc Châu, thì chúng tôi được TT Thích Như Điển ân cần giới thiệu thêm, rằng ĐĐ Thích Nguyên Tạng là linh hồn của Website Quảng Đức (www.quangduc.com), một Website Phật Giáo đồ sộ với hơn 60 tiết mục gồm đủ mọi chuyên đề, từ Kinh, Luật, Luận tới nghệ thuật, thơ văn …v…v… với sự đóng góp của Chư Tôn Đức và cư sỹ, Phật tử khắp nơi trên thế giới. Website này đã hơn một triệu người vào thăm. Hôm nay, với hai mươi phút ngắn ngủi nhưng thầy Nguyên Tạng đã để lại cho chúng tôi món quà rất thiết thực là hai bài kệ, chủ đề Chết và Tái sinh. Bài thứ nhất để nhắc nhở lẽ vô thường khi mang tấm thân tứ đại này, chúng ta phải tu, phải tỉnh thức vì khi ra đi chỉ có Nghiệp là cái duy nhất theo mình mà thôi. Bài kệ thứ nhất như sau:

“Nhất đán vô thường đáo

Tương tri huyễn mộng than

Vạn bang tương bất khứ

Duy hữu nghiệp từ thân”  

 Có nghĩa là:

“Một sáng vô thường đến

Mới hay thân huyễn mộng

Mọi thứ bỏ lại hết

Chỉ có nghiệp theo mình.”

Bài kệ thứ hai mà tôi nhìn quanh, thấy đa số Phật tử, ai cũng cố ghi chép vì đây là bài kệ ngắn mà chỉ dẫn đầy đủ về thân-trung-ấm, những dấu hiệu có thể nhận biết ta sẽ về đâu khi vừa rời cõi ta-bà này. Thầy đã đọc rất chậm bài kệ thứ hai để Phật tử kịp ghi chép:

“Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên

Nhân tâm, Ngạ Quỷ phúc

Bàng sanh, tất cái ly

Địa ngục, cước tâm xuất.”

Thầy giảng rõ ràng rằng, khi một người vừa chết, nếu hơi ấm tụ ở đỉnh đầu thì sẽ là bậc Thánh (Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác); hơi ấm tụ ở mắt thì sanh lên cảnh giới Chư Thiên; hơi ấm tụ ở tim, sẽ trở lại làm người; hơi ấm tụ ở bụng sẽ thác sanh vào cõi Ngạ Quỷ và A Tu La; hơi ấm tụ ở đầu gối sẽ đọa vào hạng súc sanh; hơi ấm tụ ở lòng bàn chân sẽ đọa xuống Địa ngục.

Với thời gian rất giới hạn mà Thầy Nguyên Tạng còn tặng thêm chúng tôi đóa hoa Bi Trí Dũng tuyệt đẹp khi nói về cuộc đào thoát của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vốn là một bằng chứng sống về thuyết tái sinh. Ngài đã phải lìa xa quê hương để bảo tồn chánh pháp. Ngài đến tỵ nạn tại Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, vùng núi non hiểm trở thuộc dãy Hy Mã Lạp Sơn là nơi địa thế cũng như khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Vậy mà, khi bước chân của một vị Phật tái sinh đặt tới, lập tức, nơi đó trở thành linh địa cho Phật giáo thế giới ngày nay.

Khi TT Thích Đổng Văn cầm microphone thì tôi nghe một Phật tử ngồi kề bên thì thầm “Thầy thuộc lòng Kinh Kim Cang đó”. Quả thật, đề tài thầy giảng là Kinh Kim Cang nhưng với thời giờ ít ỏi, thầy đã gạn lọc những tinh túy của tôn kinh rồi đưa ra những kinh nghiệm có thể thực hành lời kinh dạy  qua đời sống hàng ngày. Tu rồi Hành thì đời tu mới có ý nghĩa chứ Tu mà chỉ Rị (giữ lại trong kho) thì chẳng giúp gì cho người, cho ta. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát mà chúng ta thường cầu xin cứu giúp những khi gặp hoạn nạn chính là Phật Chánh Pháp Minh Vương Như Lai. Ngài đã thành Phật, nhưng vẫn phát đại nguyện trở lại với chúng sanh, làm Bồ Tát để độ chúng sanh.

ĐĐ Hạnh Đức còn rất trẻ mà đề tài chia xẻ lại rất thâm sâu, là làm sao chuyển hóa nghiệp lực thành đạo lực" Nghiệp luôn song hành với ta, vậy nghiệp từ đâu tới" Do chính tâm ta tạo đấy. Tâm đã tạo được thì tâm cũng chuyển được. Tạo, dễ hơn chuyển vì tạo do tâm buông lung, dễ dãi, huân tập lâu đời lâu kiếp nên khi muốn chuyển, khác chi thuyền chèo ngược sóng phải quyết tâm, kiên trì, thực hành từ những điều thiện rất nhỏ làm nền móng xây dần con đường tìm về ngôi nhà Phật của chính mình. ĐĐ đã nhắc lại một lời đơn giản nhưng là sự thật muôn đời mà Đức Thế Tôn từng nói: “Ta là chủ nhân ông và cũng là kẻ thừa tự của bao nghiệp lành, nghiệp dữ hằng cùng đi với ta.”

Xen giữa những bài thuyết pháp, chúng tôi còn được nghe những bản nhạc đầy đạo vị mà điều ngạc nhiên là do ĐĐ Viên Giác Phi Long sáng tác và chính tác giả vừa đệm tây ban cầm, vừa diễn tả lời nhạc. Đạo hữu Thiện Thành của chùa Phật Tổ ngồi gần đó đã nhanh nhẹn cầm microphone gần sát ĐĐ để tiếng đàn, lời hát vang khắp chánh điện, thấm vào từng tấm lòng đang lắng nghe.

Trong suốt ngày thứ bẩy 15 tháng ba năm 2008 vừa qua, mỗi thời pháp chỉ cách nhau 15 phút, ngoại trừ giờ thọ trai là 2 tiếng để Chư Tôn Đức thong thả dùng bữa và nghỉ ngơi chút đỉnh.

Chúng tôi cũng thường nghe nói câu : “Mưa pháp”. Nhưng mưa pháp là thế nào" Trong ngày này, chúng tôi đã thực sự chứng nghiệm. 

Quả thật, chúng tôi đã được hưởng một ngày mưa pháp vì pháp-thí đã liên tiếp tuôn chảy từ sáng đến tối. Riêng tôi, may mắn từng được nghe một vị thầy dạy rằng: “Nghe pháp thoại phải như đón cơn mưa và phải biết dùng nước mưa này tưới đẫm Đất-Tâm, chứ nghe pháp như lấy chậu hứng để dành mà không biết để dành làm gì thì uổng phí lắm đó!”

Chúng con xin thành kính tri ân Chư Tôn Đức đã quang lâm chùa Phật Tổ và ban mưa pháp.

Kính chúc Chư Tôn Đức vạn sự cát tường, tùy sở trú xứ thường an lạc.

NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT MA HA TÁT

Huệ Trân

(Cốc Thảnh Thơi- Tháng Ba 2008)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.