Hôm nay,  

Thuyền Nhân Và Bão Lụt

9/14/200500:00:00(View: 12742)
Một khía cạnh đáng chú ý trong trận bão Katrina là cách ứng xử của người Việt, đa số là thuyền nhân vào Mỹ sau khi trắng tay. Lần này, đa số lại trắng tay, nhưng có một cộng đồng người Việt rất đông đảo ở chung quanh…
Diễn đàn Kinh tế RFA xin đặc biệt tìm hiểu về khía cạnh này qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Nguyễn An thực hiện sau đây…
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, không riêng gì nước Mỹ mà hầu như cả thế giới đã bị chấn động vì những tai họa do trận bão Katrina gây ra tại Hoa Kỳ. Điều đáng chú ý cho nhiều người Việt ở trong và ngoài nước là ba tiểu bang bị nạn lại có một cộng đồng người Việt khá đông đảo. Chúng tôi xin đề nghị kỳ này ta sẽ đề cập đến cộng đồng ấy. Trước hết, xin ông cho thính giả biết về khung cảnh sinh hoạt chung của cộng đồng người Việt tại đây.
-- Rõ ràng là chúng ta cần tìm hiểu về cách ứng xử của cộng đồng người Việt tại Mỹ khi xã hội đã mở vòng tay đón nhận mình lại lãnh một tai họa ghê gớm như vậy. Chúng ta có thấy sự xúc động và nhiệt tình cứu trợ của cộng đồng tỵ nạn này khi Hoa Kỳ bị vụ khủng bố 9-11, xảy ra đúng bốn năm trước. Lần ấy, người Việt khắp nơi đã tự động tổ chức quyên góp để cứu trợ nạn nhân khủng bố, với kết quả khiến dư luận Mỹ ngạc nhiên và khâm phục. Lần này, tai họa lại ập xuống một khu vực có nhiều người Việt cư ngụ nên càng đáng cho cộng đồng quan tâm.
Hỏi: Riêng về người Việt sinh sống trong vùng bị bão lụt lần này, họ có những đặc điểm gì"
-- Theo cuộc khảo sát dân số cuối cùng, vào năm 2000, thì có khoảng 24.000 người Việt cư ngụ tại Louisiana, năm ngàn tại Mississippi và năm ngàn tại Alabama, tổng cộng là 34.000. Ngày nay có thể đông hơn, những ước đoán vừa qua nêu ra con số 55.000. Trong số này có khoảng 1.500 gia đình là ngư dân tại vịnh Mexico. Nhiều người thành công sau mấy chục năm chật vật đánh cá nuôi tôm nên thế hệ thứ hai đã xong đại học, đổi nghề hoặc trở thành doanh gia.
Nói chung, sau những thách đố ghê gớm của hiểm nguy và biển cả trên đường vượt biển, người Việt tại đây rất sùng đạo. Cộng đồng Công giáo có tổ chức rất quy củ trong khoảng 12 giáo xứ khác nhau trên toàn khu vực. Cũng xin nói là Đức cha Mai Thanh Lương đang phụ trách Giáo phận Orange County tại miền Nam California đã phục vụ 27 năm tại New Orleans trước khi qua California.
Cộng đồng Việt Nam ở đây có tinh thần hợp quần và liên đới cao sau khi tranh đấu gay go để vượt trở ngại ban đầu - kể cả sự kỳ thị và cạnh tranh nghề nghiệp chừng hai chục năm trước. Các gia đình sống về ngư nghiệp thường tập trung tại New Orleans của Louisiana hay các thị trấn Biloxi và Gulf Port của Mississippi và Mobile cùng Bayou La Batre của Alabama…
Hỏi: Và những vùng này lại là nơi bị trận bão Katrina tàn phá nặng nhất phải không"
-- Thưa vâng, nhưng trước đấy, cộng đồng ngư dân Việt Nam đã chịu chung nỗi khó khăn về ngư nghiệp của cả khu vực vì hai yếu tố.
Thứ nhất là giá xăng dầu, kể cả dầu cặn diesel, tăng quá cao nên nâng phí tổn rất mạnh; thứ hai là sức cạnh tranh nhờ giá quá rẻ của thủy sản nhập vào từ châu Á, trong đó có tôm cá Việt Nam, khiến giá bán lại sụt. Thí dụ như giá tôm từ năm đồng một "pound" là 450 gram, nay chỉ còn hơn ba đồng, khiến kỹ nghệ nuôi tôm tại đây sụt mất nửa trong năm năm qua, từ một tỷ nay chỉ còn 500 triệu Mỹ kim một năm. Vì hoàn cảnh ấy, nhiều người Việt trong vùng đã nghĩ đến chuyện bỏ nghề thủy sản, mà chưa biết đi đâu.
Hỏi: Và trong khi họ chưa biết đi đâu, hoặc làm gì để sống, thì thiên tai lại giáng xuống đầu…
-- Thưa vâng, bây giờ, trận bão Katrina đã dập nát tài sản của họ, từ thuyền bè ra khơi đến các cơ sở khai thác hay nhà cửa trên bờ.
Nhìn trên toàn cảnh thì vùng Vịnh cung cấp chừng 30% thủy sản cho thị trường Hoa Kỳ, bây giờ các phương tiện sản xuất như tàu bè hay thiết bị, hầm đông lạnh, đã tan tành, môi trường đánh bắt bị ô nhiễm vì nước tràn vào New Orleans được bơm ra ngoài cùng mọi phế vật kỹ nghệ, hóa chất, thậm chí vi trùng. Vì vậy mà người ta dự đoán là ngư nghiệp tại vùng Vịnh Mexico có thể bị tê liệt cả năm, có khi đến 18 tháng.
Hỏi: Nhân đây, xin hỏi ông là ba tiểu bang bị nạn cũng là nơi có tranh chấp về chuyện cá ba sa nhập khẩu từ Việt Nam. Thái độ của ngư dân Việt Nam tại đây thế nào trong vụ này"
-- Tôi xin được nói ngay là vụ tranh chấp không có ý đồ chính trị xuất phát từ ác ý của chính quyền Hoa Kỳ như Việt Nam ưa giải thích cho ngư dân ở nhà, trong khi lại không hướng dẫn họ về các tiêu chuẩn vệ sinh và khoa học cần thiết. Vấn đề chính là quy định tinh tế và chi ly của các cơ quan hữu trách Mỹ ở từng địa phương.
Thứ nữa, nhiều ngư dân Việt tại vùng bị nạn cũng đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và nhập khẩu tôm cá từ Việt Nam rồi bị họa lây khi bốn trăm tấn cá basa, cua và tôm đang nằm trong chế độ kiểm dịch vì sản phẩm của Việt Nam có lượng kháng sinh quá lớn. Tức là trong vụ Katrina này, con cá basa của Việt Nam cũng bị chết chìm….
Bây giờ, khi ngư nghiệp Mỹ bị nạn và thị trường Mỹ cần tới nguồn cung cấp thay thế về tôm, cá, cua, hào, thì ngư nghiệp ở Việt Nam có biết kịp thời cạnh tranh với các xứ châu Á khác để khai thác trong thời gian tới hay không, chúng ta chưa biết.
Hỏi: Bây giờ, ta mới trở về trận bão Katrina và cách ứng xử của người Việt tại Mỹ, ông có nhận xét thế nào về những hiện tượng đã theo dõi trong suốt hai tuần qua"
-- Thưa tình hình mỗi nơi mỗi khác và tin tức nhiều khi vẫn chưa được cập nhật, nhưng nói chung, ta có thể thấy ra một vài đặc điểm chung, của người bị nạn và của cộng đồng còn lại.

Dư luận Mỹ có nhìn thấy và tường thuật ngày càng nhiều về sự bình tĩnh của người Việt trong thảm kịch đang làm cả nước Mỹ rúng động. Họ kết luận rất hời hợt là vì người Việt đã quen với việc tản cư, chạy loạn. Thực ra, người Việt tại đây đã có một đặc tính mà các nhà xã hội học cần nghiên cứu, là không ỷ lại vào chính quyền, chẳng đổ lỗi cho ai khác mà ưu tiên cứu giúp lẫn nhau khá hữu hiệu. Người ta không quên một hình ảnh rất lạ là một thanh niên Việt tỵ nạn bão lụt đã kịch liệt bênh Tổng thống Bush khi tranh luận với một phụ nữ người Mỹ tỵ nạn khác!
Từ dân thọ nạn tại ba tiểu bang bị thiên tai, người ta có thấy đặc điểm nổi bật là tinh thần tự túc và sức phấn đấu. Thứ nhất, người Việt có tính tự chủ rất cao nên chấp hành mệnh lệnh của nhà chức trách nhưng không ỷ lại vào chính quyền mà sáng tạo tìm lấy giải pháp. Thứ hai, họ có tình lân tuất, đùm bọc, vừa chạy bão vừa cố trợ giúp người khác- bất kể Mỹ-Việt, chứ không có chuyện thừa nước đục thả câu, thổ phỉ hay trục lợi bất chính. Thứ ba, vì là một cộng đồng có tính hợp quần liên đới, cư dân trong vùng bị bão có hệ thống liên lạc và thông báo tin tức cho nhau rất sớm.
Tôi thấy nguy kịch nhất trong vụ Katrina là nạn mất thông tin và liên lạc khiến chính quyền các cấp không nắm vững tình hình và kịp thời phối hợp việc cứu trợ, sau đấy mới là ách tắc về pháp lý liên hệ tới trách nhiệm của từng cấp chính quyền. Trong hoàn cảnh chung đó, người Việt lại có gia đình, nhà thờ, chùa chiền, các họ đạo và hội đoàn để tự phát lập ra mạng lưới thông tin hầu thông báo nhau những tin tức cần thiết, nhất là tin tức về thân nhân là điều ta quan tâm nhất khi xảy ra khủng hoảng. Và sau cùng, họ không tranh cãi nhau về trách nhiệm. Những ưu điểm ấy, tinh thần tự túc, chịu đựng, sáng tạo và liên đới khiến họ phải thành công về kinh tế.
Hỏi: Đó là về phần những người chạy bão, về phần cộng đồng còn lại thì phản ứng ra sao"
-- Trong vụ này, tôi vẫn chú trọng nhiều nhất đến khía cạnh thông tin. Dư luận Mỹ tất nhiên theo dõi tình hình qua truyền thông Mỹ bằng Anh ngữ, trong đó, tin tức về người Mỹ gốc Việt là hạt muối bỏ biển vì ta chỉ có tỷ lệ dân số khoảng 0,5% dân số toàn quốc, lại không có tin gay cấn như nạn thổ phỉ bắn giết trước sự bất lực của nhà chức trách. Vậy mà người Việt ở trong và ngoài bão tố vẫn có hệ thống truyền thông của mình, là báo chí, phát thanh và truyền hình bằng tiếng Việt.
Ngoài ra, đây là lần đầu mà người Việt gặp cảnh hỗn loạn trong thời đại thông tin điện tử, nên qua Internet và rất nhiều trang nhà, ta biết được tin tức và tình hình của nhiều nơi để lo việc liên lạc và điều hợp cứu trợ. Khả năng thông tin và vận động của truyền thông Việt trên đất Mỹ là một điều rất mới, và được thử nghiệm qua trận bão Katrina.
Hỏi: Phải chăng nhờ thế mà cộng đồng khắp nơi mới kịp thời tổ chức việc tiếp đón và cứu trợ"
-- Thưa vâng, và đấy cũng là một đặc tính đáng chú ý. Nổi bật từ đầu là việc các Dì phước Dòng Đa Minh đã tự động lập ra trung tâm cứu trợ mấy trăm người, rồi khi cư dân lánh bão được đưa qua nơi khác thì gần như nơi nào cũng có người Việt ra nhận lãnh và phối hợp tiếp tế. Thí dụ đang làm dư luận chú ý là trong khi đa số cư dân New Orleans được đón tới Houston đã vào tạm trú trong vận động trường Astrodome hay các cao ốc phụ cận thì người Việt lại vào khu thương xá Hong Kong hay các nhà thờ, nhà chùa trong vùng.
Các hàng quán tại đây cũng thông báo là nạn nhân bão lụt Katrina sẽ được ăn miễn phí, dân chúng thì tự động giúp họ phương tiện di chuyển để tìm kiếm thân nhân, tìm nơi tạm trú. Các tôn giáo, hội đoàn, tổ chức thiện nguyện cũng tự động phối hợp cứu trợ trên quy mô toàn quốc, với sự tham gia của nhiều người đến từ các tiểu bang khác. Tinh thần liên đới và đùm bọc của cộng đồng người Việt là điều rất đáng chú ý trong vụ khủng hoảng xuyên bang này.
Hỏi: Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì trong vụ bão lụt vừa qua, người Việt chẳng nhờ cậy gì nhiều vào chính quyền mà chủ yếu nương vào gia đình và cộng đồng nhiều hơn"
-- Thưa đúng như vậy nhưng hiện tượng ấy không phải là không có mặt trái của nó. Tôi không có thống kê chính xác và không muốn mang tiếng kỳ thị, nhưng tin là cộng đồng người Việt tại Mỹ - vốn là một cộng đồng thiểu số - lại không đòi hỏi hay sống nhờ chế độ trợ cấp của nhà nước bằng nhiều cộng đồng thiểu số da màu khác. Có lẽ đây là đặc tính chung của các cộng đồng gốc Á, vốn không ưa, không tin hoặc không trông chờ vào nhà nước.
Tuy nhiên, và đây là mặt trái ta cần nói tới, trước thiệt hại quá lớn và còn di hại rất lâu do trận bão Katrina gây ra, cộng đồng người Việt không thể mãi mãi tự túc đảm đương việc cứu trợ được.
Chính quyền Hoa Kỳ đã bước đầu bỏ ra hơn sáu chục tỷ Mỹ kim và sẽ còn thực hiện nhiều chương trình cứu trợ và tái định cư nạn dân bằng tiền thuế của dân để họ sớm trở lại sinh hoạt bình thường. Người Việt tại Mỹ có quyền thừa hưởng các chương trình ấy để an cư, lạc nghiệp và trước mắt là chu toàn giáo dục cho con em. Muốn vậy thì phải qua một số thủ tục và trước tiên phải có mặt, tức là tiếp xúc với giới chức hữu trách.
Vì vậy, tôi tin là trong những ngày tới, việc cứu sống và cứu đói sẽ dời trọng tâm vào việc hướng dẫn nạn nhân giải quyết các thủ tục cần thiết để hòa vào dòng chính lưu, vào tập thể nạn nhân bão lụt tại Mỹ, hầu sớm có phương tiện lập lại sự nghiệp. Đây cũng có thể là dịp cho nhiều ngư dân đổi nghề, nếu cộng đồng tìm ra cơ hội, giải pháp và vận động chính quyền giúp họ sớm thành công trong giai đoạn chuyển tiếp.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.