Hôm nay,  

Nhìn Lại Khủng Hoảng Đông Á

6/20/200700:00:00(View: 9534)

...Khi đã ra tới bên ngoài mà bị khủng hoảng thì tai họa xã hội và chính trị không phải là nhỏ...

Cách đây đúng 10 năm, hàng loạt các nước Đông Á bị khủng hoảng tài chính rồi kinh tế và qua năm 1998 cuộc khủng hoảng đã lan rộng ra thế giới, kể cả Liên bang Nga, Brazil rồi Hoa Kỳ. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ cùng tìm hiểu về biến cố đó với câu hỏi được nêu trong phần trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa là liệu một vụ khủng hoảng như thế có thể tái diễn tại Đông Á chăng. Chương trình chuyên đề sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, đầu tháng Bảy năm 1997, một vụ khủng hoảng ngoại hối bất ngờ bùng nổ tại Thái Lan rồi lan thành khủng hoảng tài chính tại Nam Hàn, Indonesia, Malaysia và gieo họa kinh tế, xã hội, thậm chí chính trị cho nhiều xứ Đông Á trước khi lây lan ra cả thế giới. Mười năm về trước, tiết mục chuyên đề này của đài Á châu Tự do đã tìm hiểu chi tiết về cuộc khủng hoảng, và có thấy là vào thời ấy, Việt Nam chưa hoàn toàn mở cửa ra ngoài nên chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp và tương đối nhẹ. Ngày nay Việt Nam đã trở thành hội viên của WTO và đang hội nhập với kinh tế toàn cầu. Đề tài tuần này do đó sẽ tìm hiểu xem một vụ khủng hoảng tương tự có thể xảy ra hay không và trong trường hợp đó, Việt Nam nên ứng phó ra sao"

- Mười năm về trước, cả thế giới còn đang ngợi ca "phép lạ kinh tế Đông Á", với những tốc độ tăng trưởng ngoạn mục y như Trung Quốc hay Việt Nam ngày nay. Thế rồi, mùng hai tháng Bảy năm 1997, một vụ khủng hoảng tưởng là cục bộ về hối đoái hay ngoại hối đã bất ngờ xảy ra tại Thái Lan và từ đó lan qua nhiều xứ Đông Á khác trước khi ảnh hưởng tới Brazil, Liên bang Nga và còn làm một Quỹ đầu tư đối xung của Mỹ bị phá sản.

Đó là về bối cảnh chung, và khi đó, kinh tế Việt Nam như mới chỉ ở vào vùng nước lợ chưa ra tới biển lớn và bị ảnh hưởng gián tiếp như ông nói, nên lãnh đạo Việt Nam tự nghĩ là mình khéo. Ngày nay, Việt Nam bắt đầu giong buồm ra biển cho nên nếu chúng ta có nhìn lại biến cố này để dự đoán về tương lai thì cũng không thừa, nhất là khi dư luận trong nước rất lạc quan về chuyến đi sắp tới của ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

- Hỏi: Không riêng dư luận trong nước, thưa ông, ngay cả dư luận tại Hoa Kỳ cũng chú ý và ngợi ca chuyến đi của ông Triết là mở ra nhiều triển vọng hợp tác kinh tế tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ông nghĩ gì về chuyến đi này"

- Sự lạc quan của một số truyền thông hay doanh giới Mỹ không làm chúng ta ngạc nhiên. Họ cũng lạc quan như vậy về Đông Á trước khi bẽ bàng tháo chạy trong vụ khủng hoảng 1997-1998. Về phần tôi, nếu ông Nguyễn Minh Triết là Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng Cộng sản thì có lẽ ta có thể mong đợi kết quả lâu dài của chuyến viếng thăm mà truyền thông Mỹ và Việt Nam ngợi ca là lịch sử vì là lần đầu mà một vị quốc trưởng của Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Tôi xin giải thích:

Ông Nguyễn Minh Triết chỉ đứng hàng thứ tư trong bộ Chính trị của đảng, và theo thứ tự về quyền lực thì còn dưới Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Bộ trưởng Công An là Đại tướng Lê Hồng Anh, và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Điều ấy cho thấy một sự thật mà truyền thông quốc tế hồ hởi nhìn không ra, là đảng quyền vẫn lớn hơn pháp quyền Nhà nước. Cho nên, dù có thành tích cải cách và chống tham nhũng từ khi còn là Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé rồi Bí thư Thành ủy Sàigon, ông Triết cũng khó có những cam kết gì đáng kể cho tương lai Việt Nam vì cơ chế chính trị ở nhà. Nói chung, chuyến đi của ông Triết hay của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sắp tới cũng chỉ có nội dung giao tế hơn là chỉ dấu xoay chuyển thực sự tại Việt Nam. Nhưng ta nên trở lại đề mục của kỳ này vì đấy mới là điều mà người Việt Nam cần quan tâm.

- Hỏi: Trở về cuộc khủng hoảng Đông Á, ông có thể nào tóm tắt ngắn gọn về những nguyên nhân hay không"

- Cho đến ngày nay, 10 năm sau vụ khủng hoảng, người ta chưa thống nhất cách gọi tên vì chưa thống nhất về nguyên nhân. Có người gọi là khủng hoảng tài chính Đông Á, có nơi gọi là khủng hoảng ngoại hối Đông Á, nhiều giới hữu trách Á châu lại gọi đó là khủng hoảng của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, với hàm ý quy trách IMF đã gây ra biến động.

Theo thiển ý, nguyên do đầu tiên là một sự hiểu lầm phổ biến về phép lạ kinh tế Đông Á, y như thế giới đang đánh giá quá cao tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và Việt Nam. Vì hiểu lầm nên mới có phản ứng theo bầy là ồ ạt đầu tư vào khu vực này mà càng hồ hởi sảng thì càng hốt hoảng bậy khi thấy có biến. Chuyện ấy sẽ còn có thể tái diễn nay mai.

Lý do thứ hai, tôi nghĩ là nằm trong nhược điểm cốt tủy của chiến lược phát triển Đông Á khi dồn sức vào xuất khẩu và mặc nhiên để cho nền kinh tế bị ảnh hưởng rất nhiều của những biến động trên thị trường quốc tế. Nôm na là vì mua bán với nhau quá nhiều nên xứ này bị chấn động là xứ khác bị hoạ lây. Tình trạng ấy chưa chấm dứt mà vẫn còn.

Lý do thứ ba, chiến lược phát triển ấy lệ thuộc vào vai trò quá lớn của nhà nước, vì chủ động đề ra và nâng đỡ các khu vực ưu tiên phát triển, các dự án ít giá trị kinh doanh mà nhiều rủi ro. Vụ khủng hoảng đã manh nha từ khi tập đoàn thép Hanbo của Nam Hàn bị điêu đứng từ tháng Giêng năm 1997 mà thiên hạ lúc đó chưa thấy. Hiện tượng nhà nước bao che cho doanh nghiệp lỗ lã vì lý do chính sách cho đến khi tuột tay là điều vẫn còn tại Trung Quốc và Việt Nam.

Lý do thứ tư là hiện tượng "ỷ thế làm liều", thuật ngữ kinh tế gọi là "moral hazard", khi các doanh nghiệp, ngân hàng và cả bộ máy công quyền tin rằng nhà nước sẽ giăng lưới đỡ cho các công ty lỗ lã hoạn nạn. Vì tin như vậy, các thành phần này đã lấy quá nhiều rủi ro về tài chính, ngoại hối và tín dụng cho tới khi sụp đổ thì kéo xập luôn các ngân hàng và doanh nghiệp. Do đó, khủng hoảng ngoại hối mới thành tài chính và kinh tế.

Bàng bạc bên dưới ngần ấy vấn đề là nạn tham nhũng, hiện tượng rất phổ biến trong các nước bị nạn, từ trong chính quyền ra ngoài doanh trường, và vẫn còn quá phổ biến tại Trung Quốc và Việt Nam. Đấy là những gì có thể gọi là cái "nhân", nguyên nhân sâu xa...

- Hỏi: Khi ông nói đến cái "nhân" tất cũng nghĩ đến cái "duyên". Biến cố gì đã châm ngòi cho sự sụp đổ dây chuyền ấy"

- Yếu tố chính và mẫu số chung trong khung cảnh đa diện và phức tạp ấy là tâm lý lượng định rủi ro. Khi các nước Đông Á tưởng thật là mình đã tạo ra sự kỳ diệu kinh tế làm cả thế giới khâm phục, họ trở nên lạc quan thái quá. Chính quyền thì duy trì chế độ ngoại hối cố định, cụ thể là giàng giá đồng bạc vào một vài ngoại tệ mạnh và tin rằng sức xuất khẩu của mình lẫn nguồn đầu tư từ nước ngoài sẽ bảo vệ được chế độ hối đoái ấy với một dự trữ ngoại tệ thấp. Dân chúng thì lạc quan vay tiền ở nước ngoài với lãi suất rẻ để đầu tư vào trong với lợi suất cao nhờ chính sách ưu đãi và sự bảo vệ của nhà nước.

Thế rồi số xuất khẩu có sút giảm, một phần vì sự xuất hiện của Trung Quốc, và lãi suất tại Mỹ lại tăng sau khi Hoa Kỳ ra khỏi thời kỳ suy trầm nhẹ vào năm 1991-1992. Vì lãi suất tại Mỹ gia tăng, giới đầu tư quốc tế thấy có mối lợi cao hơn và chuẩn bị rút khỏi Đông Á, cả Đông Bắc lẫn Đông Nam Á. Những doanh gia Đông Á đã vay mượn thả giàn bên ngoài bỗng thấy bị ngộp vì tiền ngoài hết rẻ hơn tiền trong và phải lo rút tiền trả nợ.

Các ngân hàng trung ương, trước tiên là Thái Lan, bị kẹt vì số thu bị giảm mà số chi lại tăng trong khối dự trữ ngoại tệ. Họ không thể duy trì chế độ hối suất cố định nên đành phá giá, thậm chí thả nổi đồng bạc. Và khủng hoảng ngoại hối bùng nổ. Nhưng nó trở thành khủng hoảng tài chính rồi kinh tế và lan rộng từ xứ này qua xứ khác vì những chứng tật nằm trong cốt tủy của hệ thống kinh tế Đông Á mà ta gọi là cái "nhân" ở trên.

Tựu trung, khủng hoảng xảy ra vì rất nhiều nguyên do, nhưng chính yếu là vì từ chính quyền đến doanh gia và giới đầu cơ bị say đòn nên không nhìn rõ quy luật thị trường.

- Hỏi: Và ông cho rằng ngày nay hiện tượng tâm lý ấy chưa chấm dứt"

- Ít ra tại Việt Nam và Trung Quốc. Vẫn là sự hồ hởi sảng đang thấy trên thị trường chứng khoán hay địa ốc và những khoe khoang về đầu tư nước ngoài đang dồn dập đổ bộ! Dân gian gọi hiện tượng đó là "chưa thấy quan tài chưa đổ lệ" vì 10 năm trước, Việt Nam và Trung Quốc không bị ảnh hưởng nặng như năm xứ Đông Á kia là Thái Lan, Nam Hàn, Indonesia, Malaysia và Philippines.

- Hỏi: Nhưng các nước bị nạn hẳn cũng đã thấy ra nguyên nhân và đã có sửa đổi chứ"

- Tất nhiên là có, mà cũng có nhiều khó khăn khi phải cải sửa vì các thế lực cưỡng chống bên trong là các cơ sở xưa kia được ưu đãi. Cũng vì lý do ấy mà tôi mới nghĩ rằng dù ông Nguyễn Minh Triết có muốn thay đổi thì chưa chắc đã được! Cơ chế là một cái ách.

Nói chung, sau khi bị khủng hoảng và có khi mất phân nửa tài sản quốc dân trong có mấy năm, các nước Đông Á đều biết sợ mà thủ rất kỹ bằng một khối dự trữ ngoại tệ cực lớn. Họ tự chuẩn bị để ngăn một vụ tẩu tán tư bản đã xảy ra 10 năm trước, nhưng thật ra chỉ tìm cách chống đỡ ở ngọn, ở cái duyên hơn là cái nhân. Và chính là cách ứng phó ấy lại là cái nhân cho một nguy cơ khủng hoảng khác mà Việt Nam cần thấy trước để tránh.

- Hỏi: Ông có thể giải thích điều ấy cho rõ hơn được không, vì nếu có khối dự trữ ngoại tệ dồi dào hơn thì cũng có thể tránh được hoàn cảnh phải phá giá đồng bath Thái Lan hoặc đồng Won của Hàn Quốc bị mất giá một nửa chứ"

- Trước hết, ngần ấy quốc gia vẫn tiếp tục giàng sinh mệnh kinh tế vào xuất khẩu tức là vẫn để bị lệ thuộc vào thị trường quốc tế như trước năm 1997. Và Việt Nam cũng đang cố gắng bước theo con đường rủi ro ấy thay vì tìm cách nâng cao lợi tức nội địa để gia tăng khả năng tiêu thụ nội địa, với một dân số rất lớn và một thị trường nội địa đủ đông để làm một đầu máy kinh tế thứ hai thay vì chỉ có một đầu máy xuất khẩu ngày một mạnh.

Kế tiếp, các nước Đông Á có thay đổi chế độ ngoại hối, từ cố định sang thả nổi có quản lý, mà chủ yếu vẫn là có kiểm soát, nên cơ chế kinh tế sẽ không kịp ứng phó với những giao động của thị trường quốc tế. Trong địa hạt này, Việt Nam khá hơn Trung Quốc một chút với biên độ giao dịch đồng bạc lớn hơn đồng Nhân dân tệ của họ so với tiền Mỹ.

Thứ ba, chiến lược xuất khẩu bằng mọi giá mà Trung Quốc và Việt Nam theo đuổi còn ráo riết hơn các nước Đông Á khác đã tạo ra ảo tưởng hùng cường ở khối dự trữ ngoại tệ do Nhà nước quản lý. Nhưng khối lượng tài sản ấy là tiền chết vì không đầu tư vào các nơi có lợi hơn cho kinh tế quốc dân, mà lại được định giá quá cao nên đối giá của nó là đồng bạc nội địa quá thấp. Nói cho dễ hiểu là người dân không được hưởng gì nhiều ở việc thắt lưng buộc bụng để xuất cảng và cũng vì vậy không nâng cao được khả năng tiêu thụ nội địa. Ta hay có chữ "lọt sàng xuống nia", cái sàng của nhà nước quá khít nên phần ơn ích dành cho người dân còn quá ít. Đấy là một mối nguy kinh tế và bất công xã hội.

- Hỏi: Câu hỏi cuối thưa ông, rủi ro của hiện tượng ấy là gì"

- Các nước Đông Á có thể đã học sai bài học của vụ khủng hoảng 10 năm trước và dồn sức chặn cửa bằng một khối dự trữ ngoại tệ rất cao với đối giá là những khoản hiện kim đang thổi lên các trái bóng đầu cơ khác trong khi chẳng nâng mức sống thực tế của người dân hay cải sửa hệ thống hạ tầng vật chất lẫn kiến thức của cả xã hội.

Nhưng các nước đó đã tiến xa hơn Việt Nam nên có bị khủng hoảng nữa khi bóng bể thì chưa chết. Việt Nam thì không, với tham nhũng cao gấp bội và sự hiểu biết rất hời hợt về quy luật thị trường. Đã thế mà cũng lại chỉ muốn lao ra ngoài trong khi chẳng cải thiện gì mức sống dân chúng. Khi đã ra tới bên ngoài mà bị khủng hoảng thì tai họa xã hội và chính trị không phải là nhỏ.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.