Hôm nay,  

Quan Hệ Mỹ-việt Tiến Tới Đâu?

6/20/200700:00:00(View: 9647)

Chuyến đi Mỹ của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết trong tuần này là dấu chỉ cho thấy quan hệ Mỹ-Việt tiếp tục được phát triển, dù gần đây nổi lên những khác biệt trong cái nhìn về nhân quyền và đang tạo nên những cơn sóng.

Nhân quyền là một phần trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nhưng ít được ồn ào nêu lên, trừ khi vấn đề trở nên nghiêm trọng. Dưới thời Tổng Thống Bill Clinton, Ngoại Trưởng Madeleine Albright trong một buổi thảo luận ở Hà Nội đã hỏi Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu rằng khi nào Việt Nam sẽ bắt đầu tiến trình dân chủ hoá đất nước.

Hai năm trước, khi Thủ Tướng Phan Văn Khải thăm Hoa Kỳ, Việt Nam cũng đã ký với Mỹ một thỏa thuận tôn trọng tự do tôn giáo.

Tổng Thống George W. Bush trong chuyến đi Hà Nội cuối năm 2006 đã nêu vấn đề nhân quyền với lãnh đạo Việt Nam.

Khi tiếp Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Gia Khiêm vào tháng Ba vừa qua, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice cũng thảo luận việc Việt Nam giam giữ những người phát biểu ý kiến bất đồng với chính phủ.

Như thế, với những quan điểm khác biệt giữa hai nước về nhân quyền, quan hệ Mỹ-Việt sẽ tiến tới mức nào"

Trước hết hãy nhìn lại tiến trình bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong hơn ba thập niên qua.

Cuộc chiến ở Việt Nam với sự can dự của người Mỹ chấm dứt vào tháng 4-1975 và một năm sau hai miền Việt Nam được chính thức thống nhất dưới quốc hiệu Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tại thời điểm đó Hoa Kỳ đã áp dụng khắt khe chính sách cấm vận theo tinh thần của bộ luật cấm giao thương với những quốc gia thù nghịch được thi hành đối với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tức miền Bắc Việt Nam, từ năm 1964. Cùng lúc, với quyền phủ quyết, Hoa Kỳ đã không chấp thuận cho Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc ngay sau chiến thắng.

Dưới thời Tổng Thống Gerald Ford, một vài cố gắng để đặt nền tảng cho quan hệ giữa hai nước đã không thành vì dựa trên điều kiện Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh và việc tìm kiếm hơn hai nghìn binh lính Mỹ còn mất tích (POW-MIA) mà Washington và Hà Nội đã không thể đồng ý với nhau.

Sau khi Tổng Thống Jimmy Carter nhậm chức vào tháng 1-1977, vào tháng Ba ông đã cử Đặc Sứ Leonard Woodcock, lúc đó là chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao động Hoa Kỳ (AFL-CIO), đến Hà Nội bàn về quyền lợi song phương. Để tỏ thiện chí Hoa Kỳ không phủ nhận đơn xin gia nhập và Việt Nam chính thức trở thành hội viên Liên Hiệp Quốc vào năm 1977.

Tiếp tục những đối thoại, Thứ Trưởng Ngoại giao của hai quốc gia là Richard Holbrook và Phan Hiền đã có những thảo luận ở Paris để tìm giải pháp cho việc thiết lập quan hệ.

Nhưng cuối năm 1978 tình hình trở nên căng thẳng với xung đột Cam Bốt - Việt Nam - Trung Quốc, với việc Việt Nam ký kết hiệp ước liên minh với Liên Xô, rồi bộ đội cộng sản Việt Nam vượt biên giới qua Cam Bốt lật đổ chế độ Khờ-Me Đỏ và sự kiện ngày đầu năm 1979 chính quyền của Tổng Thống Jimmy Carter chính thức đoạn giao với Đài Loan để thiết lập quan hệ với Trung Quốc.

Trong bối cảnh một cuộc chiến tranh mới và thế chính trị điạ lí vùng châu Á nên những liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trở nên bế tắc.

Sau Đại Hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, năm 1986 Hà Nội ban hành chính sách đổi mới, cho phép tự do kinh doanh, đón du khách và mở cửa giao thương với các nước Tây phương. Việc này tạo thuận lợi cho khối Tây Âu và các nước như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan lập dự án kinh doanh ở Việt Nam. Nhưng luật cấm vận của Hoa Kỳ cũng còn là rào cản gây khó khăn.

Cuối nhiệm kỳ hai của Tổng Thống Ronald Reagan (1984-1988) một người nổi tiếng bảo thủ chống cộng sản, Hoa Kỳ và Việt Nam mới có những thảo luận trở lại với chuyến đi Hà Nội năm 1987 của Đặc Sứ John Vessey, nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Hoa Kỳ. Hà Nội muốn thương thảo trực tiếp với Washington về một giải pháp hoà bình cho Cam Bốt mà Hoa Kỳ không đồng ý vì chính sách của Mỹ lúc bấy giờ là ủng hộ lập trường của khối ASEAN (Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á) đòi Việt Nam rút bộ đội về nước. Hoa Kỳ cũng yêu cầu Việt Nam giải quyết vấn đề POW-MIA. Đổi lại Hoa Kỳ sẽ bỏ lệnh cấm vận và giúp Việt Nam phát triển kinh tế. Những vấn đề khác như tù cải tạo và con lai cũng được đặt ra và đã có sự hợp tác của Hà Nội.

Dưới thời Tổng Thống George Bush (Cha), 1988-1992, một số thành quả ngoại giao được thi hành nhưng vẫn chưa có bang giao giữa hai nước: con lai, cựu tù cải tạo và gia đình được định cư (1989), Washington chính thức thảo luận với Hà Nội để tìm một giải pháp hoà bình cho Cam Bốt (1990), có những tiến bộ trong việc tìm hài cốt và tin tức tù binh Mỹ. Đáp lại, Hoa Kỳ cho phép doanh gia Mỹ tổ chức du lịch Việt Nam, định mức viện trợ nhân đạo một triệu Mỹ kim một năm, các tổ chức ngoài chính phủ NGO được hoạt động tại Việt Nam, cho phép các công ty Mỹ đến Việt Nam nghiên cứu thị trường và nối lại liên lạc viễn thông giữa hai nước.

Sau khi có bầu cử tự do với sự giám sát của Liên Hiệp Quốc được tổ chức ở Cam Bốt vào năm 1993, Tổng Thống Bill Clinton bỏ cấm vận Việt Nam đầu năm 1994 và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 12-7 năm 1995, đúng hai mươi năm sau ngày Hoa Kỳ cuốn cờ rút khỏi miền Nam.

Sau mười hai năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã có quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Hoa Kỳ và mới trở thành hội viên WTO. Trao đổi thương mại giữa hai nước từ vài trăm triệu đô-la vào thập niên trước nay lên mức 10 tỉ đô-la một năm. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam hiện là 4 tỉ.

Về mặt chiến lược, vài năm gần đây tầu chiến Hoa Kỳ đã nhiều lần ghé cảng Sài Gòn và Đà Nẵng và bộ trưởng quốc phòng cùng giới lãnh đạo quân sự hai nước đã có nhiều chuyến thăm viếng qua lại. Hoa Kỳ trong tương lai có thể bán trang thiết bị quân sự và giúp huấn luyện lính Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam đã có những hợp tác tích cực với Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.

Trong tiến trình phát triển và nâng cấp quan hệ, những chuyến thăm viếng hai quốc gia của những nhà lãnh đạo cao cấp nhất đã được thực hiện.

Năm 2000, Bill Clinton là vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm một nước Việt Nam thống nhất, hoà bình. Thủ Tướng Phan Văn Khải chính thức thăm Hoa Kỳ vào mùa hè 2005. Cuối năm 2006 Tổng Thống George W. Bush đã thăm Việt Nam nhân dự hội nghị APEC.

Chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết cho thấy quan hệ Mỹ Việt tiếp tục phát triển. Nhưng quan hệ đó sẽ tiến tới đâu" Hai nước chỉ là bạn giao thương hay sẽ thành đồng minh chiến lược"

Hà Nội thường công bố chính sách ngoại giao của Việt Nam là muốn làm bạn với các nước trong tinh thần tôn trọng chủ quyền, độc lập của nhau. Với vị trí địa lí và quá khứ lịch sử, chính sách đó có thể được hiểu là Việt Nam muốn là bạn của Trung Quốc để giữ nước, cùng lúc làm bạn với Hoa Kỳ để phát triển.

Đây là căn bản của chính sách ngoại giao đu dây đã giúp Việt Nam đạt được những thắng lợi thời chiến tranh. Nay trong thời bình và với cục diện chính trị và ý thức hệ thế giới đã thay đổi, quan hệ Mỹ-Việt hiện tại liệu có đưa hai quốc gia lên tầm đồng minh chiến lược"

Nghi thức đón tiếp Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết chỉ ở mức xã giao cho thấy quan hệ giữa Hoa Kỳ và VN còn ở mức bạn mới vì có những điều chưa hiểu nhau, chưa thân thiết như giữa Hoa Kỳ và Thái Lan, Nam Hàn, Philippines, chưa được nâng lên cấp đồng minh chiến lược, như quan hệ của Hoa Kỳ với Anh Quốc, Nhật Bản hay với Do Thái.

Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với VN là ở thế chân vạc với 3 yếu tố: quyền lợi kinh tế, vị trí chiến lược và lý tưởng dân chủ, tự do.

Khi nào cả hai phiá đều có tầm nhìn tương đồng nhau về ba lãnh vực trên, khi đó 2 quốc gia mới thực sự có tình hữu nghị thắm thiết trước khi trở thành đồng minh chiến lược.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.