Hôm nay,  

Chuyện Vãn: Cái Tóc Là Góc Con Người

2/28/202500:00:00(View: 2723)
cai toccai toc 3cai toc 2
 
Thành ngữ ta có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người” nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.

Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:

“Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ
Này cô em tóc demi garçon”…

Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.

Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!

Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval - người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…

… Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…

Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…

Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…

… Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”

Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…

Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).

Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.

Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.

Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:

“Tóc mai một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.
Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.

(Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).

Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…

Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.

Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).

Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.

Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:

“Tóc thề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắc son”.
Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:
“Huế có gì để tôi phải thương
Bên ni bên nớ mấy độ đường…
Mái tóc thề xõa trên bờ vai
Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài
Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc
Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”
Trong ca dao với hình ảnh:
“Một thương tóc xõa đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”

Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:

“Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế
Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê
Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ
Mái tóc thề tình xưa”.
Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế
“Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…
Đêm nay em viết trong lưu bút
Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.
Đuôi tóc thề kèm thư mới viết
Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.

Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:

“Em buông lơi tóc thề
Tình mình theo cơn lốc về
Em như mưa nắng hạ
Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”

Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:

“Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
Tóc chia đường gió, chia thương nhớ
Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.
Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ, để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.

Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:

“Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,
Tóc buông hong với gió đầu thu
Em mải mơ gì dưới nắng êm?
Tóc như suối mực chảy êm đềm”
Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:
Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái…
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.

Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:

“Chiều tím, chiều nhớ thương ai
Người em tóc dài
Sầu lên phím đàn
Tình vương không gian
Mây bay quan san có hay?...
... Tóc bay dài, gió viễn khơi”

Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:

“… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”

Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.

Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.

Suối huyền, lả buông làn tóc
Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…
Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.

Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!... (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.

Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình hương tóc quen…

Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…

Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…

Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.

Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết
Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương
Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc
Em đi qua thơm ngát cả con đường…
Cho ai lời hẹn xưa…

Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?

Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)

Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).

Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:

“Xa trời, lưu lạc hồn quê
Có phai, xin để ngày về hãy phai
Viễn phương mái tóc bay dài
Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.

Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì  “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).
 
Little Saigon, Mùa Valentine’s
Vương Trùng Dương
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
Tình hình thế giới hình như đang rối lung tung, náo loạn như từ khi tổng thống Mỹ nhậm chức nhiệm kỳ II. Ông ở ngôi mới được hơn 100 ngày chút xíu, mà nhiều rắc rối quá, đối ngoại thì như mỗi ngày ông đưa ra những quyết định trừng phạt thế giới về kinh tế và thương mại bằng cách tăng thuế vào các hàng hóa của bất kỳ quốc gia nào nhập khẩu và Hoa Kỳ từ 10 đế 50% và hơn thế nữa.
Thông thường, sau một ngày dài bận rộn, ai cũng nghĩ rằng đến khi đặt lưng xuống giường thì cơ thể sẽ mệt mỏi rã rời. Thế nhưng đôi khi, điều ngược lại lại xảy ra: thay vì cảm thấy mệt và buồn ngủ, chúng ta lại bất ngờ cảm thấy tỉnh như sáo, tràn đầy năng lượng, trằn trọc mãi chẳng thể nào chợp mắt.
Bộ đồ lòng dĩ nhiên gồm có…lòng. Nhưng lòng lại chia ra nhiều loại: lòng non, phèo, lòng già, khố linh. Khố linh là phần cuối của lòng già, ăn rất giòn, béo vì có lớp mỡ bên trong. Đó là điểm cộng của khố linh. Điểm trừ là khố linh rất hôi, có lẽ đây là lý do có chữ “khố” nằm vùng ở đây. Bàn ngang một chút: lòng còn chỉ “lòng dạ”, một từ không dính dáng chi tới chuyện ngon hay dở. Nghĩa bóng của “lòng dạ” chỉ liên quan tới con người, còn bò heo gà thì chỉ có một nghĩa. Ngoài lòng, bộ đồ lòng còn bao gồm tim, gan, bao tử, dồi trường. Dồi trường chỉ có ở heo nái. Tùy theo tuổi heo, dồi trường to hay nhỏ. Loại ngon nhất là dồi trường của heo nái đẻ hai hoặc ba lứa. Nhưng ít thực khách biết chuyện này nên cứ đòi dồi trường to, vừa đắt vừa không ngon.
Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng ngay cạnh xác tàu Titanic huyền thoại, chậm rãi dạo quanh một vòng và chiêm ngưỡng kích thước đồ sộ của con tàu. Quý vị có thể ghé vào phòng chứa lò hơi (boiler rooms), ngắm nghía các bảng điều khiển, thậm chí nhìn thấy số ID 401 của tàu được khắc trên cánh chân vịt. Những dải nhũ xốp gỉ sét (rusticles) lặng lẽ bám quanh thân tàu. Rải rác trên mặt đất là những mảnh kim loại đã biến dạng và đồ đạc cá nhân của những nạn nhân xấu số trong thảm kịch năm xưa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.