Hôm nay,  

Chuyện Vãn: Cái Tóc Là Góc Con Người

2/28/202500:00:00(View: 2724)
cai toccai toc 3cai toc 2
 
Thành ngữ ta có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người” nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.

Theo Nguyễn Ngọc Chính: “Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc dài của phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với việc tôi không thể dành cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi-garcon’ như trong bài hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:

“Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ
Này cô em tóc demi garçon”…

Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi-garçon lại không phải là ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn làm sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó là chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc dài, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garçon’ nào ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ này chuẩn bị ‘xuống lỗ’ mà vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc dài từ thời niên thiếu.

Có một dạo, khoảng thập niên 1960s, các cô gái Sài Gòn chuộng ‘mốt’ buộc thêm cái bandau lên mái tóc. Dẫu rằng bandau có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế là đẹp. Bandau, nếu là màu trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến vành khăn tang và như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đàn ông nữa. Thay vào đó là ý nghĩ tang tóc đáng sợ!

Tóc cột theo kiểu ‘đuôi gà’ (queu de cheval - người phương Tây gọi là kiểu tóc đuôi ngựa) cũng là một ‘mốt’ của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ thích hợp với những người còn trẻ…

… Thật không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi gà lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ là sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó là một buổi trưa móng bức giữa Sài Gòn, nàng sửa soạn đi dạy học và bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn nàng bước ra khỏi nhà với mái tóc đuôi gà…

Mái tóc vén cao cũng là một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất là những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những làn da trắng nuốt trên gáy, nổi bật với vài sợi tóc lòa xòa trên cổ…

Vào thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp các bà các cô ‘duỗi tóc’ thật thẳng hay nhuộm tóc đủ màu và thậm chí còn ‘hilight’ pha màu từng cụm tóc trông như một ‘palette technicolor’ của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức là những gì tự bản thân mình có chứ không thể nào vay mượn từ những cái mình không có (?)…

… Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ toàn… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ngậm đắng nuốt cay’ với cảnh này. Các bà vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nhà và các ông chồng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu xí mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng…”

Ca dao ta có câu “Tóc mai sợi ngắn (vắn) sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”. Tác phẩm Tóc Mai Sợi Ngắn Sợi Dài của Phạm Tú Uyên gồm 13 chương. Tác giả viết về cố đô Huế của thuở học trò với chân dung người tình qua mái tóc “Tôi mơ màng về lại ngày xưa, em hiện ra xinh xắn với mái tóc dài đen mượt, đang ngồi bàn trên lớp học. Mái tóc đong đưa, nhảy múa trước mặt và cả mùi hương từ tóc em đã cột chặt hồn tôi lại, đã đưa tôi bồng bềnh trong nỗi nhớ mênh mang” (Chương 6). Tác giả viết về cố đô Huế với những kỷ niệm bên cạnh người tình cho đến thời điểm tang thương vào tháng Ba năm 1975, chàng bị cụt chân, người tình ghé thăm với mái tóc ngày nào còn phảng phất mùi mùi hương…

Tác giả nầy yêu quá sớm, thuở đó thời học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp (Đệ Thất đến Đệ Tứ) nam nữ học chung, ngồi sau nữ sinh, chúng tôi thuộc loại “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” chưa yêu nên quậy tới bến, cột tóc dài của mấy cô ngồi trước… nên vài lần bị thầy/cô cho ra khỏi lớp. Khi lên Đệ Nhị Cấp ban C mới “Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Thơ Xuân Diệu).

Nhạc sĩ Phạm Duy lấy từ ca dao nầy soạn thành ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài “Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc. Thuở ấy anh vừa thôi học xong”.

Tóc mai là phần tóc ở phía trước vành tai, và kéo dài đến cuối lỗ tai. Nam thì cắt tóc, chấn ngang giữ vành tai, nữ thì để tự nhiên, tăng thêm sự hài hòa, thanh thoát trên khuôn mặt.

Tròng bài thơ Màu Thời Gian của thi sĩ Đoàn Phú Tứ ca ngợi hình ảnh:

“Tóc mai một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương”.
Hai chữ dao vàng trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”.

(Trong Truyện Kiều chú giải: Dao vàng, vàng đây là dịch chữ kim trỏ kim loại, kim thuộc như đồng, sắt… Vậy dao vàng không nên hiểu kim loại bằng vàng, chỉ là con dao thường bằng sắt. Nói thế cho đẹp lời văn mà thôi. Kiều lấy dao cắt một ngụm tóc để thề).

Với phái nữ, tóc dài, tóc ngắn tùy theo khuôn mặt để có sự hài hòa, thanh thoát và tùy theo sở thích của mỗi người (nam, nữ) được diễn tả trong thi ca, âm nhạc…

Chuyện vãn lần nầy nói về tóc dài của thuở xa xưa ở quê nhà với nữ giới vì với Âu Mỹ thường là tóc ngắn nên không có sự phân biệt gì cả.

Nhân Ngày Hiền Mẫu, trước đây tôi viết bài về hình ảnh mẹ tôi của thời ấu thơ, mẹ tôi bán sạp vải ở chợ, buổi trưa giao cho con gái về nhà gội đầu chùm kết (bồ kết) và vỏ bưởi, khi hong tóc mùi thơm loan tỏa khắp nhà, tôi quạt cho tóc mẹ mau khô. Tóc mẹ rất dài và búi tóc (từ mái tóc đen cho đến khi bạc trắng) và từ đó hình ảnh tóc dài đã in sâu trong tâm hồn… Vì vậy (với cá nhân) thiện cảm với tóc dài. (Người Bắc thì quấn khăn vành dây bằng nhung).

Trong bài Những Sợi Tóc của Nguyễn Ngọc Chính: Xứ Huế có câu ca dao “Bớ cô tóc xõa kề bề. Cô mặc áo trắng, tóc thề ngang vai”… Nhiều người tự hỏi, tại sao gọi là “tóc thề”? Một giải thích cho rằng những cô gái miền Sông Hương, Núi Ngự để “tóc thề” để nói lên sự ngây thơ, khép kín. Rồi mái tóc thề xuông đuột xõa kín bờ vai đó sẽ có ngày biến mất khi nàng thơ sang ngang để lại một nỗi buồn man mác trong lòng kẻ tình si!”.

Tóc thề là những sợi tóc ngắn phất phơ hai bên trán và vành tai, tạo vẻ duyên dáng, thơ ngây. Tóc thề ngoài ý nghĩa thề hẹn, biểu tượng sự thủy chung, sắc son… Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du:

“Tóc thề đã chấm ngang vai
Nào lời non nước, nào lời sắc son”.
Với Huế, ca khúc Huế Ngọc của nhạc sĩ Võ Tá Hân:
“Huế có gì để tôi phải thương
Bên ni bên nớ mấy độ đường…
Mái tóc thề xõa trên bờ vai
Cho tôi nhung nhớ tháng năm dài
Nón lá nghiêng che đôi mắt ngọc
Cho tôi thờ thẫn mộng thiên thu”
Trong ca dao với hình ảnh:
“Một thương tóc xõa đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…”

Nhạc sĩ Châu Kỳ, người con xứ Huế với ca khúc Mái Tóc Thề:

“Tôi thương mái tóc thề dịu men tình trong nhân thế
Tôi thương mái tóc thề con đường màu thắm hương quê
Hình dáng đó còn mơ em tôi ơi đẹp thơ
Mái tóc thề tình xưa”.
Nhà thơ Kiên Giang với bài thơ Tóc Thề Xứ Huế
“Cuối tháng, thầy vô trường võ bị
Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu.
Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều…
Đêm nay em viết trong lưu bút
Xin gọi thầy bằng một tiếng anh.
Đuôi tóc thề kèm thư mới viết
Gởi về Gia Định, mộng ngày xanh”.

Ca khúc Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:

“Em buông lơi tóc thề
Tình mình theo cơn lốc về
Em như mưa nắng hạ
Hôn bờ biển xanh sỏi đá…”

Với mái tóc thề khi thắt bím của tuổi nữ sinh với nhà thơ Kim Tuấn, người con xứ Huế trong bài thơ Ngày Em Còn Thắt Bím:

“Tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
Tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
Tóc chia đường gió, chia thương nhớ
Chia nỗi buồn cho ai vấn vương.
Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ, để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình, em lửng lơ”.

Với mái tóc dài được mô tả như suối tóc. Ngày đó, nhà thơ Quang Dũng với hình ảnh Suối Tóc:

“Thuở ấy em ngồi trên cửa gác,
Tóc buông hong với gió đầu thu
Em mải mơ gì dưới nắng êm?
Tóc như suối mực chảy êm đềm”
Nhạc sĩ Văn Phụng qua ca khúc Suối Tóc:
Tìm cho thấy liễu xanh, xanh lả lơi
Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai
Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai
Anh với em một đêm thu êm ái…
Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau
Như chúng ta đôi lần hàng gắn thương yêu”.

Ca khúc Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ:

“Chiều tím, chiều nhớ thương ai
Người em tóc dài
Sầu lên phím đàn
Tình vương không gian
Mây bay quan san có hay?...
... Tóc bay dài, gió viễn khơi”

Trong bài viết Người Đẹp & Suối Tóc của ca sĩ Quỳnh Giao ghi nhận:

“… Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và… ca tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”

Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.

Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài Suối Huyền nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.

Suối huyền, lả buông làn tóc
Thướt tha, óng chuốt uốn lưng ong…
Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.

Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài Suối Tóc, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!... (sau nầy ca sĩ Châu Hà cắt tóc ngắn)

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài Mái Tóc Dạ Hương phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.

Từ giã hoàng hôn trong mắt em
Tôi đi tìm những phố không đèn
Gió mùa thu sớm bao dư vị
Của chút ân tình hương tóc quen…

Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài Về Đâu Mái Tóc Người Thương, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…

Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…

Cũng ở hải ngoại, nhạc sĩ Thanh Trang của Duyên Thề sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.

Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết
Mưa ướt rồi mái tóc sẽ phai hương
Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc
Em đi qua thơm ngát cả con đường…
Cho ai lời hẹn xưa…

Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?

Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ” (Quỳnh Dao)

Theo lời kể Văn Phụng không biết đặt tên cho bản nhạc ấy là gì. Rồi bỗng nhìn mái tóc Châu Hà dài chấm đất của cô gái và nói: “Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc. Đặt tên bản nhạc là Suối tóc nhé!”. Ca khúc Suối Tóc ra đời từ buổi đó. Ban tam ca với các ca sĩ Châu Hà, Mộc Lan, Kim Tước trong ban Tiếng Tơ Đồng một thời nổi tiếng ở Sài Gòn, nay chỉ còn ca sĩ Kim Tước ở Quận Cam (Tôi rất thích ca khúc Cát Biển của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ban tam ca nầy, sau nầy có ban tam ca Kim Tước, Quỳnh Dao, Mai Hương ở Little Saigon, ngoài ra không thể nào có ban tam ca nữ nào như vậy).

Nhà thơ Đinh Hùng trong bài Mái Tóc Viễn Phương:

“Xa trời, lưu lạc hồn quê
Có phai, xin để ngày về hãy phai
Viễn phương mái tóc bay dài
Nghiêng vai sương lạnh, thương hoài vầng trăng”.

Và cuối cùng “Tóc em xõa xuống đôi bờ vai nhỏ. Dòng thác nào cuộn chảy giữa lòng tôi” (Cây Điệp Vàng, nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện, thơ: Nguyễn Thái Dương). Rồi “Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu” (Bản Tình Cuối của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên). Đến khi đó thì  “Tình cờ đất khách gặp nhau. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?” (Tình Già của nhà thơ Phan Khôi). “Thôi em xanh mắt bồ câu. Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau” (Kiếp Sau của nhà thơ Cung Trầm Tưởng).
 
Little Saigon, Mùa Valentine’s
Vương Trùng Dương
 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó. Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn. Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
Tuần này tôi trân trọng giới thiệu Đỗ Kh. Nhà văn Đỗ Kh., hẳn không xa lạ gì với người yêu văn chương tiếng Việt, ở hải ngoại nói riêng, trong nước nó chung. Ba mươi bốn năm trước, Đỗ Kh. (lúc bấy giờ ông còn ký bút hiệu Đỗ Khiêm) là tác giả đầu tiên tôi chọn để trình làng nhà xuất bản Tân Thư do tôi chủ trương. CÂY GẬY LÀM MƯA cũng là tác phẩm đầu tiên tác giả này đến với thế giới văn chương tiếng việt. Ngoài CGLM, Tân Thư còn in của ông một tập truyện nữa, KHÔNG KHÍ THỜI CHƯA CHIẾN. Với bút pháp rất riêng cộng kiến thức và trải nghiệm sâu rộng qua những chuyến đi khắp mọi nơi trên hành tinh này, Đỗ Kh. cho chúng ta những bài viết lý thú.
Mặt trời như chiếc nong đỏ ối sắp chạm mái ngói phủ rêu của dãy phố cổ. Bức tường bên trái loang lổ, tróc lở, chồng chéo những dòng chữ thô tục cạnh các bộ phận sinh dục nam nữ đủ cỡ đủ kiểu vẽ bằng than hoặc mảnh gạch vỡ. Bức tường thấp, có chiếc cổng gỗ đã mất hẳn màu sơn, xiêu vẹo, quanh năm nằm trong vị thế mở ngõ. Chiếc cổng dẫn vào ngôi miếu nhỏ. Bên trong miếu, trên bệ thờ bằng xi măng hai ba bài vị chẳng hiểu viết gì, chẳng biết thờ ai. Trước bài vị, lư hương chỉ toàn chân nhang. Từ lâu không còn ai đến đây hương khói, ngôi miếu đã biến thành giang sơn riêng của dơi, chuột cùng các loại côn trùng. Cạnh ngôi miếu, một tàn cổ thụ rậm lá với những rễ phụ chảy thõng thượt, bò ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1994, dưới thời Bill Clinton. Khởi từ dấu mốc đó Việt Nam dần dần thân thiện hơn với người anh em “sen đầm đế quốc” này, thời kỳ ngăn sông cách chợ đã được khai thông, nhiều người xuất ngoại thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác. Giới văn nghệ sĩ không ngoại lệ. Thuở đó gần như tháng nào tôi cũng đón ít nhất một văn, thi, nhạc, họa… sĩ. Phải chăng tại fake news, một người nhà quê như tôi bỗng biến thành “tay chơi” có số má dưới mắt nhìn các vị cầm cọ, cầm bút trong nước?
Hầu hết mọi người già thường mắc phải chứng quên những chuyện gần, nhưng lại nhớ những chuyện xưa, có khi hàng sáu bảy chục năm trước. May mắn (hay xui xẻo?), tôi có một trí nhớ khá tốt, dù gần hay xa tôi đều không quên. Tuy nhiên tôi lại vướng phải nhược điểm là chỉ nhớ sự việc nhưng lại không nhớ thời điểm. Nhược điểm này theo tôi từ ngày thơ trẻ cho đến hôm nay. Khác hẳn một vài người quen, chả hạn nhà văn Hoàng Khởi Phong, anh có một trí nhớ xuất chúng về những con số. Số điện thoại, số nhà của ai đó, chỉ nhìn hoặc nghe qua một lần là ghim ngay vào não, nhiều năm sau, hỏi, anh trả lời vanh vách. Nhà văn Cung Tích Biền cũng không kém, xuất thân là giáo sư dạy sử, ngoài những chi tiết liên quan đến chuyên môn như tên, đế hiệu các vị vua, ngày lên ngôi, ngày chết, những hành trạng của họ suốt thời gian trị vì, và mọi biến cố lịch sử… trải dài từ thời lập quốc, bốn nghìn năm trước, đến bây giờ. Như Hoàng Khởi Phong, anh nhớ rõ mọi con số, kể cả những chi tiết liên quan.
Hai hôm trước một cô em, cũng cầm bút, đến thăm, nhân tiện đề nghị, nếu sức khỏe không cho phép tôi gõ chữ thì cô ấy sẽ giúp, tôi chỉ cần nói qua băng ghi âm, cô em chép lại rồi giao cho tôi nhuận sắc. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, qua trao đổi riêng, vẫn nhiều lần khuyên tôi nên viết hồi ký. Theo hai người, do một thời chủ trương tạp chí Hợp Lưu, tôi có điều kiện tiếp cận và rành rất nhiều chuyện của giới văn nghệ sĩ cũng như văn học hải ngoại lẫn trong nước, nếu tôi không làm thì rồi mọi sự cố sẽ trôi vào lãng quên, thiệt thòi cho văn học Việt Nam, uổng lắm.
Tuổi già thường sống với dĩ vãng. Nhiều chuyện tưởng đã vĩnh viễn ra khỏi trí nhớ, thế mà bất chợt bỗng hiện về, có khi mồn một từng chi tiết nhỏ, tựa mới xảy ra hôm qua, hôm kia, có khi nhập nhòa hư thực bất phân. Chuyện này không lâu, chỉ 23 mươi năm, trước một năm ngày tôi bị tai biến. Nhớ, vì có một chi tiết, lạc đề, nhưng vui.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn "Ba Điều Bốn Chuyện" này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.