Hôm nay,  

Lý Thuyết Sáng Tác Truyện - Nhận Thức Bảy T.

9/24/202519:38:00(View: 959)

sách vở


(Trích trong tác phẩm “Thực Hành Các Lý Thuyết Sáng Tác Truyện Ngắn Và Tiểu Thuyết”, Ngu Yên thực hiện. Escape Publishing xuất bản, trên 900 trang, phát hành tháng 10 năm 2024.)

 
*

Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình.

Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt văn học sáng tác mà tôi đã kinh qua. 

Bảy T và Bốn Đ tuy là đúc kết nhưng không hẳn là quy tắc, chỉ là những phân lý để tạo ra “mấu chốt đề nghị.”

Bảy T: thuật, tả, thoại, thoát, thấy, thấu, và thú.

Bốn Đ: đa phương tiện, đa trí tưởng, đa cảm nhận, và đa văn hóa.

Những nhận thức này có thể áp dụng vào ba lãnh vực: Sáng tác, nghiên cứu phê bình, và dịch thuật theo học phái độc giả phản hồi.

Trải nghiệm nhắm tới là tạo một tác phẩm hay với nhận thức bảy T và tạo một tác phẩm giá trị với nhận thức bốn Đ.

Ý nghĩa nhận thức Bảy T

Trong bảy T, bốn nhận thức đầu thuộc về kỹ thuật. Ba nhận thức sau thuộc về nghệ thuật. Dĩ nhiên, khó lòng phân biệt giữa kỹ thuật và nghệ thuật vì kỹ thuật dễ thấy mà nghệ thuật thì vô hình. Như nước mặn, làm sao phân biệt muối và nước, chỉ có thể thấy nước và cảm nhận vị mặn, biết là muối tan trong nước. Hơn nữa, khi sử dụng kỹ thuật ở mức độ thượng thừa, thì phải có sự hiện diện của tinh túy và tài hoa, chẳng phải là đã nghệ thuật hóa kỹ thuật hay sao? Người thẩm thấu sáng tác biết rõ sự khác biệt giữa kỹ thuật và nghệ thuật, nhưng không phân biệt khi thực hành. Để kho một nồi cá Bóng trứng cho  ngon, bà nội trợ biết rõ từng bước một trong tiến trình kho cá, biết làm sao cho không tanh, nước mặn mà không chát, cá thấm mềm mà không bở. Biết tất cả những chi tiết và phương tiện nhưng khi kho cá bà chỉ chú ý làm sao để có nồi cá kho ngon, vừa ý, và bà kiểm soát từng giai đoạn bằng vị giác và khứu giác, nếm và ngửi. Để có tác phẩm hay, nhà sáng tác cũng làm những việc tương tựa: Bảy T, bốn Đ và kiểm soát bằng trí và tim.

Bảy T:
Thuật. Tả. Thoại. Thoát Thấy. Thú. Thấu.

1. Kỹ thuật: Thuật. Tả. Thoại. Thoát.

Thuật: Kể chuyện, tường thuật hay tự sự. Một kỹ thuật cơ bản nhất trong sáng tác có nguồn gốc từ đời sống hàng ngày. Bản chất của tường thuật là kể lại những chi tiết chọn lọc trong một diễn tiến tiếp cận ý định chủ yếu, có mục đích thu gọn thời gian nhưng không nhất thiết phải theo thứ tự thời gian. Không có kể chuyện thì không có sáng tác truyện. Kể chuyện là việc tự nhiên, một nhu cầu tâm sinh lý và xã hội. Sáng tác truyện là kể chuyện với kỹ thuật và nghệ thuật.

Tả: Mô tả, diễn tả. Kỹ thuật này cũng cơ bản như thuật. Hàng ngày, trong lúc chuyện trò, chúng ta sẽ bắt gặp hầu hết câu chuyện thể hiện qua thuật và tả. Tả là kể lại những chi tiết xác định trong một không gian, một vị trí, hoặc một hoàn cảnh. Mặc dù có yếu tố thời gian nhưng tả chú trọng đến không gian ba chiều. Tả trong sáng tác thường thể hiện qua Hiện tượng luận và Nhận thức luận. Hiện tượng luận cho phép diễn tả đối tượng theo sự thu nhận trung thực của ngũ quan nhưng kết thúc theo cách mà tâm trí cảm nhận. Trong khi, Nhận thức luận khi diễn đạt đối tượng, chú trọng đến sự “nhìn thấy” của nội tâm qua cấu trúc của đối tượng.

Có lẽ, để cho Tả có một tầm vóc ý thức, các bậc thầy áp dụng những khía cạnh sâu sắc của Ký hiệu học, Cấu trúc luận hoặc Giải cấu trúc, một cách văn chương, không phải để thuần túy luận lý, mà để làm đẹp và sáng tỏ nhiều khía cạnh, mặt diện, chiều sâu, ý nghĩa và giá trị khác nhau của một đối tượng.

Thoại: Đối thoại và độc thoại. Trong đời sống, hai sinh hoạt này xảy ra liên tục, thay thế nhau, diễn tiến suốt ngày và kéo dài vào giấc mơ ban đêm. Trẻ con vừa sinh ra đã có một mức độ nào đó, ngôn ngữ nào đó, để độc thoại và đối thoại. Cho đến khi nó có trí khôn, bắt đầu tiếp nhận ngôn ngữ thường dụng, độc thoại và đối thoại vẫn tiếp diễn liên tục nhưng biến chuyển sang dạng ngôn ngữ xã hội và dân tộc. Thoại là một khả năng mạnh mẽ để làm câu truyện sống động, thú vị và tiến đến kết luận một cách trực tiếp. Thoại là một kỹ thuật cơ bản của sáng tác, có khả năng trở thành nghệ thuật cao kỳ trong tay những nhà văn lão luyện và tài hoa.

Thuật. Tả. Thoại: Hòa hợp kỹ thuật và nghệ thuật hóa văn bản.

Ba nhận thức này hòa hợp với nhau đồng thời với ngữ pháp và cú pháp để diễn đạt những chi tiết trong cấu trúc và hình thành cốt truyện. Vai trò của ba nhận thức là giao tiếp đầu tiên giữa tác giả và độc giả trên một văn bản hay tác phẩm. Qua bề mặt này, họ gặp gỡ nhau, độc giả chia sẻ, thông cảm, ngưỡng mộ, quí mến tác giả hoặc sẽ không vừa ý, bỏ đi và có lẽ khó trở lại thăm hỏi tác phẩm khác của cùng một tác giả. Vì vậy, giá trị bề mặt quan trọng gần giống như ‘coi mặt bắt hình dong’. Đó là lý do ngay từ đầu tác giả phải chọn lựa một loại độc giả nào mà ông muốn viết cho họ đọc. Không ai có thể viết cho hết mọi độc giả. Chọn thể loại độc giả, không phải chọn một số độc giả cụ thể.

Nếu tác giả viết về khoa học giả tưởng, thì đa số độc giả thích truyện xã hội sẽ không đậm đà hoặc lơ là văn bản đó. Không ai có khả năng viết làm hài lòng tất cả mọi người đọc. 
       
Trong một văn bản, thơ hoặc văn, đều đòi hỏi thuật và tả. Thoại có khi không cần, nhất là những văn bản ngắn hoặc văn bản thuần về nội tâm thường nghiêng về độc thoại.  Cá nhân tôi cho rằng mỗi thuật, tả, thoại có vai trò, sức mạnh và hiệu quả riêng. Tận dụng ưu điểm của mỗi loại sẽ làm hình thức diễn đạt nhiều màu sắc mới lạ, và nội dung biến hóa hơn. Đối với một số nhà sáng tác, sự hòa hợp của ba kỹ thuật sẽ trở thành nghệ thuật diễn đạt riêng, có căn cước của họ. Ví dụ như văn Võ Phiến, thơ Bùi Giáng, ca từ Trịnh Công Sơn.

Kỹ thuật được sáng tạo để trở thành nghệ thuật, bất kỳ lúc nào khi “ngộ” ra, thì kỹ thuật liền trở thành nghệ thuật, nhưng thông thường, đa số phải trải qua một giai đoạn tận tình tu luyện học thuật, dù vậy, không phải lúc nào cũng thành công.

Trình bày một văn bản văn học, nếu muốn tránh sự nhàm chán, lơ đảng cho người đọc, văn bản cần linh hoạt, góp phần vào sống động. Tốc độ của câu chuyện trong thơ hoặc văn, nhất là truyện, là động cơ chủ yếu làm cho văn bản có sinh lực. Tường thuật làm văn bản đọc nhanh. Mô tả làm đọc chậm lại. Độc thoại nghiêng về nội tâm, suy tưởng, tiết lộ với bản thân; đối thoại bao bọc cả nội tâm lẫn ngoại giới, cả hai làm tốc độ ngưng hoặc chậm lại để đào sâu, lý lẽ điều gì, nhắc nhở, trình bày quan điểm hoặc thông điệp. Thoại có phạm vi và khả năng rất lớn trong để hành xử nhiều ngữ cảnh và ý tưởng. Một văn bản có tốc độ lúc nhanh, lúc chậm, lúc ngừng lại, lúc nhảy vọt, một cách ngạc nhiên, là dấu hiệu một văn bản thành công.

Thoát: Rời khỏi dòng liên tục, mạch lạc của sự việc đang diễn tiến. Rời khỏi bối cảnh, rời khỏi câu chuyện, để bắt đầu trở lại với một khoảng cách. Còn gọi là nhảy vọt. Một kỹ thuật cần thiết để sáng tác, nhất là truyện ngắn và thơ. Công dụng của nhảy vọt là vượt thời gian và không gian đi đến tương lai hoặc trở về quá khứ, tạo ra sự đứt đoạn, tạo ra sự xáo trộn và thường xuyên gây nên ngạc nhiên, thích thú.

Nhảy vọt là một cách rút ngắn cốt truyện, tạo cô đọng. Trong thơ, nhảy vọt tạo ra những khoảng trống mà độc giả phải suy nghĩ điều gì để lấp đầy. Khéo léo sử dụng kỹ thuật này cũng là cách chuyển tiếp, ráp nối ý tưởng và bối cảnh.

2. Nghệ thuật Thấy Thấu Thú.

Sẽ không bao giờ có một định nghĩa đúng đắn cho mọi trường hợp về nghệ thuật. Nghệ thuật sinh động sống, lớn lên, biến hóa theo thời đại, thời gian, và thời thế văn học. Bản thể nó không đổi nhưng bản sắc thì càng ngày càng phong phú và sâu rộng. Nghệ thuật khác biệt trong từng chủ nghĩa, phong trào, trường phái, nhóm văn chương, thậm chí, trong mỗi nhà nghệ sĩ thành danh. Nghệ thuật chỉ có thể xác định khi thu hẹp nó vào một giới hạn cụ thể hoặc cố định, ví dụ, nghệ thuật thơ trong chủ nghĩa Lãng Mạn; nghệ thuật viết văn của Hemingway.

Không chỉ kỹ thuật trở thành nghệ thuật mà nghệ thuật cũng trở thành kỹ thuật. Sự tương quan này không bên nào thấp bên nào cao, mà là khả năng phục vụ thẩm mỹ. Kỹ thuật phục vụ hầu hết là do ý thức, trong khi đa phần nghệ thuật phục vụ bởi vô thức. Tuy nhiên, không ai có thể phân biệt ranh giới giữa ý thức và vô thức. Không ai thực sự biết rõ chúng hoạt động tương tác với nhau như thế nào? Vì vậy, sự phân biệt giữa ý thức và vô thức trong thẩm mỹ mang tính tương đối.

Suy xét kỹ hơn nữa, trong mỗi thể loại kỹ thuật đều có nghệ thuật, hãy cho rằng tinh túy của kỹ thuật là nghệ thuật. Đồng thời, trong mỗi nghệ thuật đều có kỹ thuật, hãy cho rằng khi thực hành, phần trật tự và tổ chức trong nghệ thuật là kỹ thuật. 

Nghĩa là, áp dụng thuật, tả, thoại như những kỹ thuật phải tận sức tu tập cho thuần thục để tự những kỹ thuật đó nhập vào vô thức và nhả ra nghệ thuật. Ba kỹ thuật này liên hệ hổ tương với thấy, thấu, và thú.

Thấy. Bằng cách diễn đạt qua thuật, tả, thoại, ngôn ngữ phải tạo ra hình ảnh, bối cảnh, hoạt cảnh cho người đọc thấy được, không phải chỉ “nghe” kể. Những cái thấy này bắt đầu từ trong trí tưởng của người viết, thể hiện qua ngữ cảnh, ngữ nghĩa, qua kỹ thuật sáng tác tạo thành những văn cảnh, văn ảnh linh hoạt tiếp diễn nhau theo cấu trúc để hoàn thành văn bản. Người đọc sẽ tiếp nhận những thứ thấy này để rồi họ tạo ra những thứ thấy khác, có thể tương tựa, có thể khác biệt. Và mỗi người đọc có thể thấy văn cảnh khác nhau.

“Thấy được” là điểm nhấn. Trong sáng tác, người ta có câu nói: “Show, Don’t Tell.” Nghĩa là thể hiện ra, đừng kể lể. Show không chỉ liên quan mật thiết với mô tả, mà tường thuật, tường trình cho “thấy được” cũng là show. Những nhà văn nhà thơ chưa lão luyện thường dùng lời kể vì dễ dàng trưng bày cảm xúc, hoặc giải thích, lý luận. Thể hiện cảm xúc, cảm giác, ý nghĩ, luận lý bằng hình ảnh và bối cảnh sinh hoạt, dĩ nhiên, khó hơn, đòi hỏi kinh nghiệm và bản lãnh.

Bắt đầu thế kỷ 20, một phong trào thi ca nổi lên gây nhiều ấn tượng mặc dù chỉ tồn tại ngắn ngủi, đó là chủ nghĩa Hình Tượng, Imagism. Điều đặc biệt về chủ nghĩa hình tượng là khả năng làm cho mọi thứ trở nên rất rõ ràng và vẽ nên những bức tranh cụ thể, không tuân theo cách viết truyền thống. Thi sĩ Ezra Pound, một trong số nhà sáng lập, cho rằng, “chi tiết sáng", phương pháp tượng hình là đặt cạnh nhau các trường hợp cụ thể để thể hiện sự trừu tượng tương tự như cách tổng hợp nhiều góc nhìn thành một hình ảnh duy nhất của trường phái Lập thể. Phong trào Imagism mau chóng tàn rụi nhưng tinh túy và giá trị “cô lập hình tượng” để nổi bật đối tượng, vẫn luôn là kỹ thuật thường dụng ngày nay.

“Thấy được” là tinh thần của Imagism. Dùng ngôn ngữ “vẽ” nên bối cảnh câu chuyện và dùng ngôn ngữ “đóng” thành cuốn phim.

Thấu. Nếu một ý tưởng sâu sắc có thể trở thành câu danh ngôn truyền tụng nhiều thế hệ, thì tư tưởng hay và đẹp sẽ làm cho tác phẩm có khả năng trường thọ.   

Tư tưởng cao kỳ đó từ tác giả truyền đi, (nói một cách khác, có cưu mang trọng lượng sâu sắc, thì tác phẩm mới thành danh,) và độc giả chia xẻ quan điểm, thông điệp, ý tưởng, cảm xúc của tác giả. Tuy nhiên, khi tư tưởng ở một mức độ cao siêu, thường khó diễn đạt cho dễ hiểu. Rất nhiều trường hợp tác phẩm cưu mang tư tưởng cao kỳ sẽ trở thành sách kén chọn độc giả.

Chữ “thấu” ở đây vừa nhắm vào trọng lượng của tư tưởng, vừa nhắm vào cách: làm thế nào để tác giả diễn đạt và độc giả chia sẻ những khía cạnh khó khăn của tư tưởng trong tác phẩm? Ví dụ như cuốn sách về khoa học vũ trụ cao cấp của Stephen Hawking, “Brief Answers To The Big Question” mà ông đã diễn đạt trong cấp độ phổ thông cho nhiều trình độ khác nhau có thể nắm bắt.

Thấu ở cấp bậc thấp là giải thích, dùng lời lẽ để làm sáng tỏ ý tưởng. Thấu nằm trong nghệ thuật diễn đại là gợi ý, tượng trưng, ẩn dụ, hoặc “bằng cách nào” khiến người đọc thẩm thấu được ý tưởng hay như bừng thức. Hiện nay, khoa tâm lý sáng tạo đang trình bày về nghiên cứu “siêu nhận thức”, một khả năng lớn tiềm ẩn trong con người, cần khai thác. Với khả năng này con người có thể nhận thấy, bừng thấy nhiều ý nghĩa, giá trị đàng sau những đối tượng bình thường.  

Điểm nhấn là những suy nghĩ sâu đậm được trình bày dễ hiểu là nghệ thuật diễn đạt khả năng thấu, trong khi những tác phẩm rối mù bởi nhiều ý tưởng cố tình tạo ra cao kỳ khó hiểu, không thuộc về thấu, vì những tác phẩm đó trọng về trò chơi chữ và ý thay vì sâu sắc và giá trị.

Thú.   

Chúng ta bắt đầu bằng “thú vui”. Viết là thú vui. Đọc là thú vui. Thú vui này trước hết là cấp bậc giải trí. Tất cả văn bản văn chương đều mang tính giải trí, ít hay nhiều, hoặc giải trí ở những phương diện khác nhau. Đọc điều gì khôi hài, bật cười, là giải trí theo kiểu thả lỏng tâm tình. Đọc điều gì mở mang hiểu biết, gật gù, là giải trí theo kiểu trí tuệ hài lòng. Đọc điều gì bật thức, ngẩn người dưới ánh sáng, là giải trí kiểu xán lạn. Vì vậy, viết là thú vui cho bản thân để tạo ra thú vui cho người đọc vui tình, vui trí, vui tâm thức. Có thể nói, tất cả kỹ thuật và nghệ thuật sáng tác căn bản và đầu tiên là xây dựng trên nền móng “thú vui”.

Thú vui bắt đầu bằng “cảm giác thích thú”. Sau tầng lớp cảm giác thích thú là “trí tuệ thích thú.” Bằng tất cả sáu nhận thức: thuật, tả, thoại, thoát, thấy, thấu, người viết phải đưa vào, hướng đến, thực hiện cái vui. Có những người đọc muốn tâm tư thích thú, một số khác muốn trí tuệ thích thú. Một tác phẩm hay và cân lượng thăng bằng bao gồm cả hai loại thích thú.

Càng thích thú người đọc càng tập trung theo dõi nội dung văn bản. Càng theo dõi càng gặp điều thích thú, càng gắn bó sâu đậm, càng lãnh hội nội dung, tác giả và tác phẩm đó thành công. Mức đo lường gọi là thú vị.

Không có thú vị, không ai có thể đọc quá một hai trang sách, ngoài trừ các nhà nghiên cứu đã quen với nhàm chán, khô khan.

Nghệ thuật tạo ra thú vị bao trùm tất cả các kỹ thuật, nghệ thuật khác, kể cả tư tưởng siêu quần. Bất kỳ tác phẩm nào thiếu cái vị “thú” này, không thể thành công. Đã không thành công trong dạng đa số lại khó thành công trong dạng thiểu số.

Thú đồng cảm.

Nhận thức, cảm nhận, chia sẻ cao nhất trong trạng thái và tác dụng của cái thú là sự đồng cảm. Vì có chung hoặc có trải nghiệm tương tựa, vì có hoàng cảnh sống giống nhau, vì có trình độ tri thức ngang ngửa, vì có cá tính cùng một kiểu mẫu, vân vân, độc giả nảy sinh lòng đồng cảm với những gì tác giả trình bày. Sự đồng cảm càng sâu sắc, càng mạnh mẽ, càng rộng lớn thì sự thành công của tác phẩm càng mỹ mãn. Trên con đường sáng tác, người viết tận dụng khả năng, kinh nghiệm, kiến thức, học thuật để diễn đạt câu truyện một cách đồng cảm, bất kỳ dùng phương tiện hoặc học thuật nào. Mặc dù, đồng cảm là khả năng riêng tư và riêng biệt của mỗi người, tìm đạt được sự đồng cảm của số đông trong nhóm độc giả chọn lọc là mục tiêu của tác giả.

Đồng cảm trí tuệ là thích thú chia sẻ ý nghĩa và giá trị một ý tưởng; trong khi đồng cảm tâm tình là thích thú chia sẻ cảm nhận, cảm giác, hoặc cảm xúc, cả hai đều nằm trong lãnh vực thẩm mỹ.

Vì khả năng đồng cảm là khả năng cá nhân và khác biệt, khó ai giống ai, vì vậy, kỹ thuật để tạo ra hiệu ứng thích thú chia sẻ tâm trí cho người đọc là nghệ thuật gợi ý. Tác giả có thể có mục tiêu nhất định, có thông điệp xác định, nhưng chỉ gợi ý, không nhất thiết phải giải thích, giải quyết, và kết quả là một số độc giả có thể chia sẻ thích thú qua nhiều diện, nhiều quan điểm, nhiều tâm sự, nhiều cấp bậc, nhiều giá trị khác nhau. 

Nhận thức Bảy T là nghệ thuật gợi ý và ngấm ngầm đưa độc giả đến một lúc bị thuyết phục.

Thuyết phục.

Không hoàn toàn giống như lời lẽ của luật sư thuyết phục bồi thẩm đoàn. Càng không giống khả năng hùng biện của tri thức. Thuyết phục trong chiều hướng văn chương là khả năng diễn đạt qua chữ nghĩa khiến độc giả phải lòng, hài lòng, hoặc đồng ý; trong một số trường hợp, sự bất đồng ý kiến của độc giả là phương pháp nghịch đảo mà tác giả cố ý gây sự sống động, linh hoạt, với mục đích dự định.

Lời lẽ, câu văn mang tính thuyết phục có muôn hình vạn dạng, tuỳ vào mỗi thể loại văn bản đang sáng tác. Ví dụ, sáng tác về tâm lý xã hội sẽ sử dụng ý tưởng và văn vẻ ngiêng về tâm tình, trong khi sáng tác về khoa học viễn tưởng, sự diễn đạt thuyết phục bắt đầu từ trí tưởng tượng và kiến thức về khoa học.

Phong cách thuyết phục mạnh bạo thường gây hiệu ứng sôi động ngay tức thì, tạo không khí linh hoạt. Trong khi lề lối thuyết phục nhẹ nhàng, sâu sắc thường lai vãng trong tâm trí người đọc qua năm này tháng nọ. Bất kỳ văn bản thuộc loại gì, nếu nó không thuyết phục được người viết, thì sẽ lơ là với người đọc. Vừa kéo vừa thả, vừa khoan vừa hò, cân nhắc hiệu quả thuyết phục là một trong nghệ thuật phải có và cần thâm niên trong sáng tác .

Kết hợp kỹ thuật-nghệ thuật Bảy T.

Kết hợp là từ ngữ dễ hiểu, tuy vậy, trong nghệ thuật, kết hợp được thực hành trong một số cách thức: Kết hợp như trộn lẫn hạt sen, táo tàu, nhản nhục, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh, rau câu, vân vân, thành ly chè sâm bổ lượng. Kết hợp như dùng trái cây năm loại khác nhau xay lại thành nước uống. Kết hợp hóa chất thành hợp chất. Kết hợp như pha sơn màu để vẽ. Kết hợp ở mức độ cao nhất là không còn có thể phân biệt những thành phần trước đó, giờ đây là một thứ gì khác.

Nhận thức bảy T trong một văn bản văn học phải tiến tới độ thuần nhuyễn thì mới có hy vọng đạt được tác phẩm hay. Kinh nghiệm cho thấy, khi sử dụng bất kỳ một T nào đều không nhất thiết phải luôn canh giữ vai trò và hiệu quả của nó. Những ranh giới giữa chúng đều có thể xóa mờ và chồng lấn lên nhau. Ví dụ, có thể dùng mô tả bằng đối thoại; dùng độc thoại để tường trình, dùng tường trình tóm gọn như một cách thoát.

Có những nhà văn lão thành chịu hy sinh cái thấu để đổi lấy cái thú. Nhưng “thú” không làm cho tác phẩm có giá trị và sống lâu. Sự chọn lựa giữa các nhận thức là cá tính, kinh nghiệm và phẩm chất của mỗi người viết. Tôi vẫn quan niệm, đến một cấp độ nào đó, gặp người thì biết văn. Gặp văn thì biết người. Nếu văn thơ và tác giả dị biệt nhau, người nghệ sĩ này sẽ không bao giờ lớn đủ để có tác phẩm giá trị cao.
             
Ngu Yên

(Còn tiếp, Nghệ Thuật Sáng tác Bốn Đ.)

Hiểu và làm là hai việc liên hệ như kỹ sư thiết kế súng và anh lính sử dụng súng ngoài chiến trận. Kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy, gom góp những gì tôi tìm hiểu và hiểu được đưa vào thực hành chỉ có thể đạt một phần tư là nhiều. Đây là sự giới hạn của tài năng cá nhân. Nhưng tôi tin rằng, có nhiều văn tài khác, nhất là những thế hệ trẻ, họ sẽ thành công những gì chúng tôi thất bại. Cảm thấy niềm tin của mình đúng đắn, khi viết dòng chữ này, lòng tôi ấm áp khi nghĩ đến họ.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.