Hôm nay,  

Tiếng nói như là kết nối giữa hiện tại với quá khứ

30/08/202510:44:00(Xem: 1951)
TD dong son

1. Bối cảnh cuộc di dân vĩ đại của loài người
 

S

au nhiều nghiên cứu trong các ngành Khảo cổ học, Nhân chủng học, Di truyền học, ngày nay chúng ta biết là tất cả con người trên mặt đất, mọi màu da sắc tộc, đều là di duệ của giống người Homo sapiens, sau nhiều triệu năm từ loài khỉ, loài vượn tiến hóa mà thành. Giống Homo sapiens xuất hiện ở châu Phi cách nay khoảng 200.000-300.000 năm. Họ bắt đầu từng nhóm di cư ra khỏi châu Phi cách nay vào khoảng 60.000-70.000 năm, có thể là qua eo biển Bab el-Mandeb ở Sừng châu Phi hoặc bán đảo Sinai. Làn sóng này sau nhiều chục nghìn năm đã định cư ở phần còn lại của thế giới và là tổ tiên của tất cả con người hiện đại không phải người châu Phi. Dần dà họ vào Trung Đông và Nam Á. Họ lai giống với người Neanderthal ở Trung Đông và với người Denisova ở châu Á. (Cả hai giống người Neanderthal và Denisova đều đã tuyệt chủng từ lâu). Cách nay khoảng 50.000-45.000 năm họ đến Đông Nam Á và Úc. Người Úc bản địa (aboriginal) là di duệ trực tiếp của những di dân đầu tiên này. Cũng vào khoảng thời gian này họ vào châu Âu và thế chỗ hoặc lai giống với người Neanderthal. Khoảng 40.000-30.000 năm cách nay, họ vào Siberia và Đông Á. Có người ở Bắc Á và Siberia, có người mở rộng sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đến 20.000-15.000 năm cách nay, họ vào châu Mỹ qua con đường từ Siberia men theo dải băng Bering (ngày nay là eo biển Bering) trong thời kỳ Băng hà cuối cùng. Họ có mặt ở châu Mỹ, từ bắc chí nam, vào khoảng 13.000 năm cách nay. Họ tỏa ra đại dương vào Châu Đại Dương xa xôi và quần đảo Thái Bình Dương cách nay khoảng từ 3.500 đến 1.000 năm. Tộc Polynesian đến Hawaii, đảo Easter và New Zealand gần đây nhất, vào khoảng 1.000 năm cách nay.
    Vào khoảng 10.000 năm cách nay, trong thời kỳ Đồ Đá Mới/ Neolithic, con người bắt đầu phát minh ra nông nghiệp. Quá trình chuyển đổi này có thể bắt đầu ở một số nơi trên thế giới một cách độc lập, không ai dạy ai, bao gồm: Trung Đông (ngày nay là Iraq, Syria, Israel và các khu vực xung quanh) vào khoảng năm 9.500-8.500 trước, với các loại cây trồng như lúa mì, lúa mạch và các loại đậu; Trung Quốc, trồng lúa và kê vào khoảng 8.000-7.000 năm trước; Trung Mỹ, ngô, đậu và bí vào khoảng 7.000-5.000 năm trước. Vùng Andes/Amazon, châu Phi cận Sahara, và New Guinea cũng chứng kiến ​​sự phát triển độc lập của nông nghiệp.
    Nông  nghiệp có ý nghĩa gì?  Nó  quan trọng như thế nào, và ảnh hưởng của nó ra sao đối với biến trình tiến hóa của văn minh con người? Sự khởi đầu của nông nghiệp đánh dấu một trong những thay đổi sâu xa nhất trong lịch sử loài người và biểu thị một số thay đổi quan trọng. Nó chuyển đổi từ cuộc sống du mục sang định cư. Trước khi có nông nghiệp, con người sống nhờ săn bắt hái lượm, thường xuyên di chuyển để tìm kiếm thức ăn. Nông nghiệp cho phép người ta định cư tại một nơi, dẫn đến sự phát triển của làng xã và cuối cùng là đô thị như ngày nay. Nguồn cung cấp thực phẩm ổn định hỗ trợ dân số lớn hơn. Có nhiều thực phẩm hơn khiến dân số gia tăng đáng kể. Sự phát triển của các xã hội theo đó trở nên phức tạp: Thực phẩm dư thừa cho phép chuyên môn hóa lao động dẫn đến chế độ nô lệ và tiền tư bản, hệ thống phân cấp xã hội, thương mại và sự thành lập của các đơn vị nhà nước. Những tiến bộ về văn hóa và công nghệ cũng theo đó phát triển. Chữ viết, toán học và kiến ​​trúc đồ sộ thường theo sau nông nghiệp. Các khu định cư lâu dài cho phép tích lũy kiến ​​thức và văn hóa.
    Tóm lại, sự ra đời của nông nghiệp cách nay khoảng 10.000 năm đánh dấu sự khởi đầu của nền văn minh như chúng ta biết, làm thay đổi sâu rộng mối quan hệ giữa con người với môi trường, với nhau và với chính thời gian.
 
2. Con người có mặt tại Đông Nam Á từ bao giờ?
 
Căn cứ vào niên biểu trên thì con người đã có mặt ở Đông Nam Á (Miến Điện, Thái Lan, Kampuchia, Lào, Việt Nam) từ 50.000 đến 45.000 năm cách nay, có nghĩa là từ 10.000 đến 15.000 năm trước khi có những nhóm di dân khác tràn vào miền đất ngày nay là Trung Quốc. Đây là điểm rất đáng chú ý cho chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam.
    Người Lạc (vẫn được xem là tổ tiên của 100 triệu dân Việt Nam ngày nay) là giống dân đã có mặt tại đất Bắc Bộ từ nhiều nghìn năm trước hay là người từ nơi khác di cư đến? Câu hỏi này đã được nhiều người tìm kiếm câu trả lời, nhất là trong giới học thuật người Pháp vào đầu thế kỷ XX. Ông Leonard Aurousseau dựa vào một số thư tịch cổ của Trung Hoa cho rằng sau khi nước Việt (của Câu Tiễn) bị nước Sở diệt cuối thời Xuân Thu thì người Việt phải lưu vong xuống miền Giang Nam ở rải rác thành các các nhóm Bách Việt, mà Lạc Việt là một thành phần dân tộc như vậy. Một học giả khác, ông Claudius Madrolle, cho rằng người Lạc là người Mân Việt (vào quãng tỉnh Phúc Kiến ngày nay) do đi thuyền chở hàng hóa xuống buôn bán ở xứ Lê Động (Hải Nam) rồi không trở về quê cũ mà lập nghiệp ở vùng đất mới, lâu ngày thành dân Lạc.
    Ức thuyết của hai học giả người Pháp nói trên phần nhiều đã bị bác bỏ. Có nhiều giả thuyết khác nữa, nhưng không giả thuyết nào dựa vào chứng cứ mà chỉ là những phiếm đoán mơ hồ, thậm chí hàm hồ, dựa trên những thư tịch cổ xưa không chính xác vì chính những thư tịch đó là do người đời sau viết lại theo những nhận định chủ quan, thiên kiến.
    Khác với quan điểm thông thường cho rằng người Việt cổ đại là từ phương bắc di dân xuống miền nam, với thuyết “Out of Africa” và những nghiên cứu, khảo sát mới nhất, con người đã có mặt ở vùng Đông Nam Á cách ngày nay khoảng từ 50.000 đến 45.000 năm. Những khai quật gần đây nhất cho biết là suốt thời kỳ Đá Cũ, tại vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, đã xuất hiện nhiều bộ lạc sống bằng săn bắt, hái lượm. Họ cư trú trong hang động, mái đá ngoài trời, ven sông suối, trên một địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Các di tích của các bộ lạc hoang sơ này được các nhà khảo cổ học gọi chung là Văn hóa Sơn Vi.
    Bước sang thời kỳ Đá Mới, do kỹ thuật chế tác đồ đá cải tiến, văn hóa Sơn Vi nhường chỗ cho văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn. Họ mở rộng địa bàn cư trú rải rác suốt Bắc Bộ và bắc Trung Bộ ngày nay.
    Cách nay khoảng 6.000 đến 5.000 năm, tức là vào hậu kỳ Đá Mới, phần lớn các bộ lạc này đã bước vào giai đoạn nông nghiệp trồng lúa. Theo nhận định của khoa Nhân chủng học thì việc phát minh ra nông nghiệp trên thế giới là tự phát, không ai học ai. Con người lúc đó đã có ít nhiều nhận thức về môi trường xung quanh, và trí khôn họ đủ cho họ tự mày mò tìm kiếm những phương pháp làm ra thực phẩm ngoài việc bắt cá dưới nước hoặc săn bắt, hái nhặt trên cạn. Sự thật là phải mất đến bốn, năm nghìn năm dân Lạc mới hoàn thiện phương pháp canh tác. Và phương pháp của họ không giống các nơi khác, nó là phương pháp mà cho đến đầu thế kỷ XX các dân tộc thiểu số ở Bắc Việt Nam còn dùng.
    Người Trung nguyên đầu tiên vào đất Lạc đã tỏ ra khá kinh ngạc về lối canh tác này của người dân. Thư tịch cổ của Trung Hoa như sách Quảng Châu Ký chép rằng đất Giao Chỉ có ruộng, theo nước thủy triều lên xuống mà làm. Có lẽ họ tháo nước vào ruộng cho cỏ bị ngâm lũn đi, rồi lại tát nước ra cho cạn và cuốc hay cày lên để trồng lúa. Lối trồng trọt như thế, sử sách Trung Hoa gọi là hỏa canh (cày bằng lửa), thủy nậu (bừa bằng nước).  Canh nông thường đi đôi với mục súc, có nhiều chứng cứ  người  Lạc  đã  nuôi  gia  súc như chó, mèo, trâu, bò, dê, lợn, gà.
    Nói chung, lúc An Dương Vương Thục Phán đem quân xâm lăng đất Lạc thì dân Lạc đã có một nền kinh tế nông nghiệp khá vững vàng, có nghĩa là, đã có một xã hội quy củ, nền nếp. Sử cũ ta gọi đó là nước Văn Lang với họ Hồng Bàng mười tám đời Hùng Vương cùng các sự tích Lạc Long Quân-Âu Cơ, Thánh Gióng, Sơn Tinh-Thủy Tinh, vv. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết hoang đường, phần nhiều do người đời sau dựa trên sự tích truyền khẩu rồi thêu dệt thêm ra, khó có thể xem là lịch sử, hoặc dễ dãi hơn, gọi là huyền sử là cùng. Ngay cả cái tên Văn Lang cũng chưa chắc có thật. Có người bảo đó là nước Dạ Lang do đọc sai mà thành Văn Lang. Có người bảo Văn Lang là “người vẽ/xăm mình” vì thấy dân bắt cá dưới nước ở đó có tục “cạo tóc xăm mình”. Tất cả chỉ là ức thuyết, không có gì là xác thực.
    Tuy nhiên ta có thể hình dung ra được một tổ chức xã hội của cái vùng đất vào thuở hồng hoang đó. Khoa học Nhân chủng cho ta biết trong thời kỳ mông muội và dã man, nhất là sau khi chế độ nông nghiệp đã thành hình và phát triển vững chắc, thì thị tộc là cơ sở, là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội. Có ba hình thái tổ chức xã hội dựa trên cơ sở thị tộc, đó là bào tộc, bộ lạc và bộ lạc liên hiệp. Mỗi bào tộc bao gồm một số thị tộc cùng huyết thống, mỗi bộ lạc lại bao gồm một số bào tộc cùng huyết thống. Và sau cùng là bộ lạc liên hiệp do nhiều bộ lạc liên minh lại với nhau bởi nhu cầu cộng sinh cộng hưởng hoặc vấn đề phòng vệ an ninh. Cái “nước” gọi là Văn Lang ấy có lẽ chỉ là một bộ lạc liên hiệp.
 
3. “Lạc” hay “Hùng”
 
Kỳ thực, vì lúc đó người Việt cổ đại chưa có văn tự nên chúng ta không biết tên gọi “nước” ấy, “dân tộc” ấy là gì. Chữ “Lạc” là do sách sử Trung Hoa đầu tiên viết xuống, và cái giả thuyết về chữ “Lạc” là chuyện khá khôi hài. Có người ở thời hiện đại đưa ra giả thuyết sau: Khi người Trung nguyên đầu tiên vào Bắc Bộ, họ gặp người dân làm ruộng nước ở đấy, và khi biết những người dân này gọi “nước” là “rạc”, họ bèn gọi thứ ruộng ấy là “rạc điền”, tức là “ruộng nước”, nhưng vì âm giọng của họ không có âm “r”, tất cả đều được phát âm thành “l”, nên “Rạc điền” biến thành “Lạc điền” và sau đó họ gọi vua quan trong nước là Lạc Vương, Lạc Tướng, Lạc Hầu, vv, như ta thấy đầy dẫy trong sách vở. Cách giải thích từ “r” biến thành “l” này làm chuyện tiếu lâm mua vui trên bàn nhậu thì được, chứ khó thuyết phục được ai.
    Một cách nghiêm túc, hàn lâm hơn, Giáo sư Trần Huy Bích giải thích với tôi như sau:
    “Theo Thủy Kinh Chú, dẫn Giao Châu Ngoại Vực Ký: ‘Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện (một cách nói ám chỉ đất ấy chưa thuộc quyền cai trị của triều đình Trung nguyên), đất đai có ruộng lạc (土地有雒田 = thổ địa hữu lạc điền).’ Chữ lạc này tiếng Hoa phát âm là luó, rất giống âm lúa trong tiếng Việt. Người Trung nguyên thấy ruộng trồng lúa, hỏi người địa phương, ‘Đây là ruộng gì?’ Sau khi được trả lời là ‘ruộng lúa’ người Trung nguyên bèn ghi là 雒  田 và đọc là luó tián (ruộng trồng luó), đúng với điều nghe được. (Khi chúng ta đọc thành lạc điền theo âm Hán-Việt, chúng ta đã làm sai âm thanh phần nào). Từ chữ lạc điền, tác giả Giao Châu Ngoại Vực Ký đặt thêm những tiếng Lạc dân 雒 民 (dân ăn lúa), rồi Lạc Vương 雒 王, Lạc Hầu 雒 侯, Lạc Tướng 雒 將. Tất cả đều từ chữ lúa (luó) mà ra.
    Các sách cổ của Trung nguyên không thống nhất cách viết chữ luó để chỉ lúaQuảng Châu Ký viết là  交趾有田  (Giao Chỉ hữu lạc điền). Tuy cùng phát âm là luó, hai chữ  雒 và   là những chữ khác nhau. Điều ấy không ngăn được sự kiện tác giả Quảng Châu Ký gọi người Việt cổ là Lạc nhân, rồi từ đó có Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng. Những tiếng ấy đều do các tác giả Trung nguyên đặt cho những người sống trên đất Việt cổ. Về sau, có thể có học giả Trung Hoa nhận ra những chỗ dị biệt ấy nhưng không thể sửa lại sách xưa.”
    Ngoài ra, còn có nhiều ức thuyết khác nhằm giải thích sự xuất hiện của chữ “Lạc”, kể cả thuyết cho rằng vật tổ tô-tem của người Lạc cổ đại là giống chim lạc, có thấy trên mặt trống đồng. Nhưng chim lạc là giống chim gì, tại sao lại là vật tổ tô-tem của một giống dân, thì không ai nêu rõ, hơn nữa, tôi thấy hình vẽ con chim gọi-là “lạc” ấy trên mặt trống đồng trông giống con cò nhiều hơn, một giống chim có rất nhiều tại các vùng sông nước Bắc Việt Nam. Nếu bảo cò là vật tổ của dân Lạc thì có lẽ tôi tin hơn, vì nó luôn xuất hiện trong cuộc sống hằng ngày của người dân, trước kia cũng như bây giờ.
    Thế rồi từ “Lạc Vương” chẳng hiểu vì sao một hôm bỗng biến thành “Hùng Vương”! Và cũng được giải thích là chữ “Lạc” và chữ “Hùng” viết khá giống nhau nên bị nhầm! Trời ạ! Các cụ thầy đồ và các quan ngự sử dài lưng tốn vải suốt ngày ngồi rung đùi ngâm thơ đọc sách thánh hiền mà lại để sai như thế được chăng? Tôi tự hỏi. Đây là quốc hiệu chứ có phải chuyện tiếu lâm tầm phào đâu, mà các cụ có thể tắc trách như vậy được! Thật là cái mớ bòng bong! Chẳng biết đâu mà lần.
    Xin lỗi quý bạn đọc vì cái tật hay bỡn cợt của tôi. Để trở lại không khí nghiêm túc, tôi lại cầu cứu đến Giáo sư Trần Huy Bích, và được Giáo sư cho biết như sau:
    “Cựu Đường Thư, soạn trong đời Hậu Tấn, năm 945 DL, dẫn sách Nam Việt Chí, nói rằng: ‘Đất Giao Chỉ xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương 交 趾 之 地 […] 舊 有 君 長 曰 雄 王 (Giao Chỉ chi địa […] cựu hữu quân trưởng viết Hùng Vương.)’ Tới đây Lạc Vương đã bị đổi thành Hùng Vương, vì chữ Hùng này  viết khá giống chữ Lạc 雒 trong Giao Châu Ngoại Vực Ký.”
    Giáo sư Trần cũng cho biết thêm: “Hậu Tấn là một triều đại rất ngắn trong lịch sử Trung Hoa, chỉ được 2 triều vua, cai trị trong 11 năm, từ 936 đến 946 DL. Triều đại này nằm trong giai đoạn Thập Quốc Ngũ Đại, môt giai đoạn hỗn loạn sau khi nhà Đường sụp đổ. Khi ấy Trung Hoa chia thành 10 nước nhỏ, ở phương Bắc có 5 nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh giành nhau. Cựu Đường Thư soạn năm 945 DL là năm áp chót của nhà Hậu Tấn. Lúc ấy ngoài tác giả có lẽ không ai khác quan tâm đến chuyện vị vua thời cổ của đất Giao Chỉ nên được viết là 雒 王 (Lạc Vương) hay  王 (Hùng Vương.) Khi soạn Cựu Đường Thư và gọi các vị vua đầu của đất Giao Chỉ là 雄 王 (Hùng Vương) thay vì 雒 王 (Lạc Vương) như trong Giao Châu Ngoại Vực Ký, các tác giả của Cựu Đường Thư đã dựa theo cuốn 南 越 誌 (Nam Việt Chí) của Thẩm Hoài Viễn đời Lưu Tống [420-479 DL].”
    Vậy người Trung Hoa đầu tiên dùng danh hiệu Hùng Vương để chỉ các vua đầu của đất Việt cổ là Thẩm Hoài Viễn, sống vào thế kỷ V. Lúc ấy Giao Châu còn đang bị đô hộ.
    Theo một nhà sử học danh tiếng khác cũng trong thời hiện đại là giáo sư Trần Quốc Vượng thì chữ “Hùng” là phiên âm của chữ “Khun”, có lẽ đọc là “Khờ-hun”, một từ cổ trong ngữ hệ Nam-Á, có nghĩa là tù trưởng, thủ lĩnh.
    Nói chung, sau hai, ba nghìn năm, ta vẫn lúng túng về danh xưng của dân tộc trong thời cổ đại, và có lẽ chẳng bao giờ có câu trả lời thỏa đáng. Cụm từ Lạc-Việt là do người Trung nguyên đặt cho ta, và chúng ta đành ôm lấy nó mà chẳng có chọn lựa nào khác. Trong bài viết này, tôi sử dụng từ “Lạc” để ám chỉ dân tộc ấy. Gọi thế là khiên cưỡng chỉ vì không có cách gọi nào khác cho chính xác hơn.
    Trở lại thắc mắc “Lạc” hay “Hùng”? Cái nào đúng hơn? Tôi nghĩ tùy bạn thôi. Cả hai đều đúng, và cả hai đều không đúng, cả hai đều do người phương bắc đặt cho ta. Dân gian thì thích chữ “Hùng” hơn vì nghe nó có vẻ… hùng dũng; và hằng năm tôi vẫn được nhắc nhở đi dự lễ Quốc tổ Hùng Vương có các thiếu nữ xinh như mộng mặc áo dài kim tuyến lóng lánh, đội vương miện à-la-mode-Nam-Phương-Hoàng-hậu ca múa lả lướt trên sân khấu nhìn đã mắt, hòa quyện với tiếng nhạc Cha-cha-cha và Bolero nghe đã tai, sau đó được ăn chả giò và mì xào tôm thịt ngon đã miệng.
 
4. “Việt” hay “không-Việt”?
 
Một điều chắc chắn, vào cái thuở hoang sơ ấy người dân không tự gọi mình là “người Việt”. Chữ “Việt” thoạt kỳ thủy là do người Trung nguyên phương bắc đặt ra để gọi một cách tùy tiện và phiếm chỉ tất cả các dân tộc sinh sống ở phía nam sông Dương Tử hoặc từ rặng Ngũ Lĩnh trở xuống, tức là các miền Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Bộ nước ta ngày nay, bất luận các dân tộc ấy có cùng một nguồn gốc hoặc huyết thống hay không. Nó chỉ xuất hiện từ thời Xuân Thu, vì trước đó, vào thời nhà Hạ, nhà Thương, họ gọi các giống dân này là Man. Man hay Việt là một và chỉ là cái tên gộp chung một cách rất mơ hồ, phiếm định, cũng như họ gọi các dân tộc tiếp giáp với họ ở miền Tây Bắc, vùng thảo nguyên Trung Á, là Hồ; hoặc các dân tộc khác ở lưu vực sông Hoài, phía nam sông Hoàng Hà, là Di.
    Vì nhận định sai lầm nên các sử gia của ta hễ thấy chữ “Việt” là nhận ngay đó là nguồn gốc, tổ tiên dân tộc Việt Nam, thí dụ như trường hợp nước Việt Thường. Các sử gia ta thấy tên Việt Thường trong sách xưa thì cho rằng đó là quốc tổ của giống Bách Việt, và chép truyện Việt Thường hiến trĩ trắng cho vua nhà Chu vào sử. Cố học giả lỗi lạc Đào Duy Anh phản bác luận điểm này; ông cho rằng Việt Thường là một nước chư hầu nhỏ của nhà Chu, nằm khoảng giữa hai nước lớn là Sở và Việt (Câu Tiễn), chứ không phải tiền thân của Lạc Việt hay Lâm Ấp (Chiêm Thành) như nhiều người nhận định sai. Người Việt Thường, cũng như người Việt (Câu Tiễn), do đó, là người Trung nguyên, hoặc đã bị đồng hóa với Trung nguyên từ lâu, chứ không phải tổ tiên chúng ta. Từ rất sớm trong lịch sử, các nước như Sở, Ngô, Việt, và hàng chục các chư hầu nhỏ hơn ở Hoa Nam và Tây Vực đã bị hút sâu vào quỹ đạo văn hóa Trung nguyên. Người Trung nguyên sớm phát minh ra văn tự và vì chiến tranh liên miên nên văn minh và văn hóa họ phát triển rực rỡ. Khi các vua Võ Vương, Văn Vương sáng lập nhà Chu vào khoảng thế kỷ XII TCN, Trung nguyên đã là một đế quốc phong kiến rộng lớn hùng mạnh, văn minh cao độ, học thuật phát triển, và chẳng có gì lạ nếu các dân tộc nhỏ yếu hơn xung quanh lần lượt quy phục họ, sẵn sàng để họ đồng hóa.
    Chữ “Việt” xuất hiện nhiều từ khi Câu Tiễn nổi lên xưng bá ở vùng Chiết Giang. Theo các thư tịch Trung Hoa cổ thì tổ tiên Câu Tiễn vốn họ Mi, gốc người nước Sở; nói cách khác, họ là người Trung nguyên, sinh sống trong một nước chư hầu của nhà Chu, chẳng dính dáng gì đến đám dân lúc đó đang sống ở vùng Bắc Bộ. Có thể trong đám con cháu của Câu Tiễn, sau khi nước Việt của ông ta bị nước Sở diệt, có kẻ bồng bế kéo nhau sang Bắc Bộ tị nạn, theo thuyết của ông Aurousseau. Hoặc người Mân Việt, thuộc tỉnh Phúc Kiến ngày nay, trong suốt mấy trăm năm có những đợt di cư tìm đất sống mới, trôi giạt vào cửa bể Quảng Ninh, Hải Phòng, vv, và trở thành cư dân vĩnh viễn, theo thuyết của ông Madrolle. Nhưng không hề có chứng cứ gì cho thấy họ là người xây dựng nên cái-gọi-là nước Lạc Việt. Họ là dân Trung nguyên hoặc liên hệ xa gần với người Trung nguyên, đến sinh sống trên vùng đất mà sau này được gọi là Lạc Việt. Đóng góp của họ vào Lạc Việt chỉ xoay quanh các cải thiện kinh tế nhằm nâng cao mức sống và du nhập văn hóa, kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật đúc trống đồng của người Mân Việt.
 
5. Tiếng nói định đoạt cho bản sắc dân tộc
 
Con  người  cổ đại  không  ngừng  mạo hiểm đi tìm đất sống, như chúng ta ngày nay được biết qua các khám phá mới trong các ngành Khảo cổ và Nhân chủng. Vì vậy, chẳng có gì thái quá nếu ta nhận định rằng vùng Bắc Bộ lúc đó là mảnh đất thu hút nhiều giống dân nhập cư từ nhiều nơi khác đổ về do khí hậu ấm áp, nhiều sông ngòi, đất đai phù sa màu mỡ, lắm bảo vật quý hiếm như ngà voi, sừng tê, châu báu, vv. Theo số liệu của Hán ThưHậu Hán Thư mà giáo sư Lê Mạnh Hùng liệt kê trong bộ sử Nhìn lại Sử Việt của ông, thì vào năm 2 DL (thời Hán thuộc), quận Giao Chỉ có 746.237 nhân khẩu, trong khi quận Nam Hải (tỉnh Quảng Đông ngày nay) chỉ có 94.235 miệng ăn, tức là dân số Giao Chỉ đông gấp bảy lần dân số Nam Hải.
    Từ trước đó, những cuộc di dân âm thầm kéo dài trong nhiều trăm năm, có lẽ nhiều hơn, và chỉ bùng nổ để lại dấu vết rất lớn trong lịch sử với cuộc xâm lăng của Thục Phán. Nhờ kỹ thuật chế tác nỏ tinh xảo của xứ Thục, Thục Phán đánh chiếm vùng đất này một cách dễ dàng, nhưng chỉ ít năm sau đó, vì không biết giữ tướng giỏi là Cao Thông và khinh nhờn để gián điệp xâm nhập, đánh cắp kỹ thuật làm nỏ, Thục Phán bị Triệu Đà đánh bại. Từ đó phần đất này là nội thuộc của người phương bắc, mãi cho đến hơn nghìn năm sau, Ngô Quyền mới giành lại được chủ quyền đất nước.
    (Từ lâu, ít nhất là từ giữa thế kỷ XX, nhà Triệu của Triệu Đà đã không được xem là một quốc triều của sử Việt. Điều này đúng, vì Triệu Đà là một tướng Tần, cát cứ ở vùng Hoa Nam dựng lên nước Nam Việt. Nhưng nếu xét từ cùng luận điểm ấy thì nhà Thục của Thục Phán cũng không thể xem là quốc triều, vì Thục Phán là hậu  duệ  của  vua  nước  Thục (vùng Tứ Xuyên ngày nay),  bị  nhà  Tần  chiếm  đất,  chạy  xuống  Hoa  Nam dựng lên nước Tây Âu.)
    Lúc Ngô Quyền lên ngôi vua, mở đầu cho thời kỳ tự chủ của dân tộc, thì giang san của họ Ngô khác xưa nhiều, con người cũng đổi khác, không thuần chủng như xưa mà lai tạp rất nhiều. Duy một điều không khác: tiếng nói! Chính tiếng nói đã định đoạt cho bản sắc dân tộc và xác định họ là ai trong cộng đồng nhân loại.
    Trong bộ sách đồ sộ The History of the Vietnamese/ Lịch sử Người Việt, học giả lỗi lạc người Mỹ K.W. Taylor, khi bàn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đã cho rằng người Việt nguyên thủy – tức là người Lạc sinh sống rải rác trong vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ – nói một thứ ngôn ngữ mà thuật ngữ khoa Nhân chủng học/ Dân tộc học gọi là Proto-Viet-Muong. Ngôn ngữ này là một ngữ chi của ngữ tộc Môn-Khmer, vốn xuất phát từ đồng bằng sông Mã (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) và dần dà thâm nhập ra Bắc. Nhưng cũng có giả thuyết khác cho rằng người Lạc đến từ vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây sông Hồng, họ nói một thứ ngôn ngữ cổ có họ hàng với ngôn ngữ Khmu, một nhánh của Môn-Khmer, mà ngày nay vẫn được các sắc dân thiểu số Bắc Việt Nam và Lào sử dụng. Mặt khác, An Dương Vương Thục Phán và những người Âu (còn gọi là Tây Âu) khi vào chiếm đất đai của người Lạc thì lại nói một thứ tiếng khác, có quan hệ xa gần với ngữ tộc Tai-Kadai. Tiếng này có họ hàng với tiếng Lào và tiếng Thái. Nói chung, tiếng nói của người Lạc lúc đó thuộc ngữ hệ Nam-Á (Austro-Asiatic), khác tiếng Trung nguyên phương bắc vốn thuộc ngữ hệ Hoa-Tạng (Sino-Tibet), thậm chí, nó cũng khác với tiếng nói của các giống  dân  Bách  Việt  khác.  (Thục  Phán  khi đem quân vào  Lạc  Việt  ắt  phải nhờ  thông ngôn mới hiểu người Lạc nói gì.)

Taylor_HistoryVN
    Muốn biết tiếng nói ấy như thế nào, bao nhiêu phần giống, chỗ nào khác với tiếng Việt ngày nay, có lẽ ta nên tìm đến đồng bào Mường. Tại sao? Vì người Mường ngày nay chính là di duệ hoặc một nhánh bà con xa gần với người Lạc, họ còn giữ được ít nhiều phong tục, tiếng nói, tập quán của tổ tiên.
    Ngày nay chúng ta biết cấu trúc và ngữ pháp tiếng Việt khác xa cấu trúc và ngữ pháp tiếng Hán. Điều đáng cho chúng ta suy ngẫm là, vì sao, sau hơn một nghìn năm bị thống trị, bị ép buộc đồng hóa, người Việt không để mất tiếng nói ấy. Trong khi đó, chỉ sau vài ba trăm năm bị người Anglo-Saxon từ lục địa phía nam sang lấn đất, người Celtic (người Anh cổ đại) chỉ còn biết nói tiếng Anglo-Saxon; và gần thời đại chúng ta hơn, người Ireland sau khi bị người Anh đô hộ cũng trong vài ba trăm năm, bây giờ hầu như cả nước chẳng còn ai nói tiếng Ireland. Người thổ dân da đỏ Bắc Mỹ cũng vậy, chỉ sau hơn một trăm năm bị người da trắng khống chế, chẳng mấy ai còn nhớ tiếng nói của tổ tiên mình.
    Có nhiều yếu tố khiến người Việt không bị người Hán đồng hóa dù bị đô hộ trên một nghìn năm, trong đó, yếu tố tiếng nói là quan trọng nhất. Vì không muốn bị đồng hóa nên không để mất tiếng nói, hay vì không bị đồng hóa do những điều kiện ngoại tại khác nên tiếng nói không bị mất? Khảo sát quan hệ nhân quả đó nằm ngoài phạm vi bài viết và cũng nằm ngoài khả năng người viết, vì vậy xin miễn bàn. Điều thú vị là chẳng những người Việt không bị đồng hóa mà cha ông những người phương bắc nhập cư, như Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, vv, lại hội nhập với cộng đồng người Việt, trở thành người Việt, họ đứng lên khởi nghĩa chống lại triều đình phương bắc. Những người như các vị anh hùng này là một bộ phận không nhỏ của dân tộc, nhưng thay vì giữ tiếng nói phương bắc của họ, họ nói tiếng Việt. Họ còn có công phong phú hóa tiếng Việt bằng cách tạo ra rất nhiều từ Hán-Việt. Việc này xảy ra vào thời Đường thuộc, nên cách phát âm tiếng Hán-Việt chính là cách phát âm tiếng Hán thời Đường, rất khác với cách phát âm của người Trung Quốc thời nay.
 
6. Vài cảm nghĩ từ bàn viết lữ thứ
 
Việc kết nối với tổ tiên thông qua ngôn ngữ có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, bởi ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn mang theo ký ức, thế giới quan và bản sắc. Dù chỉ chia sẻ được một bộ phận rất nhỏ của ngôn ngữ đó cũng có thể kết nối bạn với thế giới của tổ tiên mình. Ngôn ngữ thường mã hóa các giá trị văn hóa (ví dụ, các thuật ngữ về quan hệ họ hàng hoặc ẩn dụ gắn liền với đất đai, tâm linh hoặc cộng đồng). Bằng cách chia sẻ ngôn ngữ, bạn tái hiện một phần thế giới tinh thần của họ. Đây không hẳn chỉ là một thao tác ngôn ngữ mà còn là việc tham gia vào cùng một nhịp điệu và hình ảnh mà tổ tiên bạn đã trải qua. Ngay cả khi ý nghĩa nguyên thủy không rõ ràng, có những đứt đoạn, phân mảnh mơ hồ, việc nắm bắt nhịp điệu, âm điệu, cú điệu vẫn có thể mang theo sức nặng cảm xúc. Từ ngữ thông dụng thường lưu giữ những lịch sử đã bị lãng quên. Khám phá nguồn gốc của những từ ngữ này có thể tiết lộ cách tổ tiên bạn nhìn nhận bản thân và thế giới của họ. Việc đặt lại hoặc lấy lại tên tổ tiên cũng là một cách mạnh mẽ để hiện thân cho mối liên kết đó. Ngôn ngữ định hình cử chỉ, biểu cảm, thái độ, thậm chí, cả cách liên hệ với khoảng không nghìn trùng im lặng. Bằng cách nói hoặc lắng nghe ngôn ngữ của tổ tiên, bạn có thể nhận thấy sự thay đổi trong tư thế, nhịp điệu suy nghĩ hoặc âm giọng cảm xúc của mình, gần giống như đang sống trong sự hiện diện của họ. Ngay cả khi bạn chỉ biết những đoạn rời rạc, việc sử dụng ngôn ngữ của tổ tiên trong cuộc sống hằng ngày tạo ra một cầu nối sống động. Một lời chào, cách xưng hô với người lớn tuổi, hoặc gọi tên các món ăn bằng ngôn ngữ đó có thể biến những hành động đời thường thành những nghi lễ tưởng nhớ nho nhỏ. Về bản chất, việc kết nối với tổ tiên thông qua ngôn ngữ không phải là sự thông hiểu tuyệt đối mà là về mối quan hệ. Ngay cả một từ, một lời khấn khứa hay một điệu hát cũng có thể đóng vai trò như sợi chỉ dài xuyên suốt kết nối bạn qua nhiều thế hệ.
    Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn.
    Từ nhận định của giáo sư K.W. Taylor trong bộ sách của ông về người Việt cổ đại, tôi có cảm hứng viết bài này. Đây là một bài tản mạn, không phải một thiên khảo luận, mặc dù đôi lúc tôi có bị sa đà vào những điều tôi thường suy ngẫm. Một trong những điều ấy là, tổ tiên tôi chẳng phải một dân tộc oai hùng gì, họ chẳng để lại một di tích, di chỉ văn minh rực rỡ nào, bốn nghìn năm văn hóa chẳng qua chỉ là một kiểu nói khuôn sáo cũ mòn nhằm vuốt ve tự ái dân tộc, họ chẳng để lại một công trình kiến trúc, thành quách vĩ đại nào, họ chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến sự tiến bộ nói chung của nhân loại, thậm chí, một hệ thống văn tự cũng không có, họ chẳng có một nhân vật kiệt hiệt đầu đội trời chân đạp đất như Đại đế Alexander bên trời Tây hay Tần Thủy Hoàng bên trời Đông, với những chiến tích hiển hách, tên tuổi vang rền cho đến ngày hôm nay. Họ chỉ là những người dân lam lũ cần cù, ngày ngày vắt mồ hôi ngoài đồng ruộng để kiếm miếng ăn. Họ chỉ để lại cho chúng ta vài cái trống đồng trông hay hay, ngồ ngộ. Và tiếng nói.
    Tiếng nói ấy, dĩ nhiên, theo thời gian thay đổi, tiến hóa nhiều, mỗi thời đại đều có những từ mới nhập vào dòng chính và nhiều từ cũ bị đào thải, không mấy ai sử dụng nữa. Cách diễn tả, biểu hiện, cách phát âm chắc cũng đổi khác, nhưng cái cơ bản của tiếng nói, mà Giáo sư Taylor gọi là Proto-Viet-Muong, vẫn ở nguyên đấy; ví dụ ta nói “Mẹ đi chợ về” chứ không nói “Mẹ về từ chợ.” Trật tự thời gian luôn là yếu tố quan trọng trong tiếng Việt. Tiếng Việt cũng không phải một ngôn ngữ chặt chẽ như tiếng Pháp, hơn nữa, nó phải vay mượn gần như toàn bộ từ vựng cho những khái niệm và ý niệm trừu tượng từ tiếng nước ngoài, như tiếng Hán. Nhưng nó tồn tại sau nhiều nghìn năm, mặc dù có thời nó bị ngăn chặn, rẻ rúng, xem thường. Điều gì khiến nó không bị mai một như rất nhiều tiếng nói khác trên thế giới? Như tiếng Aramaic, ngôn ngữ nói của Đức Chúa Giê-su. Đức tin Đức Chúa rao giảng lan tỏa khắp thế gian suốt hơn hai nghìn năm qua, nhưng thử hỏi tiếng nói của Ngài thì còn ai biết nữa không.
    Tôi mong được bạn trả lời cho câu hỏi trên. Trong lúc chờ  đợi  bạn  cho  tôi  câu  trả  lời,  tôi  tiếp tục nói chuyện với  tổ  tiên  tôi bằng thứ tiếng nói tuy bất toàn nhưng lại rất gần gũi với trái tim tôi.
 
-- Trịnh Y Thư
(08/2025)
 
Ghi chú:
 
Cảm tạ Giáo sư Trần Huy Bích và chị Ngọc Dung đã giúp tra cứu nhiều thông tin hữu ích cho tác giả trong bài viết này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó
“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.